Về truyệnLord of Mysteries
Chương 68

Chương 68 · 82 chương

Tháp Chuông Lúc Nửa Đêm

Đường Dharavi, quận Đông.

Klein mặc bộ công nhân màu xanh xám lấm lem bụi, đầu đội mũ lưỡi trai, đi dọc theo con phố mờ tối chỉ có vài cột đèn khí đốt hoạt động.

Ánh nến hắt xuống từ các căn hộ ở hai bên, kết hợp cùng ánh trăng đỏ thẫm phải khó khăn lắm mới lọt qua tầng mây mù, vừa đủ để phác họa bóng người đi đường.

Klein bắt gặp từng tốp người qua đường mặc quần áo tả tơi, ánh mắt trống rỗng và thấm đẫm tuyệt vọng. Đó là những người vô gia cư bị cảnh sát xua đuổi. Không có nơi ngủ, họ đành lang thang vô định trên phố, thỉnh thoảng mới kiếm được một góc khuất người hoặc ghế đá công viên để tranh thủ nghỉ tạm, nhưng chẳng mấy chốc lại bị đuổi đi. Giữa màn đêm âm u lạnh lẽo, Klein thấy họ giống xác sống hơn bất kỳ xác sống nào mà anh từng gặp, còn toàn bộ quận Đông thì giống vực thẳm hơn cả vực thẳm trong truyền thuyết.

Anh hít vội một hơi, khiến cổ họng ngứa rát, không khỏi ho khan vài tiếng. Gạt bỏ những suy nghĩ rối bời, anh liếc nhìn tòa chung cư ở đầu phố, nơi còn hằn rõ dấu vết vụ nổ và chưa được sửa chữa.

“Muốn giám sát hiện trường vụ án thì vị trí tốt nhất và kín đáo nhất chính là chung cư ở đối diện, tầng ba, tầng bốn hoặc sân thượng đều được…” Klein phân tích tình hình bằng kiến thức học được từ Kẻ Gác Đêm. Anh cũng giữ nguyên tốc độ bước trong suốt quá trình này để tránh bị hoài nghi.

Đến đầu phố, Klein đi ngang qua chung cư số 1 rồi tiến thẳng vào ngôi nhà đối diện.

Anh chẳng lạ gì những nơi như thế. Căn hộ hiệu suất mà anh thuê ở quận Đông cũng nằm trong một ngôi nhà tương tự. Hồi còn ở Tingen, anh cùng anh trai Benson và em gái Melissa từng có một thời gian sinh sống khá dài trong căn hộ chỉ tốt hơn đây chút đỉnh. Sự quen thuộc này đến từ trải nghiệm cá nhân của anh, cũng bắt nguồn từ mảnh vỡ ký ức của nguyên chủ.

Vừa nghĩ, Klein vừa kéo thấp vành mũ, cúi đầu, giữ tốc độ nhịp nhàng khi đặt chân lên những bậc thang gỗ kêu cót ca cót két dẫn đến tầng ba.

Vì sự cố đen đủi lúc chập tối, Klein hiện không còn súng lục, đành đút một tay vào túi áo, kẹp sẵn vài lá Tarot giữa các kẽ ngón tay.

Hành lang tầng ba chỉ có chút ánh trăng. Klein không vội đi tiếp mà cẩn thận quan sát bố cục. Phía bên trái đối diện với hiện trường vụ án, góc quan sát tốt nhất hẳn là căn phòng thứ ba tính từ đây…

Klein rón rén tiến lên. Đi qua hai căn phòng, anh đút nốt tay phải vào túi, khẽ khàng mở hộp đựng thuốc lá bằng sắt. Ngay khi ngón tay anh chạm vào [Con Mắt Đen Kịt], bên tai lập tức vang lên những tiếng thì thầm điên cuồng xé toạc tinh thần và làm nổ tung đầu óc.

Đồng thời, nhờ vật phẩm bị ô nhiễm này, Klein nhìn thấy những sợi dây mảnh màu đen kỳ lạ. Chúng lơ lửng trong không khí, có chỗ đan xen, có chỗ vướng vào nhau, nhưng nếu để ý quan sát thì vẫn biết được sợi nào của ai.

Những hình bóng tương ứng đập thẳng vào bộ não như bị “nung chảy” của Klein. Đàn ông, đàn bà, trẻ em đang ngủ giường tầng cùng một số người thuê nhà nằm dài trên sàn. Ngoài ra không có gì bất thường, cũng không có kẻ nào ẩn nấp.

Klein lập tức rút tay về, tránh tiếp xúc trực tiếp với [Con Mắt Đen Kịt]. Ảo giác trong tâm trí cùng ảo thanh bên tai dần tan biến.

Anh chịu đựng cơn đau, tiếp tục di chuyển về phía trước. Đợi đến khi cơn đau dịu đi đôi chút, anh lại quan sát những căn phòng khác. Tiếc là anh đã lục soát hết các vị trí nhìn được sang hiện trường bên kia, nhưng chẳng tìm thấy gì.

Hô, hô… Klein nép người vào góc ban công, hai tay chống gối, thở hồng hộc. Nước mắt nước mũi chảy giàn giụa trên mặt, trông như người vừa phát bệnh cấp tính.

Đây là hậu quả khi thường xuyên tiếp xúc với [Con Mắt Đen Kịt] trong thời gian ngắn. Dù Klein đã có sức đề kháng, anh vẫn không thể miễn nhiễm hoàn toàn. May mà nó chỉ là những kích thích tạm thời chứ không phải ô nhiễm. Bằng không, anh đã sớm bỏ cuộc và không dám thử lại. Vì làm thế sẽ khiến anh điên ngay.

Sau một hồi nghỉ ngơi, Klein mới lấy lại trạng thái bình thường. Anh đổi sang một tòa chung cư khác có tầm nhìn kém thuận lợi hơn, nhưng kết quả vẫn là con số không.

Chẳng lẽ mình đoán sai? Manh mối nằm ngay tại hiện trường vụ án? Klein quay lại đường phố, nhìn chung cư hằn vết nổ bằng ánh mắt nghi hoặc.

Với thái độ thử xem sao, anh lại cho tay vào túi, ngón tay bật nắp rồi luồn vào trong hộp thuốc lá bằng sắt, định bụng kiểm tra xem có ai đang nấp trong các lối ra vào ngôi nhà không.

Ầm! Đầu Klein ong ong như bị búa đập trúng, người hơi lảo đảo. Anh loạng choạng bước đi như một tên say rượu, hướng mắt về phía tòa chung cư hằn vết nổ.

Vì khoảng cách quá xa, anh không thể thấy rõ từng sợi dây đen mảnh, cũng chẳng thể lần ngược về gốc để tìm ra chủ nhân của chúng, đành cố phân biệt xem khu vực nào có nhiều sợi dây tụ lại - dấu hiệu chứng tỏ nơi ấy có người.

Không có, không có, không có… Klein lướt mắt qua từng khu vực và đưa ra phán đoán sơ bộ. Đột nhiên, anh phát hiện những sợi dây mảnh màu đen bay ra từ hiện trường vụ án ở tầng ba và vươn lên không!

Hả… Đồng tử Klein thu nhỏ. Anh xác nhận một lần nữa rồi rụt tay về, ngừng tiếp xúc với [Con Mắt Đen Kịt].

Trong căn phòng bị nổ tung có người!

Tên hung thủ kia điên rồ đến mức dám nán lại hiện trường đợi người đến điều tra? Hắn không sợ gặp phải những Kẻ Phi Phàm thuộc biên chế tiện đường ghé qua tra án à? Lúc nãy mình đã đoán sai, tìm mãi không thấy hắn, hóa ra là vì logic của người thường và kẻ điên hoàn toàn khác biệt…

Hàng loạt suy nghĩ nhoáng qua. Klein từ từ thở ra một hơi, vờ như chẳng có chuyện gì, vòng một vòng rồi đến trước cửa tòa nhà. Lúc này, các triệu chứng khó chịu cũng hoàn toàn biến mất.

Anh kiểm soát nét mặt và ngôn ngữ cơ thể, đi lên tầng ba một cách tự nhiên như thể trở về nhà, bước chân vội vàng lộ ra chút nặng nề do mệt mỏi.

Trong hành lang tối tăm, anh thấy ngay căn phòng mất cửa, tường đổ sập quá nửa, rồi thản nhiên đi về phía nhà vệ sinh chung. Khi anh đến gần căn phòng đó, bàn tay vẫn luôn đút trong túi áo lại chạm vào [Con Mắt Đen Kịt].

Tiếng thì thầm như muốn xẻ đôi đầu óc anh cùng vô số ảo ảnh chập chờn quay trở lại. Klein thoáng thấy những sợi dây hư ảo vươn ra từ hiện trường vụ án. Lần theo đến gốc rễ, anh phát hiện một gã đàn ông hòa lẫn với bóng tối, hào quang cũng có màu đen đặc.

Gã này cao tới gần hai mét, khóe miệng hơi trễ xuống, toát lên vẻ xa cách. Đôi mắt gã tựa thú hoang, ánh nhìn lạnh lẽo bộc lộ sự hung tàn.

Không phải Lanevus… Klein rút tay, thả lỏng người. Anh giữ vẻ mặt bình thản như không biết đến ánh mắt theo dõi mình, bước thẳng đến cuối hành lang, tiến vào nhà vệ sinh chung mà không làm gã đàn ông kia nghi ngờ.

Nhà vệ sinh nằm ở hướng ngược lại với hiện trường vụ án. Anh lau mồ hôi lạnh, vừa thấy hơi dễ chịu liền lập tức trèo ra ngoài cửa sổ, thoăn thoắt leo xuống dưới rồi nhanh chân rời khỏi đây, không dám nấn ná thêm một giây nào.

Anh biết chỉ trong ít phút nữa, gã đàn ông kia sẽ nhận thấy kẻ đi vệ sinh không quay trở lại và cảnh giác đuổi theo, nên phải mau chóng rời khỏi phố Dharavi.

Thực ra Klein rất muốn quay lại đường cũ, ngặt nỗi anh chẳng biết mình có thể chui vào phòng nào, làm thế lộ tẩy như chơi.

“Tên Hề” chạy như bay, lượn một vòng lớn rồi mới đến căn hộ hiệu suất mà anh đã thuê ở quận Đông. Sau đó, anh lập tức leo lên trên sương xám để chắc chắn mình không bị bám đuôi.

Hẳn gã có mối liên hệ mật thiết nào đó với Lanevus… Klein trầm ngâm một lát, đoạn tái hiện bức chân dung của gã và sử dụng ý niệm để truyền nó đến ngôi sao đỏ thẫm tượng trưng cho tiểu thư “Công Lý”.

Tiếp theo, anh cất giọng trầm thấp đầy uy nghiêm, “Manh mối.”

……

Kết thúc buổi tụ họp được tổ chức trong tòa giảng đường sắp bị bỏ hoang của trường Y, Audrey đi đường vòng để ra ngoài. Bỗng, nàng ngẩn ngơ, trông thấy màn sương xám đậm đặc quen thuộc cùng bóng người mờ ảo ngự trên cao.

“Manh mối.”

Đi kèm với chất giọng trầm thấp của ngài “Kẻ Khờ” là một hình ảnh rõ nét như ảnh chụp, thậm chí còn là ảnh màu!

Một gã đàn ông vận áo giáo sĩ đen, có thân hình không quá vạm vỡ nhưng cao tới gần hai mét đang đứng trong bóng tối. Mái tóc mềm mại hơi xoăn màu vàng nhạt, đôi mắt nâu sẫm lạnh nhạt thấp thoáng vẻ hung tàn. Khóe miệng hơi rủ xuống khiến gã không khác gì một con sói cô độc hung ác.

Manh mối? Manh mối về vụ nổ ở phố Dharavi quận Đông và vụ chết đuối của Gavin? Đây là hung thủ sao? Audrey giật mình, tức khắc bừng ngộ.

Ngài “Kẻ Khờ” tìm ra manh mối nhanh vậy… Ngài thật lợi hại, không, là vạn năng mới đúng… Thầm cảm thán một câu, nàng quay sang nhìn Fors bên cạnh.

Fors đã tháo khẩu trang và cởi mũ phẫu thuật. Vừa ngồi vào xe ngựa, cô nhận thấy ánh mắt là lạ của tiểu thư Audrey, bèn thắc mắc hỏi, “Mặt tôi dính gì à?”

“Không có gì.” Audrey nhìn sang chỗ khác, ngồi xuống cạnh đó rồi từ tốn gỡ bỏ lớp ngụy trang.

Fors nhớ lại buổi tụ họp vừa diễn ra và tò mò hỏi, “Tiểu thư Audrey, sao cô không hỏi mua công thức ‘Khán Giả’? Như vậy cô mới có cơ hội bắt liên lạc với Hội Giả Kim Tâm Lý chứ.”

Cô nhớ rõ tiểu thư Audrey luôn hào phóng đã giữ im lặng gần như cả buổi, phần lớn thời gian chỉ ngồi nghe, thi thoảng bán vài nguyên liệu chứa linh tính rồi lại mua vài thứ khác.

Audrey mỉm cười, “Đây là lần đầu tiên tôi tham gia vòng tròn này, nên tôi nghĩ quan sát và chờ đợi sẽ tốt hơn. Đúng là tôi rất muốn có được công thức ma dược, cũng rất hứng thú với những vật phẩm thần kỳ, nhưng tôi tự nhủ không cần phải vội, cứ làm quen trước rồi hẵng hành động mới là cách hay.”

Đây là thói quen nghề nghiệp của Con Đường “Khán Giả”. Với cả hôm nay cũng đâu có nguyên liệu phi phàm như dịch tủy của Báo Đen Vằn Tà hay tinh thể tủy Suối Tiên mà anh “Thế Giới” yêu cầu…. Audrey lặng lẽ bổ sung.

Fors nhìn thiếu nữ chưa đầy mười tám tuổi, cảm thấy nàng ta trưởng thành hơn bao giờ hết. Cô bỗng nở nụ cười tự giễu, “Phải chi lúc trước tôi cũng được như cô thì đã chẳng phí phạm cơ hội quý báu rồi.”

Audrey đáp lại bằng nụ cười dè dặt rồi nói, “Sáng mai tôi sẽ hỏi vài người bạn đặc biệt xem họ có manh mối gì về vụ nổ ở phố Dharavi không. Cô và Xio cứ đợi tin ở chỗ cũ nhé.”

“Được.” Fors gật đầu không chút nghi ngờ.

…..

Klein đã ngủ lại căn hộ hiệu suất ở phố Cọ Đen thuộc quận Đông thay vì về thẳng phố Minsk ngay trong đêm.

Anh sợ nghi phạm giết người mặc áo giáo sĩ đen kia còn có đồng bọn và đang lùng sục khắp nơi để tìm kiếm mình. Dù xác suất chạm mặt không cao, lại thêm lớp hóa trang che đậy, đối phương chưa chắc nhận ra anh, nhưng quẻ bói đã cảnh báo vẫn có rủi ro. Thế nên anh quyết định nghỉ tạm một đêm ở quận Đông cho chắc.

Trời vừa tờ mờ sáng, Klein thay bộ quần áo công nhân màu xanh đậm khác, đội mũ cát két màu nâu nhạt, rời khỏi phòng, đi xuống cầu thang rồi bước ra đường.

Lúc này lớp sương vàng nhạt bao phủ tứ phía, che mờ những bóng người đi tới đi lui. Cái lạnh âm u của sáng sớm thấm qua quần áo. Klein cúi đầu, sải bước, trông hệt như bao người dậy sớm đi làm quanh đó.

Đang đi, anh nhìn thấy phía trước có một người đàn ông chừng bốn, năm mươi tuổi, tóc muối tiêu, mặc chiếc áo khoác dày, đang run rẩy dậm chân tại chỗ, tay lẩy bẩy móc ra một điếu thuốc và một bao diêm gần hết từ túi áo trong.

Vừa mở bao diêm, tay phải ông ta bỗng run lên, điếu thuốc nhăn nhúm rơi xuống đất, lăn đến chân Klein. Anh dừng bước, tiện tay nhặt lên và đưa cho ông ta.

“Cảm ơn, cảm ơn cậu! Đây là bạn chí cốt của tôi đấy, chẳng còn mấy điếu đâu.” Người đàn ông luống tuổi rối rít cảm ơn, nhận lấy điếu thuốc.

Mặt ông ta tái xanh, bộ râu trông như thể đã lâu không cạo, nét mệt mỏi hiện rõ trên lông mày và khóe mắt. Ông ta than thở thêm một câu, “Lại một đêm không ngủ rồi, chẳng biết tôi còn trụ được bao lâu nữa. Xin Chúa phù hộ cho con được vào trại tế bần hôm nay.”

Một kẻ lang thang bị xua đuổi… Klein buột miệng, “Tại sao nhà vua với các đại thần không cho các ông ngủ ở công viên?”

“Ai mà biết được? Nhưng ngủ ngoài trời trong cái thời tiết này thì có khi ngủ luôn không bao giờ dậy được nữa. Ban ngày vẫn tốt hơn. Ít ra còn tìm được chỗ ấm áp hơn chút. Than ôi, mà thế thì tôi chẳng có thời gian hay sức lực để tìm việc nữa.” Người đàn ông luống tuổi châm thuốc rồi rít một hơi thật sâu, có vẻ nhờ đó mà lấy được chút tinh lực. Ông ta bước song song với Klein, không biết là muốn tiến sâu hay đi đến điểm cuối của màn sương mù.

Klein không có ý định tán gẫu, định tăng tốc để thoát khỏi ông ta. Đột nhiên, anh thấy người đàn ông luống tuổi ăn nói lưu loát đó cúi xuống, nhặt một thứ đen sì từ dưới đất lên, hình như là một lõi táo đã bị gặm sạch sẽ.

Người đàn ông luống tuổi nuốt khan, nhét phần lõi bẩn thỉu dính đầy bùn đất vào miệng, nhai rau ráu rồi nuốt chửng, không chừa lại thứ gì.

Trước ánh mắt ngỡ ngàng của Klein, ông lau miệng, nhún vai và cười chua chát, “Tôi nhịn đói gần ba ngày rồi.”

Những lời này bỗng giáng mạnh vào tâm trí Klein, khiến anh xúc động khó tả. Anh khẽ thở dài rồi mỉm cười, “Xin lỗi, tôi chưa kịp giới thiệu. Tôi là phóng viên, đang thực hiện một phóng sự về người vô gia cư. Tôi phỏng vấn ông được không? Chúng ta vào quán cà phê đằng kia nhé.”

Người đàn ông thoáng khựng lại rồi cười ngay, “Không thành vấn đề, trong đó ấm hơn ngoài đường nhiều. Nếu phỏng vấn xong mà cậu chịu nán lại thêm một lát cho tôi ngủ nửa tiếng, à không, mười lăm phút thôi thì tốt quá.”

Klein há miệng, không biết trả lời thế nào, đành im lặng dẫn “đối tượng phỏng vấn” vào quán cà phê bình dân ngay đầu phố.

Bàn ghế trong quán bám đầy dầu mỡ. Nhờ kín gió kín tường nên trong quán ấm hơn hẳn ngoài trời, khá là đông khách.

Người đàn ông luống tuổi gãi cổ, cố che giấu yết hầu giần giật trước mùi thức ăn thơm nức.

Klein ra hiệu cho ông ta ngồi xuống rồi đi tới quầy gọi món. Anh gọi hai cốc trà lớn, một đĩa thịt cừu non hầm đậu ngọt, hai ổ bánh mì, hai lát bánh gối, một phần bơ rẻ tiền và một phần bơ thực vật, mất 17 Penny rưỡi.

“Ăn đi, no bụng mới phỏng vấn được.” Khi đồ ăn sẵn sàng, Klein bưng chúng về bàn.

“Cho tôi á?” Người đàn ông luống tuổi hỏi, giọng ngạc nhiên pha lẫn mong đợi.

“Ngoại trừ một lát bánh gối và một cốc trà ra thì còn lại là của ông.” Klein cười đáp.

Người đàn ông luống tuổi quẹt mắt, giọng nghẹn ngào, “Cậu… cậu thật tốt bụng.”

“Nhịn lâu rồi thì ăn từ từ thôi.” Klein dặn dò.

“Tôi biết, tôi có ông bạn già đã chết kiểu đó.” Người đàn ông luống tuổi cố gắng ăn chậm, thỉnh thoảng lại nâng cốc trà lên uống vài hớp.

Klein ăn hết lát bánh gối, lẳng lặng nhìn đến khi đối phương ăn xong.

“Phù, ba tháng, à không, nửa năm rồi tôi mới được no thế này. Trại tế bần chỉ cấp vừa đủ ăn thôi.” Một lúc sau, người đàn ông luống tuổi đặt thìa xuống, đĩa trước mặt đã được vét sạch.

Klein giả vờ là phóng viên thuận miệng hỏi, “Sao ông lại trở thành người vô gia cư?”

“Chuyện xui rủi ấy mà. Tôi vốn là một công nhân có tay nghề khá, có vợ và hai đứa con kháu khỉnh, đủ nếp đủ tẻ. Nhưng mấy năm trước, một căn bệnh truyền nhiễm đã cướp đi tất cả. Tôi phải nằm viện một thời gian dài, mất việc, mất tiền, mất cả gia đình. Từ đó trở đi, tôi thường xuyên thất nghiệp, không có tiền thuê nhà, không có tiền ăn, đành đi lang thang khắp các con phố, công viên, vì thế mà sức khỏe tôi cũng yếu dần, càng khó tìm được việc hơn…” Người đàn ông luống tuổi kể bằng giọng chết lặng pha chút hoài niệm và bi thương.

Ông nhấp một ngụm trà, thở dài rồi nói tiếp, “Tôi chỉ còn cách chờ cơ hội vào trại tế bần. Mà cậu biết đấy, trại nào cũng chỉ nhận một số lượng người nhất định. Nếu may mà xếp hàng kịp thì tôi sẽ được sống tử tế trong vài bữa, lại sức một chút rồi đi kiếm việc làm tạm. Ừ, tạm thôi. Chẳng mấy chốc, tôi sẽ lại thất nghiệp, lại quay về cái vòng luẩn quẩn ban đầu.

“Tôi không biết mình chịu đựng được bao lâu nữa… Lẽ ra tôi có thể trở thành một công nhân tốt.”

Klein ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi, “Ông còn mấy điếu?”

“Không nhiều.” Người đàn ông luống tuổi cười chua xót, “Đây là tài sản cuối cùng của tôi, là thứ duy nhất còn sót lại sau khi tôi bị chủ nhà đuổi cổ. À, vào trại tế bần thì không được mang theo đâu, tôi sẽ phải giấu thật kỹ trong đường may quần áo, lúc khó khăn nhất thì lấy ra hút một điếu để mình còn cái mà hy vọng, tôi không biết tôi có thể cầm cự được bao lâu nữa. Tôi nói cậu nghe, hồi xưa tôi từng là một công nhân giỏi đấy.”

Klein không phải phóng viên chuyên nghiệp, đột nhiên không biết phải hỏi gì.

Anh chuyển sang nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy từng gương mặt lộ rõ vẻ đói khát. Những người còn tỉnh táo là cư dân quận Đông. Những ai đã tê dại, kiệt sức đến mức không giống người là kẻ vô gia cư.

Hai loại người này chẳng khác nhau là mấy. Người trước rất dễ biến thành người sau. Chẳng hạn như người đàn ông trước mặt… Klein quay đầu thì thấy người đàn ông luống tuổi đã thiếp đi, cơ thể cuộn tròn trên ghế.

Sau vài phút im lặng, Klein mới lay ông ta dậy, đưa cho ông vài đồng Penny, “Đây là phí phỏng vấn.”

“Hả, ơ, cảm ơn, cảm ơn!” Người đàn ông luống tuổi nhất thời không lấy lại tinh thần, đến khi Klein ra cửa mới lớn tiếng nói, “Tôi sẽ tìm một nhà nghỉ bình dân để tắm rửa, ngủ một giấc ngon lành rồi kiếm việc để làm.”

……

Buổi trưa, Klein đến dự bữa tiệc có mười khách mời tại nhà Sammer.

Bữa tiệc có bò bít tết rưới nước sốt táo, gà quay, cá chiên, xúc xích, súp kem, vô số món ngon cùng hai chai sâm panh và một chai vang đỏ.

Trên đường trở về từ nhà vệ sinh, anh gặp bà Stelyn Sammer, bèn chân thành cảm ơn, “Bữa trưa thịnh soạn quá, cảm ơn ông bà đã chiêu đãi.”

“Tổng cộng hết 4 Bảng 8 Soli. Ba chai rượu kia là đắt nhất, nhưng chúng đều thuộc bộ sưu tập của Luke, ông nhà tôi có cả một tủ rượu đấy.” Bà Stelyn xinh đẹp mỉm cười đáp lại.

Không đợi Klein mở miệng, bà ta đã nói tiếp, “Riêng vụ của Mary đã giúp anh kiếm được 10 Bảng rồi. Với cái đà này thì chẳng mấy chốc anh sẽ tổ chức được những bữa tiệc tương tự thôi. Tầng lớp như chúng ta thì tháng nào cũng phải có một lần mời bạn bè rồi bạn bè mời lại mới được.”

Đã quá quen với phong cách của đối phương, Klein liền khách sáo tâng bốc đôi câu, “Vâng, nhưng chắc tôi phải đợi đến khi thu nhập hàng năm ổn định ở mức 400 Bảng thì mới như ông bà được.”

Stelyn lập tức hất nhẹ cằm, cố nở nụ cười xã giao, “430 Bảng, phải là 430 Bảng cơ.”

……

Khu bến cảng, ụ tàu Đông Balam, quán rượu Liên đoàn Công nhân.

Xio đi đôi bốt độn đế cao, dán thêm bộ ria mép rậm rạp, ngụy trang thành một gã đàn ông thấp bé.

Cô nhớ lại bức chân dung do tiểu thư Audrey cung cấp, cố gắng khắc sâu dung mạo gã nghi phạm giết người vào đầu. Nếu Williams cũng chết trong tay gã thì rất có thể gã là khách quen của quán rượu này…

Xio gọi một cốc bia lúa mạch đen và một suất cơm trưa rồi nép vào một góc, chậm rãi nhấm nháp, thi thoảng lại lén lút quan sát xung quanh để tìm kiếm mục tiêu.

Một lúc sau, cửa quán rượu lại bị đẩy ra. Xio nhìn sang theo phản xạ. Vừa trông thấy người bước vào, đồng tử của cô đã thu hẹp thành đầu kim, người suýt biến thành đá.

Người khách đó cao gần hai mét!

Xio đã lăn lộn nhiều năm trong giới thợ săn tiền thưởng, nhờ đó mà tay chân vẫn tự động phản ứng khi đầu óc còn chưa kịp nghĩ ngợi.

Thấy người khách cao gần hai mét kia bước vào, cô lập tức cúi xuống, tiếp tục nhai xúc xích lợn và khoai tây chiên như thể không có chuyện gì xảy ra.

Món ăn tiến vào miệng nhưng Xio không nếm ra vị nào với vị nào. Cô nhẫn nại trong vài giây rồi mới chậm rãi ngẩng đầu lên, giả vờ lơ đãng nhìn quanh một lượt. Rất nhanh, cô thấy người khách mới đã ngồi trước quầy bar, đang chờ đợi bữa trưa và rượu.

Mái tóc mềm mại hơi xoăn màu vàng nhạt, đôi mắt nâu sẫm tựa dã thú, khóe miệng hơi trễ xuống, khí chất cô độc mà hung tàn… Từng chi tiết tiến vào mắt Xio, dần trùng khớp với hình ảnh trong tâm trí cô.

Là gã!

Chính là kẻ bị tình nghi sát nhân.

Kẻ đã sát hại Williams!

Xio lại cúi xuống, chậm rãi nhét nốt phần thức ăn còn thừa vào miệng. Vài phút sau, cô đặt cả khay lẫn cốc bia lên quầy bar, giữ cho mắt nhìn thẳng và rời khỏi quán rượu Liên đoàn Công nhân mà không hề ngoái lại.

Nhờ đôi bốt độn đế cao, cô đã thành công che giấu được đặc điểm nhận dạng dễ thấy nhất của mình.

Ra đến ngoài, Xio đi chậm lại, tìm một góc khuất để quan sát những người ra vào quán rượu. Sau một hồi chờ đợi, cô cuối cùng cũng bắt gặp một gương mặt quen thuộc, một kỹ thuật viên tên Burton sống ở quận Đông và làm việc ở ụ tàu Đông Balam.

Thanh niên này có thói quen tự thưởng cho mình một cốc bia lúa mạch đen kém chất lượng vào buổi trưa hoặc chiều. Đồng lương ít ỏi của hắn chỉ đủ để mua loại bia rẻ tiền ấy, và không phải ngày nào cũng uống.

Xio nhanh nhẹn bước tới, vỗ vai Burton rồi hạ giọng, “Tôi đây, Xio đây.”

“Xio?” Burton nhìn người đàn ông thấp bé vừa xuất hiện sau lưng mình từ đầu đến chân, gần như không nhận ra đây chính là “Trọng Tài” Xio Derecha có tiếng trong một số khu phố ở quận Đông.

“Tôi có chuyện muốn hỏi anh.” Xio chỉ tay vào góc khuất gần đó.

Burton ngờ vực đi theo, đến chỗ kín đáo mới vỡ lẽ, “Cô đang làm nhiệm vụ săn tiền thưởng đấy à?” Hắn nghe nói Xio còn kiêm chức thợ săn tiền thưởng.

“Ừ.” Xio gật đầu cho qua chuyện, móc ra năm đồng 1 Penny, đoạn tung hứng trên tay, “Anh biết gã đàn ông rất cao trong quán rượu không?”

“Ý cô là cái gã cao to, tóc vàng nhạt, trông bặm trợn ấy hả?” Burton huơ tay.

“Phải.” Xio lập tức lấy ra một bức chân dung gấp gọn rồi mở ra, “Anh phải chắc chắn đấy.”

“Đúng là gã rồi. Hai ba tháng nay gã thường lui tới quán rượu này, trước đây thì tôi chưa gặp bao giờ. Tên này dữ lắm, chẳng biết lý lẽ là gì đâu, còn rất giỏi đánh lộn. Cô đừng dây vào gã thì hơn.” Burton nhìn đi nhìn lại bức chân dung vài lần rồi chân thành khuyên nhủ.

Ừm, khi chạm mặt gã đó, mình có cảm giác y như hồi nhỏ đụng phải thú dữ. Rất nguy hiểm, không thắng nổi, cần lập tức tránh xa… Xio thở mạnh, hỏi, “Anh biết gã thân thiết với ai không?”

“Không, thằng cha đó sống khép kín, kiệm lời lắm, thậm chí chẳng ai biết tên, đến biệt danh ‘Gã Khổng Lồ’ của gã cũng là do chính chúng tôi đặt cho đấy.” Burton bĩu môi lắc đầu.

Xio suy nghĩ một lúc rồi hỏi, “Ngoài quán rượu ra thì anh còn thấy hắn ở đâu nữa không? Anh có thể đi hỏi bạn bè câu tương tự, nhớ là chỉ được hỏi những ai đáng tin cậy thôi nhé.”

Burton nhớ lại, “Lúc đến công đoàn công nhân bến cảng để làm việc, ừ, cái công đoàn ở ụ tàu Đông Balam ấy, thỉnh thoảng tôi lại thấy gã lảng vảng quanh đó.

“Xio, hay là cô tham gia công đoàn đi? Cô rất công tâm, trong khi bọn đấy thì không những thu 1 Soli 6 Penny hội phí hàng tuần; mà còn bắt nộp một nửa tiền lương mỗi khi các ụ tàu khác đình công, chẳng màng việc chúng tôi phải đi làm vì miếng cơm manh áo.

“Lạy Chúa tôi, chuyện đó đã đành, vì cuộc sống tốt đẹp hơn, chúng ta phải tương trợ lẫn nhau. Nhưng đằng này, chúng mới hô hào đình công xong, quay đi quay lại đã bắt tay thỏa thuận với mấy tên luật sư của đám nhà giàu rồi. Tình cảnh của bọn tôi có được cải thiện tí nào đâu!”

“Dừng, dừng.” Xio phẩy tay phải rồi nói, “Ngoài chỗ đó ra thì anh không gặp ‘Gã Khổng Lồ’ đó ở đâu khác à?”

“Không, bạn bè tôi chắc cũng thế thôi, bọn tôi kháo nhau về gã suốt mà.” Burton khẳng định.

Xio không hỏi thêm, đưa năm đồng 1 Penny cho đối phương, “Mời anh một ly. Đừng kể cho ai chuyện tôi vừa hỏi nhé. Nguy hiểm lắm.”

Vừa dứt lời, cô đã xoay người rời khỏi góc khuất, đi về phía công đoàn công nhân bến cảng ở ụ tàu Đông Balam.

Khoảng mười phút sau, Xio thấy được ngôi nhà hai tầng màu vàng. Cô lộn trái chiếc áo khoác vải buồm đang mặc, để lộ những miếng vá bên trong, lập tức biến mình từ công nhân thấp bé thành kẻ lang thang.

Nhìn đám người vô gia cư co ro ở góc phố, Xio bịt mũi rồi đi đến ngồi xuống cùng họ, ánh mắt thi thoảng lại lướt qua công đoàn công nhân bến cảng ở phía bên kia đường mỗi lần có người vào kẻ ra.

Từng giây từng phút trôi qua, Xio cắn răng chịu đựng những cơn gió lạnh buốt và môi trường bẩn thỉu, kiên trì quan sát tình hình ở công đoàn và khu vực lân cận.

Cô nhớ rõ chuyện Williams khăng khăng đòi uống rượu, nhớ cả tâm trạng của mình khi đọc được tờ báo ngày hôm đó. Những cảm xúc ấy khiến cô trở nên kiên nhẫn hơn bao giờ hết.

Lúc này, một nhóm người bước ra từ công đoàn bến cảng, tạo thành tốp ba tốp năm kéo sang quán cà phê bên kia đường để ăn trưa. Xio nheo mắt nhìn kỹ từng gương mặt ngang qua.

Không có ai khả nghi… Xio định rời mắt, chờ nhóm tiếp theo.

Cửa quán cà phê mở ra với một tiếng két, hơi nóng bên trong ùa ra ngoài. Một người đàn ông buộc phải tháo kính gọng vàng, lau hơi nước bám trên kính bằng ống tay áo.

Xio lơ đễnh nhìn thoáng qua, mắt bỗng trợn to.

Đôi mắt ấy!

Khóe miệng đó!

Cái vẻ lúc nào cũng cười cợt châm biếm đó!

Lanevus? Xio ngoảnh phắt đi, không dám nhìn tiếp.

Người đàn ông kia có nước da màu đồng, tóc húi cua, gương mặt góc cạnh khác xa bức chân dung, vậy mà cặp mắt và khóe miệng lại gợi cho cô cảm giác quen thuộc, chính là cái vẻ mỉa mai nhạo báng tất thảy mọi người ấy!

Là Lanevus sao? Có phải hắn không? Xio cúi gằm, nhìn chằm chằm mặt đường lát đá.

…..

Tại nhà Sammer, sau bữa trưa thịnh soạn, chủ và khách tụ tập ở phòng sinh hoạt chung để trò chuyện, rủ nhau lát nữa sẽ chơi Texas Hold’em.

Những tin đồn thú vị và mấy câu chuyện hài hước khiến không khí rôm rả hơn hẳn. Klein luôn giữ nụ cười trên môi, thi thoảng lại chêm vài câu, mắt dõi theo hai đứa trẻ hiếu động của nhà Sammer chạy ra chạy vào. Ngồi bên cạnh anh là Jürgen Cooper. Anh ta vẫn giữ vẻ mặt nghiêm nghị như thường lệ, đôi lúc đưa ra vài ý kiến pháp lý cho cuộc thảo luận.

Klein mỉm cười, hơi nghiêng người và hạ giọng hỏi, “Anh thấy chán à?”

“Không, mấy chuyện họ nói rất thú vị.” Jürgen nghiêm túc gật đầu.

Klein ngẩn ra, buột miệng hỏi, “Thế sao anh không cười?”

Jürgen hơi chau mày, nhìn anh đầy thắc mắc, “Sao tôi phải cười chứ?”

“…” Khóe miệng Klein giần giật, không biết phải đáp lại thế nào.

Anh đang định trêu Jürgen y chang con mèo Brody nhà họ, mặt mũi lúc nào cũng nghiêm túc thì đột nhiên nghe thấy tiếng cầu nguyện mơ hồ và dồn dập.

Giọng nữ… Tiểu thư “Công Lý” tìm được manh mối hữu ích từ thông tin mình cung cấp rồi à? Nhanh vậy… Klein đứng lên, hơi khom người, “Tôi đi vệ sinh nhé.”

Tiến vào nhà vệ sinh, Klein chốt cửa, đi ngược bốn bước, tới không gian phía trên màn sương xám. Phán đoán của anh hoàn toàn chính xác, lời cầu nguyện đến từ tiểu thư “Công Lý”.

Klein bỗng căng thẳng. Với tâm trạng vừa háo hức vừa lo âu, anh lan tỏa linh tính để lắng nghe.

Niệm xong những câu tôn danh quen thuộc, “Công Lý” trần thuật, “Họ đã tìm thấy manh mối ngài cung cấp ở quán rượu Liên đoàn Công nhân thuộc ụ tàu Đông Balam, đối phương có biệt danh là ‘Gã Khổng Lồ’. Khi lần theo hành tung của ‘Gã Khổng Lồ’, họ còn phát hiện một kẻ nghi là Lanevus tại công đoàn bến cảng ở ụ tàu Đông Balam, nhưng không thể khẳng định.

“Do ‘Gã Khổng Lồ’ rất mạnh và nguy hiểm, họ tạm thời không dám tiếp cận Lanevus, đành phải tiếp tục chờ đợi cơ hội. Họ cũng muốn hỏi, nếu xác nhận đối phương đúng là Lavenus, họ có thể báo cho Sở Cảnh sát để nhận tiền thưởng không?”

Lavenus có một đồng bọn rất mạnh và nguy hiểm… Hắn còn đồng bọn nào khác? Có phe phái nào chống lưng cho hắn không? Tại sao hắn lại giết người một cách cực đoan như vậy? Hắn đang ấp ủ âm mưu nào trong công đoàn bến cảng? Hàng loạt câu hỏi vụt qua tâm trí Klein, khiến anh cảm thấy sự việc phủ đầy sương mù, phức tạp hơn dự tính rất nhiều.

Về yêu cầu cuối cùng, đáp án của anh chắc chắn là đồng ý, thậm chí anh còn định khuyên đối phương trực tiếp thông báo cho Giáo hội Nữ Thần Đêm Đen, vì phía cảnh sát rất dễ làm lộ tin.

Để Kẻ Gác Đêm trực thuộc Giáo hội Nữ Thần giết Lanevus cũng là một cách báo thù! Klein thầm nhủ, lòng trào dâng một thôi thúc mãnh liệt, muốn lập tức đi xác nhận xem kẻ đó có phải Lanevus không, tránh đêm dài lắm mộng. Anh hít sâu một hơi, đè nén cảm xúc, tháo con lắc trên cổ tay ra.

“Việc đến công đoàn bến cảng nhận diện Lanevus ẩn chứa nguy hiểm.”

“Việc đến công đoàn bến cảng nhận diện Lanevus ẩn chứa nguy hiểm.”

“…”

“…”

Nhắm mắt niệm thầm đủ bảy lần, Klein mở mắt quan sát mặt dây chuyền thạch anh vàng, thấy nó hoàn toàn bất động.

Bói toán thất bại? Klein lập tức nhíu mày.

Anh đổi sang câu khác, đổi cả phương thức bói toán, kết quả vẫn là thất bại.

Sau một hồi ngẫm nghĩ, anh tìm ra ba nguyên nhân: một là thông tin không đầy đủ nên không thể bói toán, hai là công đoàn bến cảng thực sự không có Lanevus, quẻ bói không thành lập, ba là Lanevus giống Ince Zangwill, sở hữu vật phẩm che chắn bói toán.

Vật phẩm che chắn bói toán… là lợi ích mà hắn ta đoạt được từ nghi thức Thần Tử? Chẳng hạn như một chút thần tính từ Chúa Sáng Tạo Đích Thực? Klein cân nhắc trong chốc lát, quyết định bất chấp rủi ro, đích thân đến công đoàn bến cảng một chuyến.

Có những việc dù biết nguy hiểm vẫn phải làm! Hai quý cô kia có thể âm thầm quan sát mà không bị phát hiện thì mình cũng làm được… Mình chỉ cần giáp mặt Lanevus một lần là có thể bói toán xác nhận rồi…

Tất nhiên, không được lỗ mãng, mình phải chuẩn bị trước, ví dụ như đưa [Con Mắt Đen Kịt] lên phía trên sương xám, không mang theo người, tránh để sự ô nhiễm tinh thần của Chúa Sáng Tạo Đích Thực cộng hưởng với thần tính của Ngài, hoặc độn giày cao lên, để “Gã Khổng Lồ” kia không thể dựa vào vóc dáng mà nhận ra mình chính là kẻ qua đường tối qua, hay tìm một lý do hợp lý, đủ thuyết phục và không gây nghi ngờ… Ừm, có thể giả làm phóng viên đến phỏng vấn, lát nữa mình sẽ mượn thẻ nhà báo giả của Mike Joseph…

Khóe miệng Klein từ từ nhếch lên. Anh dùng linh tính bao bọc bản thân, rơi trở lại thế giới thực.

Ba giờ chiều, ụ tàu Đông Balam, công đoàn công nhân bến cảng.

Klein mặc áo len dày, khoác jacket nâu vàng, đầu đội mũ mềm đơn giản. Bộ dạng này khiến anh trông giống mấy tay phóng viên điều tra thông thường hơn là cánh nhà báo chải chuốt chuyên đi dự tiệc hay phỏng vấn giới thượng lưu. Để có diện mạo này, anh đã phải tốn thêm 1 Bảng 10 Soli.

Lúc này, anh đeo kính gọng vàng, tóc vuốt sáp chải ngược bóng lộn. Đám râu ria lởm chởm đã biến mất, chỉ để lại lớp chân đen mờ quanh miệng. Chiều cao cũng được độn thêm ít nhất năm phân. Tất cả là để tạo ra sự khác biệt hoàn với hình ảnh gã công nhân tối qua, khiến người lạ không thể liên hệ hai người là một.

Trong túi quần áo cũng không có [Con Mắt Đen Kịt] hay các loại bùa chú, tinh dầu thảo dược, chỉ có một bộ bài Tarot, một xấp giấy ghi chú, một cây bút máy đã bơm mực, một chiếc ví da, một nắm tiền lẻ, một chùm chìa khóa và một tấm thẻ phóng viên giả.

Anh không biết Lanevus hiện như thế nào, cũng không biết những Kẻ Phi Phàm hùng mạnh thường lảng vảng xung quanh hắn đến từ đâu, nên không mang theo bất kỳ vật dụng khả nghi nào để phòng xa.

Nhìn ngôi nhà nhỏ có hai tầng ở phía trước, Klein băng qua đường, giả vờ không phát hiện những ánh mắt dán chặt vào mình.

Anh đẩy cửa bước vào, nhận ra cách bố trí của công đoàn bến cảng khá đơn sơ. Không có nữ nhân viên tiếp tân cũng chẳng có đại sảnh rộng rãi. Cầu thang dẫn lên tầng hai nằm ngay chính giữa, hai bên là hành lang với văn phòng san sát. Sàn nhà không lát gỗ, cũng không trải thảm, chỉ được trát qua một lớp xi măng.

Klein nghiêng đầu nhìn người đàn ông đứng gác ở cửa, tiến lại gần và nói, “Tôi là phóng viên của tờ Nhật báo Backlund, tôi muốn phỏng vấn nhân viên công đoàn các anh để tìm hiểu về những yêu cầu và nguyện vọng của mọi người.”

Người đàn ông mặc chiếc áo khoác vá chằng vá đụp, vài chỗ sờn rách còn lòi cả bông bẩn ra ngoài, bên trong phong phanh độc một chiếc sơ mi vải lanh.

Vừa nghe thấy hai chữ “phóng viên”, gã lập tức cảnh giác, chối bay chối biến, “Không có! Dạo này tụi này không có tổ chức bãi công bãi biếc gì sất, không có đâu!”

“Tôi nghĩ anh hiểu lầm rồi, tôi là người ủng hộ các anh. Tôi định làm một chuyên đề viết về những việc công đoàn đã làm để giúp đỡ công nhân và những khó khăn thực tế đang gặp phải, tin tôi đi.” Klein sử dụng năng lực “Tên Hề”, khiến đôi mắt trở nên cực kỳ chân thành.

“Rứa hả… Rứa anh tới gặp ông Rand ấy, ổng là ủy viên phụ trách tuyên truyền của tụi này. Rẽ phải, phòng thứ hai bên tay phải.” Người đàn ông ngập ngừng vài giây rồi mới đáp.

“Cảm ơn.” Klein vờ thở phào nhẹ nhõm, cúi chào một cái, cảm nhận được những cái nhìn soi mói đến từ các góc tối đã biến mất.

Lưng lấm tấm mồ hôi lạnh, anh rẽ sang phải, gõ cửa căn phòng được chỉ dẫn.

Két một tiếng, cửa mở ra, một người đàn ông trung niên có mái tóc mỏng thưa thắc mắc nhìn anh, “Xin hỏi anh là?”

“Ông là ông Rand phải không? Tôi là Stenson, phóng viên tờ Nhật báo Backlund. Đây là thẻ phòng viên của tôi. Tôi muốn làm một chuyên đề về công đoàn, giúp mọi người có tiếng nói hơn.” Klein xém thì tin mình thật sự là ký giả.

“Rand là tôi đây.” Người đàn ông trung niên liếc qua tấm thẻ, vẻ miễn cưỡng lộ ra mặt, do dự nói, “Tôi chẳng dám tin cánh phóng viên các anh đến đây là để giúp đâu.”

“Người sinh ra ở quận Đông như tôi thừa hiểu đời sống công nhân cực khổ thế nào. Nếu ông không tin thiện chí của tôi thì cứ việc đi cùng, giám sát từng câu hỏi của tôi cũng được.” Klein bỗng cười xòa, bồi thêm, “Có bài báo dựa trên phỏng vấn thực tế vẫn hơn là chẳng có gì, để mặc người ta ngồi nhà bịa tin, đúng không? Ít nhất các ông cũng được nói lên quan điểm và lái dư luận theo ý mình.”

Rand gãi đầu, chần chừ đáp, “Thôi được. Tôi sẽ theo sát anh từng bước.”

“Cảm ơn ông!” Klein phải gồng mình mới không để lộ sơ hở.

Sau đó, dưới sự hướng dẫn của Rand, anh đi hết phòng này đến phòng khác, phỏng vấn nhân viên công đoàn theo bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn.

Hành lang bên phải không có gì, hành lang bên trái cũng không có… Với vẻ mặt điềm nhiên, Klein bước lên cầu thang gỗ dẫn lên tầng hai.

Lần này, Rand dẫn anh vào văn phòng đối diện cầu thang, giới thiệu cho những người bên trong, “Đây là phóng viên tờ Nhật Báo Backlund, anh Stenson. Anh ta muốn phỏng vấn mọi người, nhưng tôi phải nhắc trước, có những câu hỏi các cậu có quyền không trả lời.”

Klein tươi cười bước lên hai bước, làm bộ muốn bắt tay từng người trong phòng. Đúng lúc đó, anh bắt gặp một bóng dáng quen thuộc.

Mặc dù nước da của đối phương đã chuyển sang màu bánh mật, gương mặt tròn trịa bình thường hiện trở nên góc cạnh, cặp kính tròn cũng đổi thành gọng vàng chữ nhật, nhưng nhờ trực giác linh tính của “Nhà Bói Toán”, Klein vẫn nhận ra nét quen thuộc khó tả. Ngay lập tức, người anh run lên, nụ cười trên môi suýt thì méo xệch.

“Xin… xin lỗi, tôi đột nhiên… đột nhiên đau bụng quá, cho hỏi… nhà vệ sinh ở đâu?” Klein dùng bàn tay không cầm bút và giấy ôm bụng, lúng túng cười hỏi.

Rand và những người trong văn phòng chẳng mảy may nghi ngờ, nhao nhao chỉ ra ngoài cửa, “Ra ngoài, rẽ trái, đi kịch đường là thấy biển chỉ dẫn.”

Klein vừa cười trừ vừa lùi lại, ra khỏi cửa liền sải bước thật nhanh về phía nhà vệ sinh. Vào trong, anh chọn buồng xí sát cửa sổ nhất, ngồi phịch xuống bồn cầu, chốt chặt cửa gỗ.

Anh gập người xuống, khóe miệng toác ra, cười không thành tiếng, cười đến mức không gượng dậy nổi, cười đến mức từng giọt nước lấp lánh rơi xuống sàn nhà.

Klein khẳng định hắn chính là Lanevus!

Không phải dựa vào chút cảm giác quen thuộc thoáng qua, mà vì anh đã nhận ra một hơi thở khác trên người hắn, một thứ đã để lại ấn tượng khó phai trong anh!

Cũng là nguyên nhân chính khiến anh gần như mất khống chế ngay tại chỗ.

Cơ thể anh run rẩy vì nỗi sợ hãi và kinh hoàng theo bản năng! Cảm xúc của anh vỡ vụn vì nỗi khiếp đảm và bi thương nằm sâu trong ký ức!

Đó là, đó là… đó là hơi thở của Chúa Sáng Tạo Đích Thực!

Klein rửa mặt, vờ như mọi thứ đều bình thường, quay lại tiếp tục phỏng vấn. Ngay cả khi đối mặt với kẻ đã thay đổi đến khó tin từng mang tên Lanevus, anh vẫn bình tĩnh đặt câu hỏi, ghi chép câu trả lời đâu ra đấy. Xong xuôi tất cả, anh chào tạm biệt rồi rời khỏi công đoàn bến cảng, bước ra khỏi căn nhà thiếu sáng.

Bên ngoài mây đen tầng tầng lớp lớp, sương mù lãng đãng như thể đã sẩm tối.

Hơi thở của Chúa Sáng Tạo Đích Thực chắc chắn đến chính Ngài, từ dòng giống của Ngài hoặc những thứ được phát triển trên cơ sở đó, chẳng hạn như vật phẩm Ngài ban cho hoặc thần tính của Ngài…

Điều này rất khớp với những gì Lanevus từng nói với Hood Eugen, cộng thêm cảm giác quen thuộc khó tả ấy, mình chẳng cần lên sương xám bói toán cũng xác định được đó là Ngài…

May mà mình đã đụng độ Chúa Sáng Tạo Đích Thực vài lần, lại quen với sự ô nhiễm tinh thần của Ngài, không thì còn lâu mới nhận ra được thứ hơi thở chẳng có chút sức mạnh hay vị cách kia thuộc về ai… Dẫu cho lòng nặng trịch, Klein vẫn tỏ ra ung dung.

Anh đứng bên đường, giả đò sắp xếp lại mấy tờ ghi chú phỏng vấn. Trong lúc đó, anh thoáng thấy bóng dáng quen quen trong đám vô gia cư đối diện.

Cô Xio?

Klein lập tức xâu chuỗi sự việc và đưa ra phỏng đoán. Anh không nán lại lâu, cất gọn ghi chú rồi bước về phía trạm xe ngựa công cộng.

Đúng lúc đó, một cỗ xe ngựa bất ngờ dừng trước mặt anh.

“Chúng ta lại gặp nhau rồi.”

Ngồi trong xe là một quý ông đứng tuổi hơi gầy nhưng nho nhã, tóc mai điểm bạc khiến ông càng thêm phong độ, đó chính là thám tử lừng danh Isengard Stanton - người thường xuyên hỗ trợ cảnh sát phá án.

Klein thì trông không khác ngày thường, chỉ cao hơn một chút và thay đổi quần áo.

“Trùng hợp thật, tôi mới nghĩ về buổi phỏng vấn ông lần trước.” Klein cố ý đáp lời như vậy.

Isengard hiểu ngay, mỉm cười rồi nói sang chuyện khác, “Tôi đến đây điều tra vụ án, cái chết của Sibel đã được tách riêng ra, chủ yếu do tôi phụ trách, mà nơi cô ấy chết lại rất gần ụ tàu Đông Balam.”

“Quả nhiên là tội phạm bắt chước sao?” Klein giả vờ như giờ mới biết.

Hàn huyên vài câu, anh lên xe ngựa công cộng, nhưng không về thẳng nhà mà đổi chuyến đến câu lạc bộ Quelaag ở quận Hillston.

Trong phòng nghỉ của câu lạc bộ, Klein cấp tốc leo lên phía trên sương xám, xác nhận không bị ai bám đuôi. Đến đây, anh mới hoàn toàn thả lỏng, cảm nhận được nỗi sợ hãi muộn màng.

Hơi thở của Chúa Sáng Tạo Đích Thực tựa cơn ác mộng luôn lởn vởn trong đầu anh, khiến lưng áo anh chốc chốc lại ướt đẫm.

Để chắc ăn, Klein biến ra một tờ giấy da dê màu vàng nâu và một cây bút máy thân tròn đỏ thẫm, quen tay viết câu bói toán đã được suy tính sẵn: Nguồn gốc của cảm giác quen thuộc khó hiểu mới đây.

Anh đặt bút xuống, ngả người ra ghế, vừa lẩm nhẩm vừa chìm vào giấc mộng.

Trong thế giới xám xịt hư ảo, anh nhìn thấy một người. Kẻ đó có khuôn mặt bình thường, đeo kính gọng tròn, miệng luôn nở nụ cười ngạo mạn và châm chiếm, chính là Lanevus!

Tìm được mi rồi! Klein không dùng năng lực “Tên Hề” để kiểm soát biểu cảm nữa, anh nghiến nghiến lợi thốt ra từng từ. Đoạn, anh ngồi thẳng dậy, chuẩn bị đáp lại lời cầu nguyện của tiểu thư “Công Lý”.

Klein điều chỉnh cảm xúc, cất giọng trầm thấp, hờ hững, “Không cần xác minh, hắn quả thực là Lanevus.

“Hãy báo cho Giáo hội Nữ Thần Đêm Đen, đồng thời nói với họ rằng trên người Lanevus có thần tính của Chúa Sáng Tạo Sa Đọa.”

Audrey đang cùng Susie xem cha huấn luyện chó săn thì nghe thấy lời hồi đáp từ ngài “Kẻ Khờ”. Nàng tức khắc ngây người.

Chúa Sáng Tạo Sa Đọa… Chẳng phải là Chúa Sáng Tạo Đích Thực sao? Trên người tên lừa đảo đó lại có thần tính của Chúa Sáng Tạo Đích Thực? Nhiệm vụ tưởng chừng đơn giản như vậy mà lại liên quan đến thần tính của Chúa Sáng Tạo Đích Thực!

Quả nhiên, mình biết ngay mà, ngài “Kẻ Khờ” còn có mục đích sâu xa hơn… Ngài ấy đang nhắm vào Chúa Sáng Tạo Đích Thực… Không hổ là ngài “Kẻ Khờ”! Muôn vàn suy nghĩ vụt qua đầu Audrey.

Do đã thống nhất phương thức liên lạc khẩn cấp tới Xio và Fors từ trước, Audrey lập tức nhờ cô chó săn lông vàng Susie chuyển giao lời nhắc nhở của “Kẻ Khờ” đến hai người. Tất nhiên, những lời này đã được biến tấu thành tin tình báo thu được từ nguồn khác.

Trong góc một nhà thờ bỏ hoang, Xio nghĩ về biện pháp để xác nhận thân phận Lanevus, về cách gây hỗn loạn để chớp thời cơ trả thù cho Williams trong lúc mở nắm giấy vo tròn.

…Không cần xác minh, đó chính là Lanvus? Mắt Xio trợn trừng, vội đọc lướt nội dung tiếp theo, thấy trên giấy viết rành rọt: Chỉ được báo cho Giáo hội Nữ thần Đêm Đen. Nhắc họ rằng trên người Lanevus có thần tính của Chúa Sáng Tạo Đích Thực.

“Thần tính? Thần tính của Chúa Sáng Tạo Đích Thực?” Xio buột miệng thốt lên, ngơ ngác nhìn cô chó đưa thư trước mặt, thấy mặt đối phương cũng đờ ra.

“Gì cơ?” Fors nghe đến đây bỗng cảm thấy không ổn, bèn giật lấy tờ giấy, đọc thật nhanh.

Một lúc sau, cô mấp máy môi, chẳng biết nên giận hay nên cười, “Chuyện… chuyện này chắc là đùa thôi nhỉ? Làm sao chúng ta lại dính vào vụ liên quan đến tà thần với thần tính được?”

Đây chỉ là đi bắt một tên lừa đảo láu cá đáng giá 200 Bảng thôi mà!

Trước câu hỏi của Fors, Susie đành dùng ánh mắt ngây thơ vô tội để diễn tả “Tôi chỉ là một con chó thôi, tôi hổng biết gì đâu.”

Fors cũng chẳng trông mong một con chó giải đáp được thắc mắc của mình, cô quay sang nói với Xio, “E rằng tiểu thư Audrey không ngây thơ đơn thuần như chúng ta tưởng, cô ta cũng có khối bí mật. Chuyện này có khi là cuộc đấu đá giữa giới quý tộc với giáo hội, hoặc với mấy tổ chức tà giáo cũng nên.

“Nhưng mà, rõ ràng là trước đó cô ta cũng không biết vụ thần tính này, chắc cũng bị người ta lợi dụng thôi, ừm… biết đâu người lợi dụng cô ta chính là cha cổ, bá tước Hall.

“May mà mọi chuyện dừng lại ở đây, cậu không cần mạo hiểm nữa. Tìm người báo cho Giáo hội Nữ thần Đêm Đen xong là cậu chỉ việc nhận thưởng thôi.”

Xio ngập ngừng, “Ừ… Hy vọng, hy vọng Kẻ Gác Đêm sẽ trả thù giúp Williams, họ mạnh như thế, chắc chắn sẽ làm được, chắc chắn…”

Trước khi nói hết câu, cô bỗng quay mặt đi chỗ khác, lẩm bẩm như tự nhủ, “Tớ còn quá yếu, quá yếu…” Cô bất ngờ bịt chặt miệng mũi.

Mình vẫn còn quá yếu, không thì mình đã tự tay báo thù rồi, nhưng giờ đành phải lùi một bước… Riêng việc đối phó với Lanvus có “thần tính” đã là quá sức với mình, huống hồ bên cạnh hắn còn có “Gã Khổng Lồ” và đám đồng bọn chưa lộ mặt.

Với tốc độ phản ứng của Kẻ Gác Đêm, một khi nhận được tin thì họ sẽ hành động ngay trong đêm nay. Giáo phận Backlund chỉ đứng sau tổng bộ, người tài và Vật Phong Ấn nhiều vô kể, không cần chờ thêm viện binh…

Giao việc xong, Klein quay về thế giới thực, dán thêm ít râu, đổi kiểu tóc khác rồi ngẩn người trước tấm gương vài phút. Anh không những cảm thấy mong chờ và phấn khích, mà còn thấy phiền muộn và bất lực.

Trước khi màn đêm buông xuống, anh rời câu lạc bộ Quelaag, quay về phố Minsk. Dọc đường, anh ghé vào chợ tạp hóa, chọn bừa một sạp hàng đông khách, mua vài chiếc mặt nạ, trong đó có mặt nạ hề.

Anh quyết định tối nay sẽ đi xem cuộc vây bắt Lanevus, anh muốn tận mắt chứng kiến kẻ đó phải trả giá cho hành động điên cuồng trước kia.

Dĩ nhiên, với thực lực hiện tại, anh chỉ có quyền theo dõi từ xa, hoàn toàn không đủ tư cách lại gần.

Mười một giờ đêm, khi bao người đã chìm vào giấc mộng, Klein khoác bộ đồ công nhân màu xám xanh, ngụy trang y hệt tối qua. Tiếp đó, anh đội mũ lưỡi trai, vòng qua vài con phố, thuê một xe ngựa đến khu vực Cầu Backlund. Tới nơi, anh đi bộ một mạch đến ụ tàu Đông Balam.

Trong buổi phỏng vấn hôm qua, anh đã cài cắm mấy câu như “hiện giờ ở đâu”, “môi trường xung quanh thế nào”, nên biết rõ Lanevus sẽ qua đêm tại ký túc xá do công đoàn bến cảng cung cấp.

Thế nhưng Klein lại không đến gần khu vực đó, mà cẩn trọng đi vòng qua, hướng thẳng tới tháp chuông của ụ tàu Đông Balam.

Ở Backlund, không chỉ nhà thờ lớn mới có những tháp chuông chọc trời mang tính biểu tượng, mà nhiều tòa nhà chính phủ cũng được trang bị tháp riêng, không cần quá cao, cũng chẳng cần bề thế hay tráng lệ, chủ yếu là thực dụng, điển hình như cái tháp ở ụ tàu Đông Balam này. Mỗi khi đêm về, nó sừng sững như một người khổng lồ nhìn xuống những mái nhà ba tầng thấp bé dưới chân.

Klein dễ dàng lẻn vào tháp chuông, chạy băng băng trong bóng tối theo cầu thang xoắn ốc không có điểm dừng.

Cuối cùng, anh cũng đến đích, đứng ngay phía trên chiếc đồng hồ treo tường khổng lồ, bốn phía là lan can màu vàng sẫm, đỉnh tháp nhọn hoắt ngay trên đầu, với tay là chạm tới.

Tiến lên trước vài bước, Klein ẩn vào bóng tối, xác định phương hướng, phóng tầm mắt về phía ký túc xá công đoàn bến cảng - một ngôi nhà hai tầng gạch đỏ.

Những người đi đường thi thoảng xuất hiện giờ chỉ còn như những chấm đen trong mắt Klein. Anh nhìn chằm chằm vài giây rồi lùi vào bóng đêm, lấy chiếc mặt nạ mới mua ra đeo.

Đó là mặt nạ hề có khóe miệng ngoác tận mang tai, chóp mũi sơn màu đỏ chót.

Một chú hề vui vẻ.

Klein đeo mặt nạ hề, đứng trong bóng tối đen đặc, kiên nhẫn chờ đợi màn kịch sắp diễn ra.

Việc chờ đợi kéo dài hai tiếng đồng hồ.

Khi kim đồng hồ khổng lồ phía dưới nhích qua một giờ, anh bất ngờ nhìn thấy một vật thể bay tới từ xa. Đó là một chiếc khinh khí cầu khổng lồ sơn màu đen tuyền!

Nhờ chút ánh trăng mờ ảo nên nó mới không hòa tan vào đêm. Trái với những gì báo chí thường viết, nó không phát ra tiếng máy móc gầm rú đinh tai nhức óc, cánh quạt lặng lẽ xoay tròn, im lặng như một con kền kền đã tia thấy mồi nhưng chưa tìm được cơ hội.

Khung xương hợp kim vừa chắc chắn vừa nhẹ nhàng nâng đỡ lớp vỏ vải bông, phía dưới là khoang chứa được trang bị súng máy, nòng pháo và cửa ném bom, trông cực kỳ uy hiếp.

Hẳn là ai đó đã dùng năng lực siêu phàm để loại bỏ tiếng động tạm thời… Klein đeo mặt nạ hề, quan sát chiếc khinh khí cầu từ từ hạ xuống, trong đầu đã có vài suy đoán.

Lúc này, điều khiến anh khó hiểu nhất là việc giáo hội huy động cả một chiếc khinh khí cầu cho một cuộc chiến phi phàm quy mô nhỏ ngay giữa khu dân cư đông đúc! Họ không sợ gây thương vong diện rộng cho người dân à? Không sợ tạo ra khủng hoảng sao?

Chẳng mấy chốc, khinh khí cầu đã lơ lửng ở độ cao chừng mười mét. Thế này thì Klein càng không lo bị phát hiện, vì chỗ anh đứng cao hơn khinh khí cầu kia nhiều!

Quan sát tình hình bên dưới, anh chợt nảy ra một suy đoán. Có lẽ chiếc khinh khí cầu kia sẽ không trực tiếp tham chiến, mà chỉ khống chế không phận để giám sát hiện trường, hỗ trợ tầm nhìn giúp đội tác chiến, đề phòng sự cố hoặc ngăn chặn mục tiêu tẩu thoát.

Ngay lúc này, ba bóng người mặc áo khoác đen lặng lẽ xuất hiện trước ngôi nhà hai tầng gạch đỏ.

Kẻ đi đầu không đội mũ, để lộ mái tóc màu vàng nâu được cắt ngắn cũn cùng đôi mắt xanh thẫm sâu thăm thẳm như mặt hồ lặng gió tối tăm. Anh ta mặc áo khoác lẫn áo sơ mi có cổ dựng cao, hai tay mang găng đỏ tươi như máu, cổ tay trái đeo sợi xích màu trắng bạc nối với chiếc vali cùng màu.

Đó chính là Crestet Cesimir, một trong chín phó tế cấp cao của Kẻ Gác Đêm trực thuộc Giáo hội Nữ thần Đêm Đen, cũng là một trong ba người đứng đầu đội Găng Tay Đỏ, đã có mặt ở Backlund đúng vào thời điểm này.

Cesimir nhìn phía trước, nghiêng đầu ra lệnh cho cấp dưới bên trái, “Dùng Vật Phong Ấn 1-63.”

“Rõ, thưa các hạ Cesimir.” Người kia lập tức khụy xuống, giúp Cesimir tháo sợi xích quấn quanh chiếc vali bạc.

Còn Cesimir thì gồng mình như thể đang gắng sức chống chọi với thứ gì đó.

Kẻ Gác Đêm bên trái âm thầm hít một hơi, đột nhiên ấn mạnh tay xuống… Lập tức, những gợn sóng hư ảo xuất hiện trên bề mặt chiếc vali bạc. Ánh sáng xung quanh vụt tắt, dường như bị hút hết vào vali. Một thanh kiếm xương dài chưa đến một mét, tỏa ra ánh sáng trắng thuần khiết chầm chậm bay lên.

Thân kiếm nâng một chiếc gương mạ bạc cổ kính. Hình ảnh trong gương cứ lặp đi lặp lại, xếp chồng lên nhau mãi không hồi kết.

Kẻ Gác Đêm bên trái cầm chiếc gương lên, hướng mặt kính về phía ngôi nhà gạch đỏ. Ngôi nhà phản chiếu rõ trong gương, mọi thứ dường như không có gì thay đổi.

Cesimir chậm rãi thở ra một hơi, duỗi tay trái nắm chặt lấy thanh kiếm xương chưa đầy một mét kia. Ánh sáng xung quanh cũng hồi phục phần nào.

“Vào thôi.” Anh sải bước dài, tiến về phía lối vào của ngôi nhà gạch đỏ.

Ba Kẻ Gác Đêm đẩy cửa, bước vào ngôi nhà u ám, hướng thẳng đến cầu thang dẫn lên tầng hai.

Lúc này, một bóng người cao lênh khênh hiện ra từ góc tối. Gã mặc áo giáo sĩ đen, mái tóc vàng nhạt hơi xoăn, đôi mắt nâu sẫm tựa dã thú.

“Ngươi chính là Thanh kiếm của Nữ Thần?” “Gã Khổng Lồ” cao gần hai mét cất giọng trầm đục, đồng thời siết chặt bàn tay phải.

Bùm! Bùm! Bùm!

Những nhân viên công đoàn đang say ngủ trong ngôi nhà lần lượt nổ tung, không ai kịp hét lên một tiếng.

Thân thể họ chia năm xẻ bảy, hóa thành những đống thịt nhầy nhụa, đỏ lòm. Một nửa số thịt ấy tràn về phía “Gã Khổng Lồ”, đan thành tấm áo choàng giúp gã kháng phép và giảm sát thương, nửa còn lại ngưng tụ thành tấm thảm lông lá cỡ lớn bao phủ ba Kẻ Gác Đêm.

Crestet Cesimir chỉ lẳng lặng đứng nhìn, không hề động đậy.

Bỗng, đống máu thịt đó lặng lẽ tan biến, vỡ vụn rồi rơi lả tả như mưa, vậy mà sàn nhà không hề bị nhuộm đỏ. Trong mỗi căn phòng, những bóng người lại xuất hiện, họ vẫn còn ngủ say.

“Đây là thế giới trong gương, một thế giới chỉ dành cho Kẻ Phi Phàm. Những quả bom xác thịt mà ngươi cài vào người thường đều trở thành đồ giả ở đây.” Cesimir chuyển thanh thánh kiếm bằng xương sang tay phải rồi giơ lên cao. Ánh sáng xung quanh hoàn toàn vụt tắt.

“Hừ!” “Gã Khổng Lồ” đột nhiên túm lấy vai trái bằng tay phải, giật phăng cánh tay ra, rồi quăng mớ thịt lẫn xương ấy về phía trước!

Cùng lúc đó, vết đứt trên vai trái cũng nhúc nhích dữ dội, dần dần tái tạo một cánh tay mới đỏ lòm chưa được phủ da.

Không một giọt mưa đỏ nào rơi trúng Cesimir và đồng đội, chúng rải rác khắp nơi, ăn mòn và tạo ra những vệt đen trên mặt sàn. Dù ra sức đến đâu, tất cả vẫn lệch khỏi ba Kẻ Gác Đêm trong gang tấc, như thể số phận đã an bài như vậy.

“Kẻ địch của ta thường xui xẻo lắm.” Cesimir nhếch mép, vọt tới, tức khắc áp sát “Gã Khổng Lồ”.’

Ánh mắt “Gã Khổng Lồ” trở nên sắc bén, cơ thể đột nhiên tan chảy như sáp nến, hóa thành một vũng thịt nhầy nhụa nhanh chóng thấm xuống nền nhà.

Cesimir thuận thế quỳ một gối, cắm phập thánh kiếm xuống đất.

“Không!”

Giữa bóng tối đậm đặc, một tiếng gầm đầy đau đớn và sợ hãi vang lên trong tích tắc, rồi lập tức bị sự tĩnh lặng nuốt chửng.

Cesimir đứng thẳng dậy, rút thanh kiếm xương ra, thấy một giọt máu đỏ sẫm chậm rãi nhỏ xuống từ mũi kiếm. Trên sàn nhà, máu thịt rò rỉ, cô đọng thành gương mặt tuyệt vọng của “Gã Khổng Lồ” có khóe miệng hơi trễ.

Bộp! Bộp! Bộp!

Ba bóng người lục tục xuất hiện quanh Cesimir, cả ba đều té ngã một cách khó hiểu, như thể bị lực lượng vô hình kéo xuống!

Đoàng! Đoàng! Đoàng!

Kẻ Gác Đêm còn lại nổ súng, bắn ra những viên đạn bạc thấp thoáng Huy hiệu Thần thánh Đêm Đen. Ba kẻ tập kích đang ẩn nấp trong bóng tối, chuẩn bị ra tay thì bị phát hiện, chỉ kịp co giật vài lần rồi tắt thở.

“…‘Giám Mục Hoa Hồng’, ‘Ẩn Tu Sĩ’… Thành viên Hội Cực Quang.” Cesimir nhíu mày, giọng trầm xuống nhưng không quay đầu lại, “Chuyện này có gì đó không ổn, rất lạ, các cậu phải cẩn thận đấy.”

Anh còn chưa dứt lời thì nghe thấy tiếng bước chân cộp, cộp, cộp vọng trong không gian yên bình và tĩnh lặng. Rồi, anh trông thấy Lanevus. Hắn mặc áo sơ mi vải lanh, gương mặt góc cạnh, thong thả bước xuống từ cầu thang tối om, nét mặt dửng dưng và bình thản, không hề có dấu hiệu sợ hãi.

“Ta thấy rất khó hiểu. Lẽ ra ngươi phải là kẻ báng bổ trong mắt Hội Cực Quang mới đúng. Tại sao chúng lại phái người đến bảo vệ ngươi?” Cesimir hỏi bằng giọng tỉnh bơ.

Lanevus nở nụ cười chế giễu đặc trưng và đáp, “Đơn giản thôi. Vì ta không chỉ là Lanevus.”

Hắn dừng lại một nhịp, ánh mắt bỗng trở nên lạnh lẽo, “Giờ ta còn là… Chúa Sáng Tạo Đích Thực!”

Hắn đột nhiên phanh áo, để lộ vùng ngực bụng đỏ lòm không da, những thớ thịt nhầy nhụa dính liền với nhau, tạo thành hình người bị treo ngược!

Ầm! Không gian xung quanh nứt toác như thủy tinh, toàn bộ khung cảnh sụp đổ tan tành.

Đây chính là hơi thở của thần linh.

Bạn đã đến cuối chương 68.

Không gian đọc của bạn