Về truyệnLord of Mysteries
Chương 67

Chương 67 · 82 chương

Vụ Nổ

Đường Cây Cọ Đen, quận Đông không có đèn đường khí đốt. Khi màn đêm buông xuống, con phố này chẳng khác gì vực sâu.

Bên trong một căn hộ hiệu suất ở đây, Klein đã niêm phong xung quanh bằng tường linh tính, rồi triệu hồi chính mình, mang theo [Rìu Bão Xoáy] lên màn sương xám xịt.

“Nó mà nặng hơn thì ngay cả linh thể được gia cố bởi [Còi Đồng Azik] của mình cũng chưa chắc đã mang theo nổi, lúc đó chỉ có thể đổi thành nghi thức hiến tế…” Klein làu bàu, truyền suy nghĩ đến ngôi sao hư ảo tương ứng với “Mặt Trời”: “‘Thế Giới’ đã hiến vũ khí cho ta. Cậu có thể chuẩn bị nghi thức ban tặng rồi.”

…

Thành Bạch Ngân.

Nhìn thấy màn sương xám và nghe được lời chỉ dẫn từ “Kẻ Khờ”, Derrick Berg lập tức ngồi dậy, vội vã chuẩn bị.

Trước khi tiến hành nghi thức ban tặng, cậu lặng lẽ rút thanh kiếm một tay ra, chém vài nhát theo chiều dọc cho đỡ hồi hộp.

Không biết đó sẽ là một thanh kiếm thẳng, một thanh kiếm rộng bản hay một thanh kiếm nhọn nhỉ? Derrick vô thức ngừng chuyển động, không ngừng suy nghĩ miên man, mường tưởng về cảnh mình sử dụng thứ vũ khí mạnh mẽ ấy.

Một lát sau, cậu trông thấy món vũ khí phi phàm thuộc về mình hiện ra trong nghi thức.

Một chiếc rìu.

“Ngài ‘Kẻ Khờ’ đáng kính, xin hãy chuyển lời đến anh ‘Thế Giới’, tôi sẽ mau chóng thu thập rễ và nhựa cây thật của Người Cây Sương Mù cho anh ấy.”

Nhận được câu trả lời từ “Mặt Trời”, Klein kín đáo gật đầu và tự nhủ, “Xem ra cậu ta hài lòng với món vũ khí này. Dù không được tăng cường từ môi trường thì [Rìu Bão Xoáy] cũng khá tốt.”

Anh đã hiện thực hóa một tờ giấy ghi chú các đặc điểm và hạn chế của thứ vũ khí phi phàm này rồi truyền đạt nó cho “Mặt Trời” thay vì mô tả trực tiếp, nhằm tránh lộ vẻ dài dòng và giữ được hình ảnh.

Xong xuôi, Klein không nán lại lâu, lập tức quay về thế giới thực, thay quần áo rồi rời khỏi phố Cây Cọ Đen.

…

Đường Dharavi, quận Đông.

Tại một quán rượu chật chội náo nhiệt, Xio Deracha che kín miệng mũi khi chen vào bên trong. Với cô, quán rượu này không những ngập mùi rượu lẫn mồ hôi mà còn đầy rẫy những gã cao to, khiến cô liên tục phải đối diện với vùng nách tỏa ra mùi hôi thối đủ để xông ngất người bình thường của họ.

Cô đã phải rất nỗ lực, thậm chí vận dụng năng lực của “Trọng Tài” mới đến được quầy bar, trông thấy người mình tìm kiếm.

Đó là một chàng trai trẻ khoảng đôi mươi, gương mặt hóp và dài như ngựa, lông mày rậm rạp hung ác, nhưng lại có nét mặt hiền hậu. Hắn vừa nốc rượu vừa lớn giọng cười đùa với khách hàng xung quanh.

“Williams, tớ cần nói chuyện với cậu.” Xio đập mạnh vào mặt quầy bằng gỗ.

Động tác thô lỗ tức khắc thu hút nhiều ánh nhìn giận dữ. Tuy nhiên, họ nhanh chóng lùi bước trước ánh mắt nghiêm khắc của “Trọng Tài”.

“Ôi, Xio, lâu rồi không gặp. Để tớ xem nào, đã một tuần rồi, không, ít nhất cũng phải ba tuần rồi nhở? Cậu uống gì không? Ly ‘nửa nọ nửa kia’ nhé?” Chàng trai trẻ tên Williams nói, nửa chếnh choáng nửa ngạc nhiên.

“Nửa nọ, nửa kia” là thức uống có cồn phổ biến mất ở quận Đông, được làm từ bia mạch nha và rượu vang tăng cồn. Vì có hai thành phần với tỷ lệ ngang nhau nên dân địa phương mới đặt cho nó cái tên như vậy.

“Cậu thật sự định mời tớ uống hử?” Xio nhướng mày.

“Không, thằng này nói lung tung đấy!” Ông chủ đang lau ly đứng sau quầy bar vội trả lời thay Williams.

Ông ta biết rất rõ cô gái đối diện sẽ trở nên nguy hiểm như thế nào khi say. Không chỉ dùng nắm đấm thuyết phục khách hàng của ông ngừng uống, cô ta còn đá từng người một ra ngoài.

Williams trề môi, giang tay nói, “Rồi, nói đi, cậu tìm tớ có chuyện gì?” Hắn là một trong những nguồn tin ở quận Đông, quen biết rất nhiều băng đảng.

Xio nhíu mày, “Williams này, cậu không kiêng rượu được à? Nếu cậu cố gắng tiết kiệm tiền bạc, cưới một cô vợ hiền thì ngày nào về nhà cũng có nước nóng sẵn sàng, cơm nóng canh ngon cùng tiếng chào hỏi ấm áp. Cậu có thể chia sẻ với cô ấy những gì gặp phải ngoài kia, còn cô ấy sẽ tâm sự với cậu những chuyện vặt vãnh trong nhà. Rồi thêm mấy đứa nhỏ đáng yêu chạy đến hôn má cậu, quấn lấy cậu chơi đùa. Cuộc sống đầm ấm như vậy chẳng tốt sao?”

Khi mới đặt chân đến Backlund, cô đã nhanh chóng đứng vững ở quận Đông nhờ sự giúp đỡ của Williams. Thế nên cô luôn hy vọng đối phương có được một cuộc sống tốt hơn.

“Đầm ấm á?” Williams chế giễu, “Đó là khi tớ kiếm được tiền mang về! Tớ nhìn thấu rồi. Nếu tuần nào tớ cũng đem về được 20 Soli, gia đình tớ chắc chắn sẽ đầm ấm như cậu nói. Nếu không được thì sao? Trời ơi, tiếng đàn bà mắng nhiếc đinh tai, tiếng lũ trẻ khóc lóc la hét sẽ khiến tớ phát điên mất! Bà già tớ chính là tấm gương đấy. Mỗi lần ông già tớ quay về nhà đều đánh nhau cãi nhau ỏm tỏi. Đã thế thì tớ còn đem tiền về làm gì? Đổi mấy đồng Soli, Penny trên người thành rượu có phải hơn không? Ở đây không ai quan tâm tớ kiếm được bao nhiêu. Mọi người cùng uống rượu tán gẫu. Không khí cực kỳ tuyệt vời. Thèm hơi đàn bà thì chỉ việc tìm mấy cô đứng đường đáng yêu ngoài kia. Họ sẽ không gây gổ với cậu!"

Xio bĩu môi, “Cậu đúng là một tín đồ ngoan cố của Chúa Tể Bão Táp. Rồi có ngày cậu sẽ chết vì rượu hoặc bệnh lạ cho xem.”

“Ít ra thì tớ cũng từng được nếm mùi.” Williams thản nhiên đáp, “Tớ gần ba ngày chưa có việc rồi, đừng mong tớ bớt cho cậu.”

Xio ngừng khuyên bảo, vuốt mái tóc rối bù màu vàng kim rồi lấy bức chân dung Lanevus mà Audrey đã đưa ra, “Để mắt đến người này giúp tớ. Tìm hắn càng nhanh càng tốt. Đây là những phiên bản khác nhau của hắn.”

Williams đã say bí tỉ trải tờ giấy ra, nhìn thoáng qua rồi tặc lưỡi, “Thằng cha này trông bình thường quá. Ở quận Đông lại lắm người nhiều ma, không thiếu người đến người đi, chết hoặc trở thành vô gia cư, khó tìm lắm.”

“Thì cứ để mắt giúp tớ. Tìm thấy tên nào giông giống thì báo ngay cho tớ nhé.” Xio đưa một tờ 5 Soli cho đối phương, “Đây là tiền rượu. Tìm được người trên bức họa, tớ, ừm, sẽ cho cậu 10 Bảng.”

“10 Bảng?” Williams huýt sáo. “Xio, từ khi nào cậu lại hào phóng thế? Hay thằng chả này đáng giá hơn vậy?”

“Tiền thưởng của hắn chỉ có thể thôi. 10 Bảng cho việc cung cấp manh mối.”  Xio giả vờ nhìn quanh quán rượu rồi nói, “Đừng quên đấy. Vài ngày nữa tớ sẽ quay lại.”

Cô đã chạy gần hết quận Đông, giao nhiệm vụ cho mấy đầu sỏ băng đảng và nguồn tin thân quen, cũng cọc trước mất mấy Bảng.

Chỉ cần có một người thành công là mình sẽ lấy lại vốn, thậm chí còn kiếm được nhiều hơn! Xio âm thầm tự cổ vũ bản thân, che kín miệng mũi rồi xoay người rời khỏi quán.

Đúng lúc này, vài con ma men đang cãi nhau bỗng xô xát, cảnh tượng dần hỗn loạn. Xio bất đắc dĩ nhìn sang, lớn tiếng hét, “Dừng lại!”

Giọng nói uy nghiêm vang vọng khắp quán rượu. Những kẻ say xỉn tựa như đối mặt với khắc tinh, lục tục ngồi xuống, một số người thậm chí còn ôm đầu và ngồi xổm.

Phù, không biết bao giờ mình mới thăng lên “Cảnh Sát Trưởng” nhỉ… Xio thở dài, vừa hài lòng vừa háo hức.

…

Sáng thứ Năm, Klein lặn lội đến quận St. George xa xôi đến mức tưởng chừng như ở thành phố khác để kiểm tra khoản đầu tư đầu tiên của mình.

Nhờ lời chỉ bảo lần trước của anh cùng những gợi ý từ bản thảo Roselle, Leppard đã đẩy nhanh tiến độ dự án xe đạp và chế tạo ra một nguyên mẫu thô sơ, rất giống xe đạp mà Klein hình dung.

Sau chuyến chạy thử, Klein tiếp tục đưa ra một số đề xuất cải tiến, cho biết anh sẽ giải ngân khoản đầu tư thứ hai vào tuần sau và bày tỏ hy vọng sớm thu hút thêm nhà đầu tư mới để mau chóng đưa dự án chuyển sang giai đoạn sản xuất hàng loạt.

Chỉ có điều, Leppard tự cho mình là người sáng chế và có quyền đặt tên cho sản phẩm. Anh ta không thích cái tên “xe đạp” mà muốn đổi thành “xe đạp bằng chân” cho thông dụng.

Klein không quan tâm đến điều đó.

Giữa trưa, anh quay về số 15 phố Minsk. Mũ còn chưa kịp cởi, anh đã nghe thấy những lời khẩn cầu mơ hồ dội đi dội lại.

Tiểu thư “Công Lý”? Mới đây thôi mà đã thu thập xong thông tin về quý tộc lụn bại rồi à? Klein vừa nghĩ vừa tiến vào phòng khách, chuẩn bị lên lầu. Đúng lúc này, anh nghe thấy tiếng chuông cửa vang lên, bèn vội vàng xoay người mở cửa, trông thấy cô hầu gái Julian của nhà hàng xóm Sammer.

“Thưa anh Moriarty, bà Sammer trân trọng mời anh đến dự tiệc vào bữa trưa Chủ Nhật này, sẽ có rất nhiều hàng xóm tham dự.” Cô hầu nói như thể đang đọc thuộc lòng.

Sau khi về nhà vào tối qua, Klein đã giao máy ảnh xách tay cho bà Sammer và trò chuyện đôi câu, nhưng không nhận được lời mời dự tiệc trưa nào.

À phải… Tạp chí nói rằng tầng lớp trung lưu sẽ không trực tiếp mời khách đến dự tiệc mà đều cho người hầu hoặc hầu gái tới cửa mời, vô cùng trang trọng… Nghe đúng kiểu bà Sammer… Klein vốn hơi bối rối bỗng bừng tỉnh và đồng ý đến đúng giờ vào Chủ Nhật.

Tội gì bỏ qua bữa trưa miễn phí chứ? Ông bà Sammer cũng không phải người khó gần, chỉ cần làm lơ mấy lời khoe khoang của họ là được… Klein nhủ thầm.

Anh tiễn Julian đi, đóng cửa lại, bước về phía cầu thang, mắt lướt qua phòng khách, phòng ăn và nhà bếp hơi bừa bộn.

Mấy ngày không tổng vệ sinh rồi… Một người đàn ông độc thân như mình mà giữ gọn gàng được thế này đã là khá lắm rồi đấy… Mình có quá nhiều bí mật, nhỡ đâu còn bị tập kích, thuê hẳn một hầu gái dọn dẹp sống tại gia thì không ổn… Ừm… chi bằng Chủ Nhật này bàn với bà Sammer, nhờ bà ấy phái hầu gái của mình đến đây dọn dẹp hai lần một tuần rồi mình trả công… Nhiều người thuê nhà và chủ nhà đều có thỏa thuận tương tự… Klein bình tĩnh bước vào phòng ngủ tầng hai và đóng rèm cửa.

Tiến lên màn sương xám, anh nhận thấy lời cầu nguyện quả thực đến từ tiểu thư “Công Lý”.

Thiếu nữ quý tộc ngồi trên ghế đàn, hai tay đặt lên phím nhưng không chơi. Thay vào đó, nàng lẩm nhẩm tụng niệm tôn danh “Kẻ Khờ không thuộc về thời đại này” rồi nói, “… Tôi đã thu thập được thông tin về các quý tộc lụn bại, xin cho phép tôi được tổ chức nghi thức hiến tế, cũng xin Ngài hãy chuyển nó cho anh ‘Thế Giới’.”

Nhanh thật… “Chuyên gia” có khác… Klein đáp lại ngay tức khắc.

Audrey vừa trở về từ Cục Huy hiệu Hoàng gia, nơi nàng gặp các chuyên gia nghiên cứu gia huy. Bằng những động tác có phần vụng về, nàng hoàn thành nghi thức hiến tế và ném chồng bản thảo dày cộp vào cánh cửa ảo ảnh.

“Ta sẽ chuyển nó cho ‘Thế Giới’.” Klein lạnh nhạt nói khi ngắt kết nối.

Thay vì lập tức quay về hiện thực, anh ngồi tại chỗ lật xem bản thảo và tìm thấy mục liên quan đến gia tộc Pound.

Gia tộc Pound thực sự giành được tước Tử thông qua Chiến Tranh Bội Ước. Họ đã trở thành người ủng hộ trung thành của vương thất, nắm giữ khá nhiều quyền lực trong quân đội và lãnh địa của mình. Thế nhưng, ba mươi hai năm trước, hai người thừa kế của gia đình đã qua đời vì bệnh hiểm nghèo, buộc lão Tử tước phải nhận nuôi một đứa trẻ từ dòng bên.

Không lâu sau, lão Tử tước qua đời. Đứa trẻ non nớt bị đám người hầu xúi giục và dụ dỗ đã thay đổi quản gia, trở thành kẻ ăn chơi trác táng. Trong vòng bảy, tám năm, ông ta phung phí hầu hết gia tài, bị giáng xuống tước Nam, thậm chí phải bán cả nhà tổ ở Backlund. Vài năm sau, tước vị của ông ta lại bị giáng xuống, trở thành Tòng nam tước.

“Chết vì bệnh hiểm nghèo? E rằng ngay cả thi thể cũng không tìm được đi. Tất cả đều nằm lại ở căn phòng tận cùng trong công trình dưới lòng đất, ngay bên ngoài cánh cửa lớn đẫm máu kia… Lão Tử tước chắc chắn đã cố tình che giấu chuyện này để ngăn vương thất, quân đội và giáo hội điều tra…

“Thoạt nhìn có vẻ gia tộc Pound chỉ tình cờ phát hiện ra công trình dưới lòng đất Kỷ Thứ Tư vào hơn ba mươi năm trước. Có lẽ, có lẽ cánh cửa bí mật ở tầng hầm chính là do họ xây…

“Nhưng ở căn phòng tận cùng đó lại có nhiều hơn hai thi thể… Hay là ngày xưa từng có người vào đó khám phá? Hừm, phải nói chuyện với Tòng nam tước Pound mà không lộ danh tính mới được…”

Klein ngừng nghĩ ngợi, nhìn đoạn cuối cùng, thấy được điều mình muốn: “Tòng nam tước Pound, hiện đang thuê nhà số 29 đường Sivellaus, quận Hoàng Hậu.”

Hạt Sivellaus nằm ở phía tây Vương quốc Loen, cách Cộng hòa Intis một dãy núi Hornacis. Tại Backlund cũng có một con đường mang tên hạt này, nằm ở rìa quận Hoàng Hậu. Đây cũng là nơi đặt trụ sở Sở Cảnh sát thủ đô.

Nhiều người chọn sống ở đây vì an toàn. Rafter Pound là một trong số đó.

Trong căn nhà mặt tiền số 29, Tòng nam tước mặc đồ ngủ bằng vải bông chần đứng bên cửa sổ đóng kín, nhìn chằm chằm vào Sở Cảnh sát Sivellaus ở góc chéo đối diện. Ông ta vừa mới bước qua tuổi tứ tuần, vậy mà tóc hai bên thái dương đã bạc trắng, mắt sưng múp, mặt đầy nếp nhăn, cơ thể dường như lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu.

Đằng sau Rafter là vài món nội y nữ rách nát vứt tứ tung trên sàn nhà, xa hơn chút là lò sưởi đang cháy.

Tòng nam tước nâng ly, uống cạn phần rượu còn lại trong một hơi, rồi chậm rãi bước về phía cửa, định quay lại phòng ngủ để nghỉ ngơi.

Vì không có ống dẫn nhiệt từ lò sưởi, ông lập tức cảm nhận được cái lạnh buốt thấu xương của cuối thu ngay khi rời phòng khách.

“Khốn kiếp!” Rafter Pound lầm bầm chửi rủa, loạng chà loạng choạng đi đến phòng ngủ, vặn tay nắm cửa.

Phòng ngủ tối om, chỉ có duy nhất luồng ánh sáng đỏ nhạt lọt vào trong. Vừa chuẩn bị đóng cửa lại và nằm vật ra giường, Rafter đột nhiên sững người.

Một bóng người mặc quần áo màu xám xanh, đội mũ cát két màu tối đang ngồi yên trên chiếc ghế đặt cạnh tấm rèm. Toàn thân hắn khuất trong bóng tối. Cảm nhận được cái nhìn chăm chú từ Tòng nam tước Pound, hắn chậm rãi ngẩng lên.

Một khuôn mặt được phủ đầy sơn đỏ, vàng và trắng, trông hệt như một chú hề vui nhộn hiện ra!

Rafter toan tri hô rồi xoay người bỏ chạy thì trông thấy khẩu súng lục chĩa vào mình, nghe thấy hai câu nói trầm khàn, “Tôi khuyên ông đừng làm gì dại dột. Nếu ông hợp tác, tôi sẽ không làm hại ông, cũng không cướp mất tài sản của ông. Đấy là nếu ông vẫn còn tài sản.”

Biểu cảm trên mặt Rafter Pound thay đổi mấy lần. Ông ngoan ngoãn đóng cửa phòng ngủ lại, hơi giơ tay lên và ngồi xuống mép giường.

“Mi, mi muốn gì ở ta?” Ông ợ ra một hơi rượu, run rẩy nhắc nhở, “Sở Cảnh sát Sivellaus ở ngay bên kia đường!”

“Tôi biết. Có điều, khoảng cách giữa tôi và ông còn gần hơn là Sở Cảnh sát Sivellaus đấy.” Trong lốt tên hề, Klein dùng giọng nói và ngữ điệu đã thay đổi để cảnh báo, “Với cả tôi chỉ muốn hỏi ông vài câu thôi.”

Trước khi đến Phố Sivellaus, Klein đã tiến hành bói toán trong không gian bí ẩn trên Sương Mù Xám để kiểm tra xem chuyến đi này có nguy hiểm không. Kết quả cho thấy nó rất an toàn.

“Vài câu?” Môi Rafter run rẩy, đoạn nở nụ cười cay đắng, “Lại nữa… Ta vĩnh viễn không thể trốn khỏi cơn ác mộng này sao?”

“Nhiều người tìm hỏi lắm à?” Klein tiếp tục chủ đề.

“Hỏi đã là gì! Kể từ bác họ ta, lão Tử tước được mọi người kính trọng, qua đời, xung quanh ta thường xuyên xảy ra chuyện. Ông quản gia hiền hậu đột nhiên từ chức không lý do rồi mất hút. Mấy người hầu nam và hầu gái tự dưng thay đổi hết đợt này đến đợt khác, đều trở nên lạnh lùng và xa cách. Họ đang tìm thứ gì đó… Đúng vậy, tìm thứ gì đó… Lúc đấy ta còn chưa đầy mười tuổi, chỉ biết nhìn mà không dám nói với ai. Ta rất sợ… sợ một khi ngủ thiếp đi sẽ không bao giờ tỉnh dậy được nữa!” Rafter trả lời, vẻ hơi cuồng loạn.

Tìm kiếm? Tìm kiếm công trình dưới lòng đất hay kho báu của gia tộc Pound? Chẳng hạn như đặc tính phi phàm và những vật phẩm thần kỳ được chôn gần Ác Linh? Vương thất và giáo hội hẳn đã nhận ra điều gì đó. Thượng tầng chắc chắn đều biết về định luật bảo toàn và bất diệt của đặc tính siêu phàm. Thế nên mấy thứ như vậy của một gia tộc đã suy toàn như Pound ắt sẽ bị thu hồi mới đúng? Trừ phi lão Tử tước đã bỏ ra một khoản lớn mua thêm đặc tính phi phàm và vật phẩm thần kỳ cùng loại để giấu công trình dưới lòng đất kia… Klein bình tĩnh nghe hết từ đầu đến cuối, nghĩ ra rất nhiều phỏng đoán.

Trông anh có vẻ buông lỏng, thực chất luôn sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Anh hỏi, “Chuyện này kéo dài bao lâu?”

“Ta không biết, ta biết thế nào được! Xung quanh ta toàn là những gương mặt xa lạ. Làm thế quái nào ta có thể xác định đám người còn lại không phải đồng phạm chứ? Ha ha, ta giả vờ như không biết gì cả, sống trong sợ hãi suốt mấy năm trời. Rồi ta nghe theo những lời dụ dỗ của bọn chúng, bắt đầu chè chén say sưa, chơi gái, đánh bạc, hút ma túy, làm đủ thứ để biến mình thành kẻ vô dụng!” Rafter Pound bật ra tiếng cười bất ổn, “Cuối cùng bọn chúng cũng yên tâm, ngừng theo dõi ta. Rồi khi ta bán căn nhà đó đi, chúng, ha, biến mất, không biết đi đâu. Không, bọn chúng hẳn vẫn còn âm thầm giám thị ta, ngăn cản ta liên hệ với cảnh sát!”

Người này điên rồi… Không biết ông ta nói thật hay nói dối, màu sắc tâm trạng thay đổi rất hợp lý, nhưng nhỡ ông ta chỉ đang cảm thấy có lỗi với lão Tử tước và tự tạo ra màn kịch này trong đầu để biện minh cho hành vi phóng túng của mình, rồi liên tục tự ám thị đến mức hoàn toàn tin vào chuyện đó thì sao… Là một “anh hùng bàn phím” giỏi giang, thứ gì cũng biết một tí, Klein từng chứng kiến nhiều trường hợp tương tự trong kiếp trước.

Anh suy nghĩ chừng hai giây rồi hỏi, “Mấy người đó hỏi ông chuyện gì?”

“Hỏi hai đứa con của lão Tử tước chết thế nào, hỏi lão Tử tước có hành động gì lạ trong mấy năm qua không. Lúc đó ta còn chưa đến mười tuổi, ta chẳng biết gì cả!” Rafter vung tay, không kìm được mà gầm lên.

“Bình tĩnh, bình tĩnh nào.” Klein hạ tay trái xuống, đổi sang chủ đề khác, dò hỏi vòng vo xem Tòng nam tước Pound có biết về công trình ngầm kia không.

Một người hỏi, một người đáp. Thời gian trôi qua cực nhanh. Klein cất giọng khàn khàn, “Xem ra ông chẳng biết gì cả. Xin lỗi nhé, phiền ông rồi, tôi phải đi đây.”

Anh đứng lên, hơi cúi người chào, thể hiện phong thái của người có học.

Gần như ngay tức khắc, vẻ hoảng loạn và kích động trên mặt Rafter Pound biến mất. Đôi mắt xanh nhạt của ông bỗng trở nên sâu thẳm lạ thường, trông như thể đang dò xét điều gì đó. Thấy kẻ đột nhập mặc đồ hề chuẩn bị đứng thẳng dậy, ông ta lập tức khôi phục biểu cảm vừa rồi: bi phẫn, điên cuồng, cay đắng và điên loạn.

Ngay lúc đó, một âm thanh đậm chất thần bí thình lình vang lên bên tai ông ta.

“Đỏ thẫm!”

Klein rót linh tính vào [Bùa Ngủ Say], dùng tay trái không cầm súng ném nó về phía Rafter.

Giữa tiếng thiêu đốt lách tách, cảm giác bình yên sâu lắng lan tỏa, bao trùm Tòng nam tước, khiến ông ta tự động nhắm mắt lại, thân thể mềm oặt ngã ngửa ra giường.

“Tôi xin lỗi. Mấy câu hỏi kia là để so sánh với những gì sắp xảy ra thôi. Tiếp theo còn phải đi vào giấc mơ và giao tiếp với thông linh nữa.” Klein vỗ nhẹ lên bộ đồ ngủ trên người Rafter rồi đặt tay lên ngực và cúi chào lần nữa. Sau đó, anh sử dụng [Bùa Mơ], trở thành “Ác Mộng” đi vào giấc mộng của đối phương.

Trong thế giới mờ xám đầy những hình ảnh rời rạc lập lòe, Klein tỉnh táo và lý trí bước bên cạnh Rafter. Anh nhìn thấy ông ta lần lượt gặp gỡ những người hầu gái và hầu nam không có mặt, không có ngũ quan, vô cùng đáng sợ; nhìn ông ta luôn bắt gặp một khuôn mặt già nua im lặng dõi theo mỗi khi quay đầu hay nghiêng mặt; nhìn ông ta co ro trong góc khuất, dần bị bao phủ bởi tấm lưới dày đặc của bóng tối.

Điều này trùng khớp với những lời ông ta đã nói ra… Klein thử dẫn dắt giấc mơ nhằm tìm hiểu ngọn ngành sự việc. Thế nhưng Tòng Nam tước Pound có vẻ đã bị chấn thương nghiêm trọng bởi những chuyện đó. Ngay cả kích thích nhẹ cũng khiến ông ta la hét và chạy trốn như điên. Vì vậy Klein chẳng thể đạt được thông tin mới.

Anh đành thoát khỏi giấc mơ, ném thêm một [Bùa Ngủ Say] khác lên người Rafter Pound, rồi lấy mấy loại nguyên liệu như nước thơm “Amantha” ra để làm lễ thông linh.

Tự hồi đáp chính mình xong, linh tính Klein xuyên qua cơn bão tư duy, trông thấy hình bóng hư ảo của người kia, một hình bóng hư ảo được xây dựng dựa trên thể tâm trí.

“Trước khi mất, lão Tử tước có nói gì với ông không?” Klein thốt ra câu hỏi đã được suy nghĩ kỹ càng.

Rafter Pound ngơ ngác đáp lại, “Ông ấy muốn ta duy trì gia tộc.”

“Còn gì nữa không?” Klein hỏi lại với giọng chắc nịch.

“Nhớ kỹ vinh quang của tổ tiên.” Rafter mờ mịt đáp.

Klein gật nhẹ và hỏi, “Những người kia đang tìm kiếm cái gì vậy?”

“Ta không biết.” Rafter vẫn giữ đáp án khi nãy.

Klein tiếp tục đặt câu hỏi, so sánh với những câu trả lời trước đó, rồi kết luận Tòng nam tước Pound không nói dối. Mọi lời ông ta nói đều là sự thật.

Đã đến mức này, anh không định nán lại lâu hơn. Anh xuyên qua cơn bão tư duy của đối phương, để linh tính đã lan ra trở về thân thể mình. Đoạn, anh dọn dẹp hiện trường đâu vào đấy, rồi lấy [Còi Đồng Azik] ra ném vài lần, lợi dụng vị cách của nó để quấy nhiễu kết quả điều tra bói toán có khả năng sẽ xảy ra.

“Cảm ơn ông đã hợp tác, Tòng nam tước.” Xong xuôi, Klein với vẻ mặt sơn xanh sơn đỏ như một tên hề, lại cúi đầu hành lễ. Rồi anh xoay người, mở cửa sổ ra, nhảy ra đường và biến mất trong màn đêm bao la.

Một lúc sau, Rafter Pound mở bừng mắt. Bao quanh con ngươi màu lam nhạt có một mạch máu vỡ ra!

Ông ta bỗng ngồi bật dậy, nhìn chằm chằm cửa sổ lồi mở toang.

…

Sau khi đi một vòng lớn quanh quận Đông, Klein rửa sạch ngụy trang, đổi sang quần áo bình thường rồi trở về số 15 phố Minsk ở quận Cherwood như thể không có chuyện gì xảy ra. Anh cũng không lập tức nghỉ ngơi hay nghĩ ngợi về chuyện xử lý công trình dưới lòng đấy, mà lại một lần nữa tiến vào màn sương xám.

Ở đầu chiếc bàn dài cổ xưa, Klein chậm rãi mở lòng bàn tay ra, để lộ vài sợi tóc màu nâu của Rafter Pound, thứ anh đã thu thập được trước khi tiến vào giấc mơ của đối phương.

Vẫn còn bước cuối cùng: xác nhận bằng phép bói toán trên màn sương xám…

Klein nhủ thầm, hiện thực hóa bút và giấy, viết nội dung đã sớm được cân nhắc:

Tương lai của Rafter Pound.

Tôi muốn biết những điều ông ta sẽ gặp phải trong tương lai, thông qua đó để xác minh quá khứ!

Klein ngả người ra ghế, lẩm bẩm câu bói toán.

Vì công trình cổ xưa kia liên quan đến sáu vị thần chính thống, anh sợ bói trực tiếp sẽ gặp chuyện không hay. Thế nên, anh đã đổi hướng tiếp cận khác bằng cách bói về tương lai của Rafter Pound!

Klein nhẩm đủ bảy lần trong khi nắm tóc của Tòng nam tước rồi nhắm mắt lại, chìm vào giấc ngủ sâu nhờ nhập định.

Trong thế giới xám xịt mờ ảo, anh trông thấy một lỗ hổng vừa hẹp vừa lồi lõm. Rafter Pound có đôi mắt sưng vù và tóc mai điểm bạc dùng khuỷu tay chống đất, lê lết như một con bò sát rồi chui ra ngoài từ đó.

Giây tiếp theo, hình ảnh thay đổi, ông ta đột nhiên lấy ra một huy hiệu bằng sắt đen không rõ từ đâu, đoạn đeo nó lên ngực. Trên huy hiệu có khắc hình một bàn tay đang siết chặt quyền trượng!

“Tudor!” Klein choàng tỉnh, ngồi bật dậy.

Cô vệ sĩ từng nói rằng hình khắc trên chiếc huy hiệu sắt đen kia chính là gia huy hoàng thất của Đế quốc Tudor Đệ Thứ Tư. Nó giống hệt thứ anh từng thấy trong khu kiến trúc cổ nọ!

“Rafter Pound ắt không đơn giản như bề ngoài…” Klein day trán, lẩm bẩm.

Thân là “Nhà Bói Toán”, anh có cách giải mã riêng về những gợi ý trong mơ. Một mặt, đó là những hành động mà Rafter Pound sẽ làm trong tương lai. Mặt khác, điều này chứng tỏ ông ta có liên hệ mật thiết với gia tộc Tudor!

Trong ba thử thách gồm hỏi đáp trực tiếp, thâm nhập giấc mơ và thông linh, Rafter Pound không để lộ bất kỳ sơ hở nào, cũng không có dấu hiệu bất thường. May mà mình còn để lại một chiêu, không là ăn phải cú lừa của ông ta rồi, ừm… cũng có thể ông ta hiện không biết gì hết, lúc nãy cũng chẳng cần diễn vì vốn là thế rồi, mai sau mới tình cờ gặp được cơ hội tiếp xúc với gia tộc Tudor…

Khả năng cao là ông ta đã sớm biết được nhiều chuyện từ lão Tử tước. Vì chưa nắm chắc, ông ta đã cố tình sa đọa và giả ngây giả dại. Sở dĩ ông ta qua mặt được phép nhập mộng và thông linh của mình là nhờ năng lực siêu phàm nào đó. Ờm… Hẳn lúc đó ông ta không hề diễn, mà thực sự rơi vào trạng thái ngơ ngơ ngác ngác. Không thì ông ta đã để lộ sơ hở trước mặt người giàu kinh nghiệm như mình rồi…

Năng lực phi phàm đó là gì nhỉ? Ông ta có Danh Sách mấy? Hay là kiểu sinh ra đã có năng lực phi phàm?

Klein càng nghĩ càng thấy đi vào ngõ cụt. Anh vội dứt khỏi nó, đổi góc nhìn khác, thầm nhủ:

“Rafter Pound có mối liên hệ sâu sắc với gia tộc Tudor… Xem ra có thể mạnh dạn giả định ông ta là hậu duệ của gia tộc này? Nếu ông ta thực sự có mối quan hệ huyết thống với lão Tử tước thì hay rồi đây.

“Toàn bộ gia tộc Pound là một nhánh của gia tộc Tudor từng phải thay tên đổi họ để tránh bị truy sát? Họ đã lập được chiến công, đạt được tước vị, từng bước trở lại trung tâm quyền lực, đồng thời ngấm ngầm tìm kiếm những tàn tích bí mật còn sót lại ở Backlund từ thời Đế quốc Tudor. Nhiều năm trôi qua, họ cuối cùng cũng đạt được thành quả. Vì vậy, họ đã mua lại ngôi nhà hiện thuộc về Miller Carter, xây dựng một tầng hầm đồ sộ để tiện bề thăm dò khu vực đó.

“Ba mươi hoặc bốn mươi năm trước, họ đã tìm thấy di tích và xây một cánh cửa bí mật dẫn vào đó. Nhưng trong quá trình khám phá, biến cố đã xuất hiện. Tên Ác Linh kia không hề để tâm đến cái mác ‘hậu duệ Tudor’. Hai người thừa kế của lão Tử tước nối gót nhau bỏ mạng ở căn phòng trong cùng, đến cả đặc tính phi phàm lẫn vật phẩm thần kỳ cũng không thể lấy lại.

“Mặc dù lão Tử tước đã chi một khoản tiền khổng lồ để mua đặc tính phi phàm tương tự, nhằm phủ một lớp vỏ bình thường lên cái chết của hai người thừa kế, nhưng cái chết bất đắc kỳ tử đó liên tiếp vẫn khiến vương thất và giáo hội nghi ngờ. Thế nên, sau khi lão Tử tước qua đời, Rafter Pound đã cố tình phóng đại và bóp méo cuộc điều tra bí mật năm đó, giả vờ bị tổn thương tâm lý vì quá sợ hãi, rồi sa đà vào rượu chè và cờ bạc để thoát khỏi sự chú ý.

“Điều này giải thích được thắc mắc trước đó của mình. Cả một gia tộc Tử tước danh giá thế kia mà lại bị kẻ bí ẩn chẳng rõ từ đâu tới kiểm soát, chẳng lẽ vương thất với giáo hội đều bị đui mù hết rồi hay sao? Kể cả muốn thao túng, người ta cũng sẽ dùng cách mềm mỏng hơn, kín kẽ hơn, ví dụ như sử dụng năng lực Danh Sách 6 - ‘Người Không Mặt’ trong Con Đường của mình.

“Ngay cả một đứa bé cũng cảm nhận được điểm dị thường, huống chi là những cường giả thuộc vương thất và ba Đại Giáo hội? Lý do duy nhất khiến họ ‘không biết’ là vì chính họ đã phái người đến.

“Ừm… Mình đoán hồi đó gia tộc Tudor và Trunsoest đều nắm giữ Con Đường ‘Hắc Hoàng Đế’. Vì nhập vai, vương triều họ lập nên mới giữ lại phong cách và nét đặc sắc của Đế quốc Solomon. Cô vệ sĩ hình như đã gián tiếp xác nhận chuyện này.

“…Danh Sách 9 của Con Đường ‘Hắc Hoàng Đế’ là ‘Luật Sư’, một chức nghiệp phi phàm cực kỳ am hiểu lách luật. Chà… Năng lực giúp Rafter Pound qua mặt được phép nhập mộng và thông linh đến từ Danh Sách này? Hay là Danh Sách cao hơn? Ông ta tỏ ra rất hợp tác. Nhưng ngay cả trong mơ và lúc tâm trí mơ hồ, ông ta vẫn vô thức lợi dụng những sơ hở trong quy tắc, khiến kết quả nghiêng về hướng mà ông ta mong muốn?

“Ngẫm lại mới thấy, trong quá trình thông linh, Rafter Pound không hề nói dối, nhưng đó chỉ là một nửa sự thật… ‘duy trì gia tộc, nhớ kỹ vinh quang’ có thể là gia tộc Pound, cũng có thể là gia tộc Tudor…”

Tư duy của Klein dần trở nên rõ ràng. Đối với việc này, anh đã có cái nhìn tổng quát: Thái độ hiện giờ của Rafter Pound cho thấy con Ác Linh chắc chắn không thể thoát ra nếu không có ai giúp sức. Không thì vị Tòng nam tước kia đã tìm cách tự cứu từ lâu rồi. Bất kể Ác Linh có tìm đến ông ta hay không, một khi Nó xé toạc phong ấn, gây ra tai họa, bí mật về công trình dưới lòng đất chắc chắn sẽ bại lộ trước vương thất và giáo hội. Tới lúc đó, ông ta ắt sẽ bị vạ lây… Căn phòng đối diện đã sụp đổ nhưng không ảnh hưởng đến sức mạnh giam giữ Ác Linh. Nói cách khác, chỉ cần căn phòng trong cùng không trực tiếp bị phá hủy, Ác Linh sẽ không thể thoát khốn…

Ừm.. mình biết phải làm gì rồi, mua thuốc nổ từ Kaspars, phá sập cửa để không ai vào được nữa, chôn vùi Ác Linh kia dưới lòng đất vĩnh viễn. Hừ, đợi đến khi đủ thực lực,  mình có thể cân nhắc xử lý nó, loại bỏ mối nguy hiểm tiềm tàng này giúp người dân Backlund, tiện thể lấy vài thứ có giá trị…

Nhưng làm thế nào để phá dỡ mà vẫn an toàn nhỉ? Mình chẳng biết gì cả… Biết đâu Kaspars có quen biết thợ nổ mìn, dù sao lão cũng là tay buôn vũ khí chợ đen mà.

Klein nhanh chóng chốt hạ phương án, quyết định tìm gặp Kaspars vào tối mai, cố gắng giải quyết dứt điểm công trình dưới lòng đất trong vòng một tuần. Anh không muốn tiếp tục đào sâu về mối quan hệ thực sự giữa gia tộc Pound và gia tộc Tudor cũng như biểu hiện bất thường của Rafter.

“Liên quan gì đến mình chứ!” Klein lẩm bẩm, tức khắc rơi vào màn sương xám, quay về thế giới thực.

Sáng thứ Sáu, Klein ra ngoài sớm như thường lệ, giả vờ bận rộn. Thực tế, anh lại mò đến Câu lạc bộ Quelaag, dành gần hết ngày để luyện bắn súng và đọc báo, khá là nhởn nhơ.

Đến giờ trà chiều, anh chuẩn bị rời khỏi đây, lại bất ngờ trông thấy cố chủ Mary Gale và giáo viên dạy cưỡi ngựa Talim Dumont song song tiến vào câu lạc bộ. Đi cùng họ là nhiều quý ông bận áo khoác dài hai hàng cúc và mấy quý bà ăn mặc xúng xính. Trong số đó có cả phóng viên Mike Joseph của tờ Quan Sát Hàng Ngày.

“Ô hô, thám tử Moriarty, khéo thật đấy.” Mike, người có đôi mắt quyến rũ nhưng làn da lại thô ráp, hồ hởi chào.

Klein mỉm cười đáp lại, “Anh phóng viên đấy à, anh xong bài phóng sự điều tra chưa?”

“Xong rồi, nhờ anh cả đấy! Giới thiệu với mọi người, đây là thám tử lừng danh Sherlock Moriarty, bạn tốt của Talim.” Mike vung tay giới thiệu.

Đợi nhóm người kia chào hỏi Klein xong, Mike tiếp tục, “Tôi đại khái biết Capim là ai rồi. Nào rảnh tôi kể chi tiết cho. Nói chung, tôi dám chắc Sibel chết trong tay một kẻ bắt chước chứ không phải tên sát nhân hàng loạt kia. Ha ha, mai, ngày mai anh sẽ thấy bài phóng sự điều tra của tôi trên báo.”

“Đúng như tôi suy luận.” Klein cười đáp.

Như sực nhớ ra điều gì đó, Mike ngoảnh sang Mary Gale, “Tôi với bà làm một phỏng vấn đi, chủ đề là tình trạng ô nhiễm không khí ở Backlund và phương hướng giải quyết. Có điều, bà cần liên lạc với tổng biên tập bên tôi trước để chốt trang với thời gian.”

Mắt Mary lập tức sáng rực, “Tuyệt vời, cảm ơn anh! Mike, sao tôi không nghĩ ra cách hay như vậy nhỉ?”

Phô trương thanh thế để lót đường vào Ủy ban Điều tra Ô nhiễm Không khí Vương quốc sao? Vị phóng viên Mike này lọc lõi thật… Tờ Quan Sát Hàng Ngày không phải là một trong những tờ báo hàng đầu, nhưng vẫn có lượng phát hành khá lớn… Hôm nay Mary đột nhiên đến đây là vì mấy người nghị sĩ Hạ viện thường lui tới câu lạc bộ này sắp đến? Mô hình câu lạc bộ tư nhân quả thực thích hợp với chính trị và kinh doanh… Lờ mờ nhận ra vấn đề, Klein lập tức chào tạm biệt. Trước khi trở thành “Người Không Mặt”, anh không muốn vướng vào mấy chuyện liên quan đến giới thượng tầng của Vương quốc.

…..

Lúc chạng vạng, trong một căn hộ nào đó ở quận Đông.

Trải qua ngày dài bận rộn, Williams bước vào căn phòng trọ chật chội, tính thay áo khoác và lấy chút tiền lẻ để ra quán nhậu.

Bỗng, hắn dừng động tác mặc áo lại. Trong hoàn cảnh tối om đó, hắn bắt gặp một bóng đen đứng bên cửa sổ, gương mặt hoàn toàn khuất dưới bóng mũ trùm.

“Ai sai mày đi tìm Lanevus?” Bóng đen hỏi, giọng trầm đục, rề rà.

Williams thoăn thoắt khoác áo vào, nuốt nước bọt và nói, “Một đứa bạn của tôi, thợ săn tiền thưởng.”

Thợ săn tiền thưởng là những kẻ mạo hiểm sống dựa vào bảng treo thưởng. Hạng người này nhan nhản ở quận Đông và Backlund.

“Nó tự dưng tìm kiếm Lanevus làm gì? Lệnh truy nã đó đã cũ rồi.” Bóng đen kia rất cao. Gã chậm rãi bước đến trước mặt Williams.

“Tôi không biết. Chắc cô ta chỉ định thử thôi.” Williams lùi lại một bước nhỏ.

Bóng đen gằn giọng, “Nó là ai?”

Williams lập tức rơi vào tình thế khó xử. Vài giây sau, hắn run rẩy nói, “Xio… Xio Deracha. Tôi không biết cô ta sống ở đâu.”

“Rất tốt, rất trung thực.” Bóng đen vỗ vai hắn rồi xoay gót ra cửa mà không hỏi thêm.

Williams thầm thở ra một hơi, tin rằng kinh nghiệm từ những năm tháng lăn lộn giang hồ đã cứu được mình –  đã yếu thì đừng ra gió!

Đúng lúc này, hắn thấy bóng đen búng tay.

Bụp!

Ý thức Williams đứt phựt. Thân xác hắn tức thì chia năm xẻ bảy, văng tứ tung, máu thịt bầy hầy vương vãi khắp tường và sàn.

Ngay sau đó, bóng đen bẻ gãy đường ống dẫn khí đốt. Trong tiếng xì xì xì, gã nhặt cây nến trên bàn Williams lên rồi vuốt nhẹ bấc.

Nháy mắt, bóng đen biến mất. Vài phút sau, cây nến tự động bùng cháy! Một tiếng nổ long trời vang lên, nuốt chửng tất cả.

Sau bữa tối, trong phòng bi-a của quán rượu Người Dũng Cảm.

Hôm nay, Klein mặc chiếc áo khoác đen đơn giản và đội mũ sẫm màu. Anh bưng cốc bia Southville, tiện tay khép cửa phía sau lại, bước đến chỗ Kaspars đang khom lưng ngắm nghía lỗ bi.

Trước khi anh kịp nở nụ cười chào hỏi, Kaspars đã hạ tay cơ, đứng thẳng dậy rồi nhìn sang, “Maric không có ở đây. Cũng chả có cái hội nào để mi tham gia đâu. Tau chỉ có vũ khí thôi.”

Nhuần nhuyễn rồi đấy! May mà hôm nay mình có mục đích khác… Klein nhếch khóe môi, “Tôi đến đây để mua vũ khí mà.”

Maric lại không có ở đây… Xem chừng cứ điểm này bị lộ rồi. Họ đã rơi vào tầm ngắm của kẻ thù, nên dứt khoát đổi chỗ luôn… Thế này thì đứt liên lạc với cô vệ sĩ luôn à… Với cả, mình đang tính mượn xác sống của Maric để dọa Miller Carter, mấy thứ đó đều kín miệng, nghe lời, lại còn không sợ chết… Ừm, điều kiện tiên quyết để chúng “nghe lời” là dùng linh tính che đậy ảnh hưởng từ [Còi Đồng Azik]… Vừa nói, Klein vừa suy nghĩ miên man.

Kaspars hơi bất ngờ. Lão hồ nghi gác cơ bi-a sang một bên, xoa xoa cái mũi đỏ gay rồi hỏi, “Mi tính mua gì? Dùng hết mớ đạn trước rồi à? Tập chăm đấy.”

Đâu có, tôi luyện tập bằng những viên đạn tôi mua thêm ở Câu lạc bộ Quelaag mà… Klein ngậm cười trả lời, “Tôi muốn mua thuốc nổ, loại hay dùng trong hầm mỏ ấy.”

“Mi định làm gì hả?” Kaspars buột miệng hỏi, nét mặt lập tức trở nên nghiêm nghị và cứng rắn. “Nghe này, mi đừng có mà làm loạn, tau không bao giờ cho phép khách hàng của mình khiêu khích Sở Sivellaus! Tất nhiên, mi không nhất thiết phải mua vũ khí từ tau.”

Làm tay buôn vũ khí chợ đen mà thọ được đến giờ, xét ở khía cạnh nào đó, Kaspars vẫn rất tuân thủ quy tắc. Chí ít lão không bán hàng cho mấy thằng điên… Klein lại vô thức đánh giá theo quan điểm của một Kẻ Gác Đêm, miệng vẫn cười nói, “Hình như ông hiểu lầm tôi rồi. Tôi đâu có định phá két sắt ngân hàng hay tạo tin giật gân. Tôi chỉ phá dỡ công trình hộ người ta cho dễ bề cải tạo thôi.”

“Thế sao không mướn công ty xây dựng tử tế mà làm?” Kaspars vẫn chưa hết cảnh giác.

“Ha ha, đấy là mật thất. Ông ta không muốn người ngoài biết.” Klein đổi chủ đề, “Hay ông quen thợ nổ mìn nào đáng tin không? Tôi mù tịt khoản này, nhỡ mà hủy luôn cả nhà thì toi.”

Thấy đối phương còn cân nhắc đến chuyện giữ gìn ngôi nhà nguyên vẹn, mối nghi ngờ trong lòng Kaspars cũng tiêu tán không ít.

Ngay lúc ông ta cân nhắc câu trả lời, một giọng nói như vọng tới từ nơi xa xăm bỗng vang lên trong phòng, “Không cần đâu.”

Cảm giác quen thuộc ùa về. Klein quay ngoắt lại, thấy cô vệ sĩ thình lình ngồi ở góc phòng. Cô vẫn diện bộ váy bồng cung đình kiểu Gothic màu đen, đội chiếc mũ mềm nhỏ nhắn cùng màu. Khuôn mặt vẫn nhợt nhạt như xưa, mái tóc vàng óng ả làm tôn lên nét thanh tú trên gương mặt.

“Chào buổi tối, thưa cô.” Klein hơi khom lưng chào.

“Chào buổi tối, cô Sharron.” Kaspars cũng làm động tác tương tự.

Vậy ra tên cô là Sharron… Với vẻ suy tư, Klein chờ đối phương lên tiếng.

Người phụ nữ được gọi là Sharron đưa mắt sang Kaspars và nói, “Maric sẽ không quay lại đây nữa. Nếu ông có việc cần tìm anh ta thì cứ để lại lời nhắn theo phương pháp đã thỏa thuận thứ ba.”

“Vâng, thưa cô Sharron.” Dù là một ông lão từng trải, Kaspars dường như vẫn không hết sợ hãi cô vệ sĩ.

Nghe vậy, Klein xen vào, “Giả sử, ý tôi là giả sử nhé, tôi muốn nhờ Maric giúp thì liên lạc với anh ta kiểu gì?”

“Tìm Kaspars.” Sharron đáp cụt lủn.

“Được rồi.” Klein nhún vai, “ừ” một tiếng rồi nói, “Cô vừa nói không cần thợ nổ mìn là sao?”

Đôi mắt xanh của Sharron chẳng chút gợn sóng, “Tôi là đủ.”

Cô á? Cô chính là thợ thổ mìn á? Từ từ, cô là Kẻ Phi Phàm có năng lực đặc biệt, ít nhất cũng cỡ Danh Sách 5 mà? Còn lấn sang nghề thợ nổ mìn nữa làm gì… Klein ngẩn người, nhất thời nghẹn họng.

Cuối cùng, anh chọn tin cô vệ sĩ, ngẫm nghĩ một thoáng rồi nói, “Tôi đã đến thăm…”

Anh ngừng lời, liếc sang Kaspars, ngầm ám chỉ nội dung tiếp theo không dành cho người thường.

Xét về mặt thể chất, tay buôn vũ khí chợ đen đúng là người bình thường… Klein thầm bổ sung.

Sharron quay sang Kaspars, “Ông đi chuẩn bị thuốc nổ đi. 2 Bảng. Anh ta trả.”

“Vâng, thưa cô Sharron.” Kaspars liếc nhìn Klein rồi tập tễnh rời phòng bi-a, không quên đóng cửa lại.

Thấy cô vệ sĩ lẳng lặng nhìn mình, Klein bỗng có cảm giác như bị nữ quỷ dòm ngó. Anh vội châm chước lời nói rồi mở miệng, “Tôi đã dò được địa chỉ của Tòng nam tước Pound và đến thăm ông ta vào nửa đêm…”

Klein thuật lại hết những gì Rafter Pound đã kể rồi bắt đầu trổ tài suy luận, lần ngược từ kết quả đến quá trình, “Tôi nghĩ ông ta đã nói dối khá nhiều. Một gia tộc Tử tước khó mà bị ai đó ngấm ngầm khống chế như thế. Ngay cả một đứa con nít còn nhận ra điều bất thường, cớ sao vương thất và giáo hội lại không phát hiện được gì chứ?”

“Kể từ khi Rafter Pound sa đọa, ông ta không thiếu cơ hội tiếp xúc với người ngoài cũng như quý tộc. Chỉ cần ông ta can đảm chút xíu, vấn đề sẽ được giải quyết dễ dàng. Thế nên, tôi cho rằng ông ta đang giấu giếm vài việc, rất có thể nó liên quan đến công trình dưới lòng đất kia.”

“Tình trạng của ông ta cho thấy thực thể nghi là Ác Linh đó sẽ còn bị mắc kẹt ở đó rất lâu. Vì vậy tôi định kiếm ít thuốc nổ, đánh sập cửa để ngăn những người khác ra vào… Khụ, tôi sợ ai không biết lại thả tên Ác Linh đó ra.”

“Ừm.” Cô vệ sĩ Sharron đáp, không xác nhận hay phủ định phỏng đoán của Klein.

Klein thoáng do dự rồi hỏi, “Tôi không biết gì về bộc phá, nên định vẽ sơ đồ bố trí rồi thuê thợ nổ mìn xác định vị trí đặt thuốc nổ và khối lượng phù hợp. Nếu, nếu tôi lại nhờ cô thì cần trả bao nhiêu?”

Đắt quá là tôi đi tìm thợ đấy nhé. Dù sao tôi chỉ kiếm được 50 Bảng từ vụ này, còn cô ba ngày đã 1.000 Bảng rồi… Klein lên sẵn kế hoạch dự phòng.

“Miễn phí.” Câu trả lời của Sharon vẫn cô đọng như mọi khi.

Miễn phí? Klein không khỏi giật mình. Với anh, thứ miễn phí luôn là thứ đắt nhất!

Sharron ngồi im một lúc, vài giây sau mới giải thích thêm đôi câu, “Một khi đánh sập lối vào, tôi sẽ là người duy nhất có thể ra vào đó. Ấy chính xác là điều tôi muốn làm.”

Nói cách khác, khi nào nắm chắc phần thắng, cô sẽ diệt Ác Linh và lấy mấy thứ bên trong? Đánh sập lối vào là giúp cô loại bỏ những kẻ phá đám và tham lam. Dù sao Kẻ Phi Phàm thuộc Danh Sách khác không có biện pháp xuyên qua đất đá như linh thể… À, ngoại trừ Con Đường “Người Học Việc”, mà họ có biết về công trình dưới lòng đất đó đâu…

Klein gật đầu với vẻ hiểu biết, “Đồng ý!”

Dứt lời, anh vội vàng bồi thêm, “À… cô nhớ mượn mấy người của Maric, mấy người biết giữ mồm giữ miệng ấy, giúp tôi diễn cho Miller Carter xem.”

“Được.” Sharron không từ chối.

Klein cố tình lờ vụ thù lao, nhoẻn cười bảo, “Vậy mười giờ sáng mai nhé, chúng ta phải đến đó khảo sát địa hình trước, tránh gây thiệt hại quá lớn cho xung quanh.”

Sharron hơi gật đầu. Bóng dáng cô mờ dần rồi biến mất.

…

Sáng thứ Bảy, Xio Derecha lại bắt xe ngựa công cộng đến quận Đông nhằm nghiệm thu tiến độ nhiệm vụ mà cô đã giao.

Trong lúc chờ chuyển tuyến, cô bỗng nổi hứng đọc báo, bèn mua tờ Bưu Điện Backlund từ đứa trẻ bán báo bên cạnh với giá 1 Penny, rồi nhanh chóng lật xem.

Đột nhiên, cô dừng mắt ở một tin tức in trong trang ba:

[Một vụ nổ nghiêm trọng đã xảy ra vào khoảng mười chín giờ mười phút tối qua tại chung cư số 1 đường Dharavi, quận Đông. Nguyên nhân ban đầu được xác định là do rò rỉ khí đốt. Điểm nổ khởi phát từ phòng số 6, tầng 3. Người thuê trọ tử vong tại chỗ, thi thể không còn nguyên vẹn. Tính đến nửa đêm, vụ việc đã cướp đi sinh mạng của ba người và làm mười sáu người bị thương…]

Số 1 đường Dharavi… Căn hộ số 03-06… Đây, đây chẳng phải là phòng trọ của Williams sao? Anh ta chết rồi? Chết vì nổ do rò rỉ khí đốt? Không, không thể nào! Dù chỗ đó được lắp đặt đường ống, anh ta cũng chẳng bao giờ phung phí tiền vào khí đốt!

Anh ta vừa nhận việc mình giao… Hay là do chuyện đó? Thế nhưng, Lanevus vốn là tội phạm bị truy nã. Thấy có người tìm thì chuyển chỗ khác là được. Hà cớ gì phải giết người diệt khẩu? Làm thế khác nào ‘lạy ông tôi ở bụi này’…

Hành động ấy quá kỳ quái, quá cực đoan, chỉ có lũ điên mới làm vậy… Hắn rõ ràng chỉ là một kẻ lừa đảo…

Williams tội nghiệp… Tôi, tôi nhất định sẽ trả thù cho anh! Tôi nhất định sẽ tìm ra chân tướng!

Xio đau buồn và trầm lặng nhìn cỗ xe ngựa vừa dừng trước mặt. Cô không lên xe vì biết mò đến quận Đông vào lúc này rất nguy hiểm.

Cô chuẩn bị quay về thông báo cho Fors, bảo cô ấy chuyển đến nhà trọ dự bị, còn bản thân sẽ cải trang và lẻn vào quận Đông để tìm hỏi người quen, bước đầu nắm được nguyên nhân vụ việc và truy tìm tung tích hung thủ.

Than ôi, nhiệm vụ của tiểu thư Audrey đúng là luôn tiềm ẩn nguy cơ… Mình cứ đinh ninh một kẻ lừa đảo bị truy nã, miễn là không dồn hắn vào chân tường và ngăn hắn tẩu thoát, sẽ không đánh trả dữ dội… Mình quá sơ suất, mình đã hại chết Williams… Ừm, cũng không loại trừ khả năng anh ta còn điều tra thêm chuyện khác, rồi vì thế mà rước họa vào thân… Xio nhắm mắt lại, băng qua đường, đến trạm chờ đối diện.

…

Klein và cô vệ sĩ Sharron cùng đi khảo sát tình trạng mặt đất phía trên khu công trình Kỷ Thứ Tư. Xong việc, họ tới căn nhà số 8 phố Williams vào lúc mười giờ mười bốn phút.

Sharron đã biến mất. Miller Carter chỉ trông thấy thám tử Sherlock Moriarty mặc đồng phục công nhân màu xanh xám và đội cát két cùng ba gã trợ thủ lực lưỡng, lầm lì của anh.

“Mặc thế này cho dễ chui.” Klein giải thích.

Miller Carter nhìn lướt qua ba trợ thủ trông thiện chiến, gật đầu hài lòng, “Anh chuẩn bị nhanh hơn tôi tưởng. Trong số này có ai là chuyên gia đuổi rắn không?”

“Có, họ đều giỏi việc đuổi rắn.” Klein đáp dứt khoát. Xác sống thì đâu sợ bị rắn cắn?

Trong công trình ngầm u ám tối tăm, bầy rắn vừa tụ tập lại đã bị cơn gió lạnh thấu xương xua tan. Klein cầm đèn dầu đi vòng quanh đại sảnh, cẩn thận kiểm tra từng ngóc ngách xem có lối khác không. Tất nhiên, anh không dám bước vào hành lang dẫn tới căn phòng tận cùng.

Xác nhận xong, anh tự giác lùi về trước cổng, cùng ba con xác sống nhìn Sharron đặt thuốc nổ ở nhiều vị trí khác nhau.

“Trông chuyên nghiệp thật.” Klein nhỏ giọng cảm khái.

Ba xác sống không đáp lại anh. Âu cũng là lẽ dĩ nhiên. Anh vẫn luôn dùng linh tính phong ấn tác dụng phụ của [Còi Đồng Azik]. Không thì anh đã phải đối mặt với cảnh chúng nhiệt tình “phụ họa” rồi. Anh lúc đầu chẳng định mang theo chiếc còi đồng cổ xưa tinh xảo này, nhưng để phòng Ác Linh âm thầm tác quái, đành chấp nhận hao tổn chút linh tính vậy.

“Cô vệ sĩ, không, cô Sharron nói rằng cô ấy là thợ nổ mìn, xem ra không hề khoác lác tí nào… Trước kia cô ấy từng theo nghề này à? Hay là một Danh Sách nào đó thuộc Con Đường phi phàm của cô ấy chuyên về mảng này?

“Theo tư liệu mình đọc được hồi còn ở Kẻ Gác Đêm, mấy Danh Sách na ná có ‘Tội Phạm’, ‘Tù Nhân’, ‘Chiến Sĩ’, ‘Thợ Săn’ ở Danh Sách 9, ‘Cảnh Sát Trưởng’ ở Danh Sách 8, ‘Bậc Thầy Vũ Khí’ và ‘Người Giữ Tri Thức’ ở Danh Sách 7. À, ‘Người Giữ Tri Thức’ còn có biệt danh là ‘Thám Tử’, thuộc Giáo hội Thần Tri Thức Và Trí Tuệ… Mấy cái khác thì chịu…

“Không biết cô Sharron theo Con Đường nào, trông chẳng có cái nào giống, lần này cô ấy còn thể hiện cả năng lực điều khiển xác sống…”

Đương lúc Klein liên tưởng đủ thứ, Sharron đã hoàn thành việc bố trí, còn tiện tay kích nổ.

Tiện tay? Kích nổ? Ơ kìa!!! Sao không báo tôi một tiếng! Klein giật mình, sực tỉnh, cuống quýt chạy khỏi đại sảnh, đi ra hành lang bên ngoài. Ba xác sống còn lại bình tĩnh đi theo anh.

“Ở đây rất an toàn.” Sharron bất thình lình xuất hiện bên cạnh anh.

Klein thoáng thở phào, chủ động hỏi, “Đứng đây có bị bụi rớt trúng đầu không?”

“Có.” Sharron khẳng định chỉ bằng một từ.

“Thế thì được.” Klein vừa nói vừa lùi lại một bước.

Tiếng ngòi nổ cháy xèo xèo lọt vào tai khiến anh hơi bứt rứt. Nó chẳng hề bắt nguồn từ nỗi sợ vụ nổ sắp xảy ra, mà đến từ cảm giác nơm nớp lo sợ khi mọi chuyện còn chưa ngã ngũ.

“Một.” Sharron đột nhiên mở miệng.

“Hả?” Klein không hiểu ngay được ý của đối phương.

Ầm! Ầm!

Mặt đất rung chuyển dữ dội, bụi đất trên cao ào ào trút xuống. Tai Klein ù đi, mất khả năng nghe trong giây lát. Nếu không nhờ tố chất của “Tên Hề”, e rằng anh đã loạng choạng và ngã nhào ra đất rồi.

Khụ, khụ, khụ! Vì quá phân tâm, anh đã không kịp che miệng, lập tức ho khù khụ. Trước mặt anh, đất đá tảng to tảng nhỏ đổ ập xuống, nhoáng một cái bịt kín lối vào.

Giữa những rung chấn còn sót lại, Klein nắm chặt chiếc còi đồng được thầy Azik tặng, quan sát phản ứng của nó.

Anh đã xem bói và nhận được kết quả bình an vô sự. Khổ nỗi nơi này lại dính dáng đến tượng hình người của sáu vị thần chính thống. Ngay cả khi đó là gợi ý lấy trên màn sương xám, anh cũng chẳng dám tin tưởng hoàn toàn. Thế nên, để chắc ăn, anh đã dùng [Còi Đồng Azik] nhằm đánh giá xem Ác Linh có sổng ra hay không.

Bề mặt còi vẫn lạnh toát và nhẵn thín, không có dấu hiệu bất thường nào. Klein hoàn toàn yên tâm. Anh nhìn sang đám xác sống ở bên cạnh, mượn mắt chúng nhằm xác định một việc - anh hiện rất nhem nhuốc.

Thế lại hay, vừa khớp cách mình định dùng để giải thích với ông lão Miller Carter. Không uổng công mình cố tình thay quần áo khác mới tới… Anh đi đến lối vào, xác nhận nó đã bị phá hủy.

Về sau, chỉ có những Kẻ Phi Phàm cùng Con Đường với cô Sharron hoặc “Người Học Việc” mới có thể ra vào đây mà không gây náo động. Vậy là cô ta đã loại trừ được rất nhiều đối thủ cạnh tranh tiềm năng. Thể nào lại miễn phí… Klein hấp háy mắt nhìn đống đất đá, âm thầm cảm thán.

Dĩ nhiên, mình cũng làm được như vậy. Mình có trạng thái giống như linh thể mà! Anh cười thầm bồi thêm một câu trong lòng, ngoài mặt vẫn tỉnh bơ.

“Xong việc.” Klein búng tay một cách kịch tính, hối hả dẫn ba xác sống trở về tầng hầm ngôi nhà. Còn Sharron đã biến mất từ lúc nào không hay.

Trong tầng hầm rộng rãi, Miller Carter lo lắng đi đi lại lại, thỉnh thoảng lại nhìn về phía cánh cửa bí mật.

Nhác thấy thám tử Moriarty cùng trợ lý trở lại đông đủ, Miller liền thở hắt ra một hơi, hấp tấp hỏi, “Bên trong xảy ra chuyện gì vậy?”

Klein vờ thở hổn hển, “Công trình ngầm đó quá, quá cũ, quá lâu không được tu sửa. Chúng tôi vốn chỉ định đuổi rắn thôi, ai ngờ mới mạnh tay một tí mà nó đã sập luôn rồi, sập hết luôn! May mà chúng tôi đứng gần lối ra vào nên mới kịp thoát ra.”

“Bão Táp ơi! Chỗ đó nguy hiểm đến vậy sao?” Miller Carter đấm vào ngực trái.

“Đúng vậy, mấy công trình kiến trúc cổ đại còn nguyên vẹn hiếm lắm, hầu hết đều sụp đổ theo dòng chảy thời gian.” Klein đáp, “Tôi dẫn ông vào xem nhé, tiện nghiệm thu luôn.”

“Liệu còn sập tiếp không?” Miller cẩn thận hỏi.

“Không, bên này khá kiên cố.” Klein cố tình phủi bụi trên người, húng hắng ho hai tiếng, rồi dẫn cố chủ vào trong, dừng lại trước lối vào đã bị chặn hoàn toàn. Từ chỗ họ đứng có thấy những mảng tường sát sảnh đã đổ sập, chỉ còn lại đất đá.

“Ông có thể dùng khu vực này.” Klein chỉ vào hành lang.

Miller im lặng trong vài giây rồi cảm thán, “Cũng may tôi tìm chuyên gia như anh chứ không hấp tấp sai người đi thăm dò. Nếu không, e rằng tôi đã phải gánh mấy mạng người rồi. Tốt rồi, việc này đến đây thôi, để tôi gửi anh nốt phần tiền công còn lại nhé.”

Vừa nói, Miller Carter vừa lôi ví ra đếm. Ông hơi xấu hổ khi nhận ra mình chỉ có khoảng 30 Bảng tiền mặt.

“May mà tôi còn loại tiền khác, không là phải ra ngân hàng rồi.” Miller lẩm bẩm, ngẩng lên nhìn Klein, “Anh có ngại nhận xu vàng không?”

“Không, với tôi thì tiền nào mà chả là tiền.” Klein cười bảo.

Ở Vương quốc Loen, Bảng Vàng vừa là tiền giấy mệnh giá lớn, vừa là tiền xu vàng đóng vai trò bảo chứng cho mệnh giá tiền giấy.

Dẫu vậy, sau hơn một thế kỷ kể từ ngày Roselle xưng đế, người dân Lục địa Bắc ngày càng quen dùng tiền giấy. Thậm chí một nghị viên còn đề xuất phát hành tiền giấy tương ứng với đồng Penny. Những đồng Bảng Vàng đúng nghĩa dần vắng bóng trên thị trường. Hiện chỉ có mấy quý ông lạc hậu mới dùng hộp nhỏ làm chốt neo cho dây đồng hồ, nhét sẵn vài đồng vàng phòng hờ bên trong. Thói quen đó giúp họ thấy an tâm hơn.

Miller gật đầu, lần theo sợi dây chuyền vàng trên áo, lấy một chiếc hộp nhỏ lấp lánh ánh vàng từ trong túi ra.

Cạch!

Ông mở mắt, bốc lấy năm đồng vàng, gom cùng xấp tiền giấy ban nãy rồi đưa cho vị thám tử trước mặt.

Klein chẳng hề khách sáo, anh đếm lại một lần, đột nhiên búng một đồng vàng lên không, rồi ngửa tay bắt gọn.

“Cảm ơn tấm lòng hào phóng của ông.” Anh liếc nhìn đầu người dập nổi trên đồng xu, mỉm cười chân thành. Đoạn, anh đặt tay lên ngực, cúi đầu chào Miller Carter.

Hừm, nếu đổi thành tay thám tử khác, dẫu có đánh sập lối vào cùng đường hầm đi chăng nữa, về nhà kiểu gì cũng gặp phải ác mộng, tinh thần trở nên rệu rã, luôn nghe thấy tiếng động lạ trong nhà hay mường tưởng ra cảnh bị ai đó nhìn chằm chặp rồi. Ngấm hơi Ác Linh thường phải mất rất nhiều thời gian mới hết. Chúng mình thì khác. Cô Sharron vốn chẳng khác gì nữ quỷ, mình lên sương xám một chuyến là xong. Ba xác sống kia không còn sợ chết, vậy sợ gì nữa? Klein vui vẻ mỉa thầm, chào tạm biệt Miller rồi quay gót rời đi.

Ra đến đường lớn, ba xác sống chẳng nói chẳng rằng, chủ động đi về một hướng khác.

Cô Sharron đi rồi… Thực sự không thu tiền thuê xác sống kìa… Klein mỉm cười vẫy tay với bóng lưng của ba xác sống. Sau đó, anh quay về nhà thay thường phục, đến Câu lạc bộ Quelaag luyện bắn súng. Anh cũng tranh thủ đánh chén một bữa ra trò, xem như tự thưởng bản thân vì nhiệm vụ thành công mĩ mãn.

Klein bước lên xe ngựa công cộng, trở về phố Minsk.

Khung cảnh tối tăm, ảm đạm được thắp sáng bởi những ngọn đèn đường khí đốt. Anh chống gậy, thong thả dạo bước trên phố. Đột nhiên, anh có một dự cảm không quá tốt cũng không quá xấu.

Là sao nhỉ? Klein ngước lên, bắt gặp hai viên cảnh sát đang dắt một con chó nghiệp vụ đi tuần.

Đi tuần? Mang cảnh khuyển đi tuần? Ảnh hưởng từ vụ án giết người hàng loạt kia à? Hiện trường còn vương lại mùi đinh hương và lý gai nên mới điều thêm cảnh khuyển hả? (1) Klein không khỏi oán thầm.

--- Chó nghiệp vụ đã xuất hiện từ thời Roselle, nhưng đến nay vẫn chưa phổ biến.

Vì mang theo khá nhiều đồ đạc trên người, cộng thêm dự cảm vừa rồi, Klein quyết định vòng sang lối khác. Đúng lúc này, hai viên cảnh sát đã trông thấy anh, bèn ra hiệu cho anh dừng lại. Khóe môi Klein giật giật. Anh mỉm cười đứng yên tại chỗ.

“Điều tra theo quy định thôi.” Một viên cảnh sát giơ thẻ chứng nhận khi tới gần.

“Được rồi…” Klein còn chưa dứt lời, con chó nghiệp vụ bỗng gầm gừ và sủa ầm lên với anh.

N-nó ngửi thấy mùi thuốc súng trên người mình à? Mùi thuốc súng lưu lại từ buổi luyện súng hồi chiều? Klein lập tức bừng ngộ, nhìn hai viên cảnh sát đã đề phòng ra mặt, chợt nảy ra một kế. Anh cười bảo, “Chuyện là thế này, tôi có nhặt được một khẩu súng ổ xoay trên đường, còn được khuyến mãi thêm cả bao súng đeo nách và ít đạn, đang định mang nộp cho các anh đây.”

Anh chậm rút khẩu súng ổ xoay của mình ra, giơ hai tay ngang vai, cười rất chân thành, rất nghiêm túc, “Anh cảnh sát à, tôi thực sự không tàng trữ vũ khí trái phép đâu.”

Một viên cảnh sát hết sức đề phòng, viên còn lại nhận lấy khẩu súng, nghiêm giọng nói, “Anh theo chúng tôi về đồn.”

“Nhất trí.” Klein cười toe toét. “Thế nhưng, tôi có một yêu cầu. Xin hãy thông báo cho luật sư của tôi, anh Jürgen Cooper. Tôi chỉ chấp nhận khám người khi có mặt anh ấy.”

Trong một góc ở quận Đông, Zeon đã say khướt quay mặt vào tường, tụt quần xuống, khoan khoái tưới rêu.

Vừa giải quyết xong nỗi buồn, Zeon bỗng nhiên bị vỗ vai. Hắn giật mình đánh thót, vội vàng kéo quần lên, ngoái lại nhìn. Đứng đó là một thằng nhóc thấp bé mặc áo khoác vải bạt, đội mũ cát két.

Thằng nhóc ngẩng lên, để lộ gương mặt lấm lem bùn đất nhưng vẫn có nét tinh xảo, mềm mại.

“Xio? Sau cô lại ăn mặc thế này?” Zeon bật thốt, giọng ngạc nhiên.

Xio đưa ngón trỏ lên môi, ra hiệu cho đối phương im lặng. Đoạn, cô hạ giọng, “Tôi hỏi, anh trả lời, nói nhỏ thôi.”

Bị kinh sợ trước vẻ uy nghiêm đó, Zeon chỉ biết gật đầu.

“Mấy người mà Williams quen biết ấy, có ai chết trong hai ngày qua không?” Xio trầm giọng hỏi.

Zeon dùng bộ não tê liệt vì cồn để nhớ lại rồi nói, “Gavin! Sáng nay người ta vừa phát hiện ra Gavin đã chết đuối ở sông Tussuck! Chắc nó rớt xuống từ đêm qua. Thằng tội nghiệp ấy có biết bơi đâu, vậy mà cứ nhậu say là lại thích ra bờ sông hóng mát.”

Ánh mắt Xio bỗng trở nên sắc bén. Cô lập tức truy vấn, “Gavin có nhận nhiệm vụ từ Williams không? Nhiệm vụ tìm kiếm tên tội phạm bị truy nã Lanevus ấy?”

“Dĩ nhiên, bọn này đều nhận được nhiệm vụ đó từ Williams mà. Dù sao cũng đâu phải chuyện to tát gì, cứ đưa bức chân dung ra cho người quen xem, dặn họ để mắt đến tên nào trông na ná thế là xong. À, Williams còn bảo có manh mối sẽ bao tôi cơm no rượu say suốt ba ngày đấy! Ôi, tội nghiệp quá, tự dưng lại chết vì nổ khí đốt. Thế nên tôi mới nhất quyết không cho chủ nhà lắp đặt đường ống dẫn khí đốt. À… chuyện mấy tháng trước rồi, giờ tôi chỉ đủ tiền thuê khách sạn rẻ tiền thôi.” Zeon luyên thuyên.

“Gavin phụ trách khu vực nào? Hắn có nói gì với anh không?” Xio liếc sang bên cạnh, mím môi, bỗng nhìn thẳng vào Zeon.

“Nó… nó hay lượn lờ quanh xưởng đóng tàu Đông Balam ở khu bến cảng. Chập tối qua tôi với nó còn gặp nhau. Nó bảo nó đã đến quán rượu công đoàn ở đó để tuyên truyền việc tìm kiếm Lanevus, còn xòe hình thằng chả cho cả quán xem.” Zeon vừa nói vừa ợ ra một hơi rượu.

Backlund có rất nhiều bến tàu. Phần lớn thuộc khu bến cảng và được mệnh danh theo ụ tàu.

“Rồi sao nữa? Hắn có bảo định đi đâu tiếp không?” Xio nhíu mày thắc mắc, bèn hỏi lại.

“Thì, thì đi uống rượu chứ đâu! Nó định nốc cho đẫy rồi kiếm xó nào đó để ngủ! Ôi, tội nghiệp nó, chắc xỉn rồi nóng quá nên định mò xuống sông tắm, lại quên béng chuyện mình không biết bơi, đã thế trời còn sắp sang Đông rồi!” Zeon lại thở dài tiếc nuối.

Như vậy… Gavin chẳng phát hiện được gì cả. Anh ta chỉ đi phát tờ rơi tìm Lanevus ở quán rượu công đoàn ụ tàu Đông Balam, vậy mà cũng bị sát hại, còn liên lụy Williams… Phản ứng của hung thủ không thể gọi là “cực đoan” được nữa, phải dùng từ “điên rồ” mới đúng…

Đặt mình vào vị trí Lanevus, biện pháp khôn ngoan nhất, dễ dàng nhất là dời ổ để cắt đuôi. Trừ phi, trừ phi hắn ta vướng vào chuyện gì và bị mắc kẹt ở đó… Nhưng mình đâu phải người duy nhất truy tìm hắn ta? Còn rất nhiều thợ săn tiền thưởng khác. Hắn ta giết được Williams, nhưng có giết được hết từng ấy người không? Giỏi thì đi “làm cỏ” cái Sở Sivellaus đã tuyên bố lệnh truy nã ấy!

Xio hoàn toàn không hiểu được chuyện này, cũng như cô không thể chấp nhận cái chết của Williams. Cuối cùng, cô quyết định báo cáo tình hình mà mình gặp phải cho tiểu thư Audrey, sau đó cải trang đến quán rượu công đoàn công nhân ở ụ tàu Đông Balam. Cô không định đánh tiếng dò la, mà chỉ âm thầm quan sát, xem có kẻ nào khả nghi không.

Đồn cảnh sát Rice, quận Cherwood.

Một lần nữa, Klein lại phải chen chúc trên băng ghế có tựa lưng cùng lũ trộm cắp và bợm nhậu.

Thật xui xẻo! Đang yên đang lành lại đụng vào cảnh sát kiểm tra, còn không kịp đổi hướng… Tất cả là do tên sát nhân hàng loạt kia!

Klein vừa nguyền rủa kẻ nào đó, vừa nghĩ cách giấu giếm bùa chú và bột thảo dược khó lòng giải thích trên người, tránh màn khám người sắp tới. Anh định nhét hết tất cả vào găng tay đen, tìm cơ hội nhét vào góc khuất trong đồn, đợi lúc đi sẽ lấy lại.

Đúng lúc này, mắt anh sáng rực lên. Đồng hành cùng viên cảnh sát là luật sư trẻ tuổi Jürgen Cooper với mái tóc vuốt ngược bóng bẩy và ăn vận như đi dự tiệc.

“Anh đi kí tên đi, xong là được về.” Jürgen mở lời, vẫn giữ vẻ nghiêm nghị đứng đắn như thường lệ.

“Thế thôi?” Klein ngạc nhiên hỏi lại.

Jürgen khẽ gật đầu, “Đúng vậy, họ biết anh là một thám tử nổi tiếng.”

Lý do kiểu quái gì vậy? Klein không dám hỏi nhiều. Anh đứng phắt lên, bám theo chàng luật sư mặc lễ phục nỉ màu đen, đủng đỉnh kí tên rồi bước ra ngoài.

Khác với lần đầu tiên anh được đối phương bảo lãnh, trời hôm nay không mưa, chỉ có mây mù che đậy trăng đỏ và các vì sao. Đường phố đều được chiếu sáng bởi hai hàng đèn đường khí đốt.

“Cảm ơn anh nhiều lắm! Tôi lại làm phiền anh rồi!” Klein bước nhanh hai bước, sánh vai cùng Jürgen.

Jürgen nghiêm túc và thận trọng nghiêng đầu nhìn anh, “Không cần cảm ơn, nghề của tôi mà, 2 Bảng.”

“…” Klein nhìn chằm chằm đối phương một lát, đoạn cười bảo, “Được.”

Đang độ rủng rỉnh, anh chẳng ngần ngại rút ngay hai tờ 1 Bảng.

Jürgen không khách sáo, nhận tiền và nói, “Nếu anh sẵn lòng hợp tác chính thức thì mỗi lần lên đồn tôi sẽ lấy 1 Bảng thôi. Tất nhiên là không tính mấy vụ nghiêm trọng nhé. Anh nên hiểu là tôi còn phải nộp phí cho văn phòng.”

Nói như thể tôi sẽ thường xuyên được cảnh sát mời lên đồn uống trà vậy…

Xì! Làm gì có chuyện uống trà, đến ngụm nước lã còn chẳng có!

Klein chưa kịp mở miệng đáp lời, luật sư Jürgen đã nói thêm, “Với thám tử tư mà nói, dăm bữa nửa tháng lại ra vào đồn cũng là đặc thù công việc. Ừm, tôi biết thừa, mấy thám tử tư lúc nào cũng vướng phải vấn đề như tàng trữ vũ khí hay lẻn vào nhà dân trái phép. Lần này anh xử lý rất khéo. Cảnh sát không đủ bằng chứng khép tội tàng trữ vũ khí trái phép. Lời giải thích về vết thuốc súng trên người anh khá là thuyết phục. Mác Câu lạc bộ Quelaag đủ để lấy được lòng tin của họ. Nếu không, anh đã phải ra tòa trị an rồi.

“Nhờ vậy mà anh không bị xem như nghi phạm. Anh là công dân gương mẫu, một công dân tốt đã chủ động đem nộp khẩu súng nhặt được. Thế nên không cần phải soát người nữa.”

Được rồi… Nhưng tôi mất một khẩu súng ổ xoay cùng đạn, đi tong vài Bảng, còn tốn thêm phí luật sư… Klein gượng cười, “Tôi hiểu rồi, luật sư Jürgen, chúng ta chính thức hợp tác nhé.”

Jürgen hơi nhếch mép, chìa tay ra, kèm theo nụ cười rất chuyên nghiệp, “Hợp tác vui vẻ. Thật lòng mà nói, tôi mong ít phải chạm mặt anh trên đồn.”

Tôi có quyết định được chuyện đó đâu… Klein cười tự giễu.

…….

Trở lại số 15 phố Minsk, Klein thư giãn bằng cách ngâm mình trong bồn nước nóng. Thình lình, anh lại nghe thấy tiếng khẩn cầu hư ảo nhang nhác giọng nữ dội đi dội lại bên tai.

Tiểu thư “Công Lý”? Có manh mối về Lanevus rồi sao? Klein đột nhiên bật dậy khỏi bồn tắm, nhanh chóng lau khô thân thể, mặc quần áo vào rồi tiến thẳng lên màn sương xám.

Nhìn ngôi sao đỏ thẫm liên tục giãn nở rồi co lại, anh tỏa linh tính ra, lắng tai nghe.

“Kẻ Khờ không thuộc về thời đại này…

“Thưa ngài ‘Kẻ Khờ’, cuộc điều tra Lanevus đã vấp phải vấn đề…”

Chẳng biết vì cớ gì “Công Lý” lại khoác áo blouse trắng. Nàng kể lại tường tận về vụ nổ ở phố Dharavi quận Đông lẫn chuyện Gavin sảy chân chết đuối. Là một “Kẻ Đọc Tâm” nhập môn, nàng không chêm thêm những phỏng đoán cá nhân, nhằm tránh ảnh hưởng đến phán đoán của ngài “Kẻ Khờ”.

Klein chú tâm nghe hết, đoạn nhíu mày. Anh không ngờ hung thủ lại rồ dại như vậy.

Trường hợp này khác hẳn vụ “Trung Tướng Cuồng Phong” Keelings. Lanevus vốn là một kẻ lừa đảo chuyên nghiệp. Loại người này hễ thấy động là chuồn ngay. Hắn chẳng có lý do gì để lần ngược theo manh mối và sát hại những kẻ truy tìm mình. Với cái đà đó, tám mươi phần trăm thợ săn tiền thưởng ở quận Đông sẽ chết, kinh động dư luận và khiến vụ án được chuyển giao cho Kẻ Gác Đêm, Thế Phạt Giả hoặc Trái Tim Máy Móc!

Mm… Hay là lợi ích mà Lanevus nhận được thông qua nghi lễ cầu xin Chúa Sáng Tạo Đích Thực giáng con nối dòng xuống đã khiến hắn phát điên? Phong cách này rất giống với Chúa Sáng Tạo Đích Thực… Vấn đề là một kẻ điên rất khó che giấu cái điên, trừ phi là điên ngầm… Klein chìm vào suy tư, không lập tức hồi đáp tiểu thư “Công Lý”.

Anh từng đọc báo, biết vụ nổ kia, nên quyết định dùng thuật bói mộng để nhớ lại chi tiết cụ thể. Thoắt cái, anh đã viết xong câu xem bói mới: Manh mối vụ nổ đường Dharavi.

Vừa nhẩm đọc, anh vừa ngả lưng ra ghế, tiến vào mộng cảnh. Một chung cư ba tầng màu xanh xám xuất hiện. Căn phòng trên tầng ba bay mất cửa sổ, nửa bức tường đổ sập, phủ đầy tàn tích từ vụ nổ.

Khung cảnh ấy nhanh chóng tan vỡ. Klein bừng tỉnh. Anh gõ nhẹ vào mép bàn, thầm nhủ, “Manh mối nằm ở hiện trường? Nó cũng có thể là hung thủ vẫn còn rình mò quanh đó, chực chờ tiêu diệt bất kỳ ai đến điều tra chuyện này. Hừm… Làm vậy, hắn sẽ có cơ hội lần ra kẻ vừa treo thưởng Lanevus.

“Mình sẽ cải trang đến đó thám thính. Không vào hiện trường, chỉ loanh quanh bên ngoài. Biết đâu lại bắt được hung thủ. Dù không trúng Lanevus, tên này ắt cũng có liên can. Mình có thể thông qua đó để tìm ra Lanevus.”

“Thế nhưng, hắn nhất định sẽ trốn rất kỹ. Làm thế nào để tìm ra hắn mà không bứt dây động rừng nhỉ?”

Vừa nghĩ đến đây, Klein đã lia mắt sang [Con Mắt Đen Kịt] trên chiếc bàn dài bằng đồng xanh – đặc tính phi phàm còn lại của “Bậc Thầy Múa Rối” Rosago.

Ở thế giới thực, mình không thể dùng thứ này để điều khiển những sợi chỉ kỳ lạ kia. Đó là do ô nhiễm tinh thần từ Chúa Sáng Tạo Đích Thực vẫn còn sót lại. Tiếp xúc quá nhiều, quá lâu sẽ bị tổn thương vĩnh viễn. Nhưng, nếu dùng trong thời gian ngắn, thông qua sợi chỉ để tìm người lẩn trốn, mình vẫn có thể chịu được, như lúc mình dùng nó để xác nhận xem cô vệ sĩ đã rời khỏi hay chưa… Klein nheo mắt, tháo con lắc cảm xạ ra, bói xem chuyến đi của mình có nguy hiểm hay không. Đáp án là khẳng định. Có điều, biên độ lắc khá hẹp, tốc độ cũng tà tà.

“Tức là chấp nhận được…” Klein im lặng vài giây, đoạn trở lại hiện thực. Bằng cách tự triệu hồi bản thân, anh đặt [Con Mắt Đen Kịt] vào hộp thuốc lá bằng sắt rồi mang về phòng ngủ.

Thay đồ, dán râu giả, chuẩn bị đâu vào đấy, Klein mới bước tới trước gương, đánh giá bộ dáng hiện tại. Vẻ nho nhã đã chìm sau bộ râu rậm rạp. Đôi mắt nâu tựa như đầm nước cổ xưa, dường như đang che giấu và phong ấn thứ gì đó.

So với hồi ở thành phố Tingen, Klein gần như không nhận ra chính mình.

Anh duỗi các ngón tay ra rồi siết chặt thành nắm đấm. Nhìn vào gương, anh cất giọng trầm khàn, “Đội trưởng à, đây là bước đầu tiên để báo thù, cho anh, cho tôi.”

Vừa dứt lời, anh thấy bóng mình trong gương nhếch môi, nở nụ cười xán lạn.

Bên trong một tòa nhà ba tầng sắp bỏ hoang ở vùng ngoại ô mạn Tây quận Bắc.

Nơi này vốn thuộc Trường Y Backlund. Từ ngày cơ sở chính di dời đến vị trí tử tế và phù hợp hơn, ở đây chỉ còn một số ít giảng viên và sinh viên trượt tốt nghiệp “trông coi”.

Audrey mặc một chiếc áo blouse trắng, đeo khẩu trang tiệp màu. Mái tóc vàng óng ả được búi gọn, giấu kín dưới chiếc mũ phẫu thuật màu lạnh. Nàng liếc nhìn Fors Wall, người cũng ăn mặc tương tự. Không hiểu sao, nàng cứ có cảm giác người nọ toát lên thần thái rất đặc biệt, phù hợp với bộ đồ này hơn mình.

Khụ… kiểu thần thái sẵn sàng cầm dao mổ rạch bụng bệnh nhân bất cứ lúc nào ấy… Nàng giữ khoảng cách nửa bước chân, lẳng lặng bám sát Fors, tiến vào phòng học phía trước.

Nắm được thông tin Xio báo lại qua Fors, nàng không khỏi giật mình. Ngài “Kẻ Khờ” từng nói đây là một nhiệm vụ đơn giản. Chẳng qua, khái niệm “đơn giản” này có lẽ chỉ đúng với ngài “Kẻ Khờ” mà thôi. Tranh thủ lúc ở một mình để ngụy trang, Audrey đã nhẩm đọc tôn danh, thì thầm lời cầu nguyện, thuật lại vụ việc từ đầu đến cuối. Dẫu vậy, đến tận lúc này, nàng vẫn chưa nhận được hồi âm.

Bước qua ngưỡng cửa vào trong phòng, Audrey nhìn xung quanh một vòng theo bản năng. Nàng nhận ra nơi này không giống lớp học thông thường. Đập vào mắt là bốn bộ xương tiêu bản người cùng bốn cỗ quan tài kính chứa bốn thi thể trần truồng, trắng ởn ngâm trong dung dịch bảo quản.

Tại vị trí bục giảng còn dựng một cột thủy tinh trong suốt cũng chứa đầy chất lỏng. Bên trong là xác nam mặc áo cử nhân đen đang dập dềnh. Lớp quần áo dính sát vào thân thể, mang lại cảm giác nặng nề, bí bách đến nghẹt thở. Vậy mà cái xác lại không oặt xuống, vẫn đứng thẳng và chìm nổi ở vị trí trung ương.

Như thể bị dìm chết ở bên trong chứ không phải chết xong mới nhét vào vậy… Mang tâm thế của “Khán Giả”, Audrey đưa ra nhận định bước đầu.

Ngoài ra, nàng còn nhìn thấy một số người mặc áo blouse trắng, đeo khẩu trang trắng và đội mũ phẫu thuật ngồi rải rác ở những dãy bàn dài trong phòng. Tất cả đều im lặng, hệt như những thi thể và bộ xương.

Nhìn vầng trăng đỏ thẫm cuối cùng cũng ló dạng giữa màn đêm âm u, rồi lại nhìn khung cảnh rợn người trong lớp học, Audrey bất giác rùng mình. Một nỗi sợ sinh ra từ bản năng. Đồng thời, nàng cũng cảm nhận được nỗi phấn kích và hồi hộp.

“Đây mới đúng là cuộc sống của Kẻ Phi Phàm…” Audrey nhủ thầm, theo chân Fors tìm chỗ ngồi ở góc phòng.

Sau một hồi chờ đợi, “xác nam” mặc áo cử nhân đen lơ lửng bên trong cột kính thẳng đứng đặt ở bục giảng bất thình lình mở mắt, phát ra thanh âm xuyên thấu qua mọi chướng ngại, “Bắt đầu đi.”

#Chú Thích:

(1): Đây là một câu đùa kinh điển của những người hâm mộ tác phẩm Sherlock Holmes ở Trung Quốc, do Sherlock Holmes có thể tìm ra nghi phạm chính thông qua đủ thứ mùi lưu lại ở hiện trường.

꧁༺

Người dịch Kouji - Hiệu Đính Quân Nhất Thanh - Đăng tải tại Hako.

༻꧂

Bạn đã đến cuối chương 67.

Không gian đọc của bạn