Cuối tháng Mười cận kề, cái lạnh ban mai càng thêm phần cắt da cắt thịt.
Bên giếng nước, hơi thở phả ra làn khói trắng xóa mịt mờ.
Đang kéo gàu nước lạnh buốt như băng, tôi bỗng khựng lại, bất giác cúi nhìn cổ tay mình.
Làn da của Lã Trĩ xưa nay vẫn trắng nõn nà, quả không hổ danh với hai chữ “bạch ngọc”.
Thế nhưng giờ đây, ẩn dưới làn da trắng muốt ấy, những đường gân xanh chằng chịt, mảnh mai lại hằn lên rõ mồn một.
‘……Gầy quá.’
Vốn dĩ thân thể Lã Trĩ đã thuộc dạng mảnh mai liễu yếu đào tơ.
Một thiên kim tiểu thư cả đời sống trong nhung lụa của Lã gia, sở hữu một cơ thể mềm mại, yếu đuối, cách xa hàng vạn dặm với hai chữ cơ bắp.
Vậy mà tấm thân tôi lúc này lại vượt quá cả ranh giới mong manh ấy, gầy guộc đến mức đáng báo động.
Tôi đăm đăm nhìn khuôn mặt mình phản chiếu nơi mặt nước.
Gò má nhô cao hơn trước. Dưới bọng mắt hằn sâu quầng thâm nhợt nhạt, nước da cũng mất đi độ căng bóng, trở nên xám xịt ảm đạm.
Sắc diện phờ phạc, chẳng khác nào một pho tượng sáp vô hồn.
‘Dấu hiệu chẳng lành chút nào….’
Tôi thở dài một tiếng thườn thượt.
Suốt một tháng qua, tôi đã làm việc đến mức điên cuồng.
Quét dọn, giặt giũ, nấu nướng, gánh nước… đủ thứ việc vụn vặt không tên của nhà họ Lưu.
Đã vậy còn gánh thêm cả mớ việc của thương hội họ Lã: rảo quanh các làng lân cận, kiểm định chất lượng hàng hóa, rồi cân đối sổ sách thu chi.
Thức dậy từ sáu giờ sáng và lăn ra ngủ thiếp đi như ngất khi đã gần mười giờ đêm — một lịch trình làm việc đúng nghĩa vắt kiệt sức lực.
Thế nhưng, lượng calo nạp vào cơ thể lại thiếu thốn đến mức thảm hại.
Bữa ăn hàng ngày chỉ quanh quẩn bát cháo kê loãng toẹt, dưa muối mặn chát, họa hoằn lắm mới có thêm vài cọng rau héo úa hay một mẩu thịt khô quắt queo.
Xét cả về lượng calo lẫn góc độ dinh dưỡng, thực đơn này hoàn toàn liệt vào hạng đội sổ.
‘Cần phải cải thiện khẩu phần ăn ngay lập tức.’
Là một người am hiểu dinh dưỡng học hiện đại, tôi thừa biết những tín hiệu cảnh báo mà cơ thể đang liên tục phát ra.
Thiếu hụt protein.
Sự thiếu thốn trầm trọng của dưỡng chất thiết yếu giúp tạo cơ bắp, duy trì hệ miễn dịch và phục hồi các mô tổn thương.
Khổ nỗi, trên mâm cơm của thường dân thời đại này, protein quý giá chẳng khác gì vàng mười.
Bò phải để cày cấy nên tuyệt đối không được mổ thịt (tự tiện giết mổ là bị quan bắt bỏ tù ngay). Lợn thì không phổ biến như ở thế kỷ hai mươi mốt, còn gà phải để đẻ trứng nên ai nỡ lòng giết thịt.
Ở chốn nội địa như Bái Huyện, cá tươi lại càng là thứ xa xỉ khó lòng ngó tới.
Đã thế, dù có vay của phụ thân hai nghìn tiền, tôi cũng chẳng thể đem cái nguồn vốn hạt giống quý giá ấy ra phung phí vào ba cái việc mua thịt thà ăn uống.
Rốt cuộc, thứ thịt duy nhất mà dân đen không tiền không thế có thể chạm tay tới chỉ có….
‘……Thịt chó.’
Tôi bất giác cau mày.
Phàn Khoái là đồ tể chuyên mổ chó. Nếu nhờ vả đệ ấy, tôi có thể mua được với giá rẻ mạt, thậm chí đệ ấy còn biếu không.
Lưu Bang cũng mê tít món này đến mức không có mà ăn, bản thân tôi cũng đã học qua cách chế biến để nấu cho Lưu Phì.
Thế nhưng đối với tôi… một người đến từ Hàn Quốc thế kỷ hai mươi mốt, rào cản tâm lý khi ăn thịt chó quả thực quá đỗi nặng nề.
Lý trí thì gào thét thuyết tương đối văn hóa, nhưng dạ dày và lương tâm lại kịch liệt biểu tình phản đối.
Có lần tôi trót ngậm một miếng vào miệng rồi bất giác nhớ tới chú cún Ttoli ở nhà mà nước mắt giàn giụa, từ dạo ấy Lưu Bang cũng chẳng nỡ ép tôi ăn nữa.
‘Mình đúng là vẫn còn yếu lòng quá mà….’
Rõ ràng đã hạ quyết tâm làm bất cứ điều gì để sống sót.
Đến miếng thịt chó còn không nuốt nổi thì làm sao có thể sinh tồn nổi giữa chốn loạn thế hiểm nguy trùng trùng này đây?
Thế nhưng, nếu có thể, tôi vẫn muốn tìm một con đường khác.
Vả lại quan trọng nhất là… cái mùi gây nồng đặc trưng của thịt chó ăn cũng chẳng ngon lành gì cho cam.
‘Biết tính sao bây giờ….’
Tôi lấy khăn vải gai lau khô đôi bàn tay ướt sũng, lòng chìm sâu vào dòng suy tư.
Cố hết sức nâng chậu nước kẹp vào bên hông, tôi cất bước trở về nhà.
Vừa về tới nơi.
Từ phía gian bếp đã vẳng ra tiếng bát đũa lách cách va vào nhau.
Lại gần xem thử, lạ lùng thay, Lưu Bang hôm nay lại dậy sớm khác thường, đang đứng trước bếp lò cầm muôi khuấy nồi cháo.
“Mặt trời sắp mọc đằng tây rồi đây.”
Tôi đặt chậu nước xuống, cất tiếng bông đùa.
Lưu Bang ngáp dài một cái ngoác cả miệng rồi quay đầu nhìn tôi. Gương mặt bù xù ngái ngủ, mắt còn chưa thèm quẹt gỉ, nom vừa xấu xí lại vừa thân thương như mọi ngày.
“Tối qua ăn uống đạm bạc quá nên bụng đói cồn cào cả lên. Muốn được ăn sớm một chút nên ta mới ráng bỏ chút công sức đấy chứ.”
Lưu Bang bật cười khì một tiếng rồi đưa muôi cho tôi như thể nhiệm vụ của chàng đến đây là hoàn thành.
Nghĩ cũng phải, hẳn nhiên là vì bản thân chàng đói bụng rồi.
Tôi bất đắc dĩ thở dài một hơi, nhận lấy chiếc muôi:
“Chàng vào nhà đi ạ. Phần còn lại cứ để thiếp lo.”
Tôi đứng trước bếp lò, đều tay khuấy nồi cháo.
Sùng sục. Tiếng cháo trắng sôi ùng ục vang vọng khắp căn nhà tranh đơn sơ.
Cứ thế qua một hồi lâu.
Bỗng nhiên tôi cảm nhận được hơi người ngay sát bên cạnh.
Quay đầu lại nhìn, hóa ra Lưu Bang chẳng hề vào phòng, mà đang tựa người vào mép cửa, đăm đăm nhìn tôi.
Đôi mắt đen láy của chàng lướt qua khuôn mặt, chiếc cổ, rồi dừng lại nơi cổ tay đang miệt mài khuấy muôi của tôi.
“Trĩ nhi.”
“Dạ?”
“Hình như nàng… gầy đi rồi thì phải?”
“…….”
Bàn tay đang khuấy muôi bỗng khựng lại.
Cái ông chú này, những lúc thế này lại tinh ý đến lạ lùng.
Tôi hướng mắt về lại nồi cháo, khẽ lắc đầu:
“Vậy sao ạ? Thiếp cũng chẳng rõ nữa.”
Tôi không muốn để lộ vẻ yếu đuối. Bởi lẽ tôi là đối tác của Lưu Bang, chứ không đơn thuần chỉ là thê tử của chàng.
Lòng tự trọng không cho phép tôi tỏ ra nhu nhược trước mặt chàng.
“Thế à.”
May thay, Lưu Bang cũng không gặng hỏi thêm mà chỉ khẽ gật đầu.
Chàng ngồi phịch xuống bậc cửa phòng ngủ, rồi cất giọng trầm trầm, bình thản:
“Trĩ nhi.”
“Vâng, đại nhân.”
“Sau này, nhất định ta sẽ để nàng được ăn ngon no nê.”
“…….”
Trước lời hứa hẹn ấy, cổ họng tôi nghẹn đắng, chẳng thể thốt nên lời.
Trong chất giọng của Lưu Bang không còn vẻ cợt nhả, bông phèng như thường lệ.
Và ý tứ ẩn chứa trong câu nói ấy lại rành rọt hơn bao giờ hết.
Tôi thoáng do dự không biết có nên quay lại nhìn chàng hay không, nhưng rồi lại giả đò như không có chuyện gì, cất tiếng:
“Cháo chín rồi ạ. Mời chàng dùng bữa sáng.”
“……Ừ, ăn thôi.”
Lưu Bang cũng trầm ngâm gật đầu, bắt đầu dọn mâm bát ra.
……
Dùng xong bữa sáng, Lưu Bang lại chuẩn bị đến Tứ Thủy Đình làm việc.
Nghe đâu hôm nay chàng lại có chuyện cần bàn bạc với Tiêu Hà về vấn đề dao dịch gì đó.
“Ta đi nhé. Đừng làm lụng quá sức đấy.”
“Vâng, đại nhân. Trời lạnh, chàng nhớ về sớm nhé.”
Tiễn chàng đi rồi, chỉ còn lại một mình, tôi xắn tay áo lên.
Đói thì đói thật, nhưng chẳng thể vì thế mà nằm dài ườn ẹo ra được. Giờ là lúc bắt đầu ngày mới bằng việc dọn dẹp kho bãi.
Đó là căn nhà kho mới dựng nơi góc sân.
Để cất trữ những món hàng như giày rơm hay dây thừng mà Hạ Hầu Anh gom từ các làng lân cận về, Lưu Bang đã thoăn thoắt dựng tạm một gian nhà kho nhỏ.
Nhìn bề ngoài thì chỉ như một căn chái xập xệ, nhưng dù sao đây cũng là trung tâm phân phối hàng hóa đầu tiên đầy kỷ niệm của thương hội họ Lã.
‘Giày rơm hai mươi đôi, dây thừng hai mươi tám sải, thúng tre năm chiếc….’
Bước vào bên trong, tôi kẹp cuốn sổ cái vào bên nách rồi bắt đầu đếm từng món hàng tồn kho.
Bỗng nhiên, tôi phát hiện ra một chiếc bao tải gai cũ kỹ nằm chỏng chơ nơi góc kệ.
‘Cái gì thế kia nhỉ?’
Chiếc bao tải phủ đầy một lớp bụi bặm trắng xóa.
Tiến lại gần mở miệng bao ra xem, bên trong nén chặt những hạt tròn vo màu vàng nhạt.
Đại đậu. Chính là đậu nành.
Lục lại ký ức, dường như là thứ Lưu Bang mang về từ độ nửa tháng trước.
Nhớ lúc đó chàng gãi đầu cười trừ, bảo trước kia có cho một gã đàn ông vay chút tiền, gã không có tiền trả nên đành lấy thứ này gán làm tiền lãi.
‘Thế mà lại còn bày đặt kén cá chọn canh cơ chứ.’
Ngay tối hôm đó tôi đã nấu cơm độn đậu, nhưng Lưu Bang hết chê “cứng quá”, “ngai ngái tanh tanh” lại kêu “khó tiêu”, làm mình làm mẩy đủ trò.
Rốt cuộc chiếc bao tải này vì cái tội “dở tệ” mà bị đày vào góc kho lạnh lẽo, lãng quên mãi tới tận hôm nay.
“Đậu nành sao.”
Tôi hít một hơi rồi khệ nệ nhấc bao tải lên.
Cảm giác nặng trịch. Chắc cũng phải cỡ năm, sáu cân.
Mở rộng miệng bao, tôi bốc lên một nắm đậu.
Cảm giác trơn nhẵn, cứng cáp chạm vào tay. Kèm theo đó là cái mùi ngai ngái nồng nặc chẳng mấy dễ chịu.
Nghĩ lại thì, quả thực đậu nành từng được mệnh danh bằng cái mỹ từ “thịt bò trên đồng ruộng”.
Nếu chỉ xét riêng về hàm lượng dinh dưỡng, nó là loại thực phẩm giàu protein chẳng kém gì thịt thà.
‘Nhưng mà ăn chán ốm….’
Dù miệng trách Lưu Bang kén ăn, song thú thực bản thân tôi cũng chẳng mặn mà gì với món cơm đậu.
Cứ mỗi lần nhai là cái vị ngái tanh lại xộc lên, chưa kể ăn xong bụng dạ cứ trướng lên ấm ách vô cùng khó chịu.
‘Là do chất ức chế trypsin.’
Ký ức tiền kiếp bỗng ùa về.
Trong đậu sống có chứa một loại enzym gọi là chất ức chế trypsin gây cản trở quá trình tiêu hóa protein.
Bởi vậy nếu chỉ luộc sơ rồi ăn thì vừa khó tiêu, vừa làm giảm tỷ lệ hấp thụ dinh dưỡng.
Nói cách khác, đống đậu nành trong tay tôi lúc này chỉ là một của nợ vừa dở tệ lại vừa chẳng hấp thụ nổi protein.
Tôi mân mê những hạt đậu vàng ươm trong lòng bàn tay, chìm đắm trong suy nghĩ.
Liệu có cách nào để biến cái thứ dở ẹc này thành một món ăn vừa ngon lành lại vừa hấp thụ hiệu quả không nhỉ….
Thời gian cứ thế chầm chậm trôi qua.
Bỗng nhiên, trong tâm trí tôi xẹt qua một hình ảnh trắng ngần, mềm mịn, khói bốc lên nghi ngút.
“……Đậu phụ?”
Tôi bất giác nuốt nước bọt đánh ực một cái.
Đậu phụ.
Món nguyên liệu kỳ diệu được làm ra từ những hạt đậu xay nhuyễn.
Kho tàng đạm thực vật, món ăn ruột thịt mang đậm linh hồn ẩm thực không thể thiếu trên mâm cơm của người Hàn.
Và… là một món ăn chưa từng xuất hiện, hoàn toàn vô danh ở thời đại này.
‘Sao mình lại không nghĩ ra cơ chứ?’
Trái tim tôi bắt đầu đập thình thịch liên hồi. Tôi đặt tay lên ngực, hít một hơi thật sâu.
Lịch sử của món đậu phụ.
Theo tôi biết, đậu phụ được cho là do Hoài Nam Vương, Lưu An thời Hán phát minh ra. [note111695]
Mà Hoài Nam Vương Lưu An ấy lại chính là cháu nội của Lưu Bang.
Nói cách khác, đậu phụ là phát minh phải tới ít nhất năm mươi năm, hoặc thậm chí cả trăm năm sau mới chính thức ra đời.
Ở thời đại này, đậu nành chỉ được gọi là “thục”, bị coi là thứ ngũ cốc hạ đẳng tầm thường.
Cùng lắm chỉ đem luộc ăn tạm, hái lá nấu canh, hoặc dùng làm tương lên men mà thôi.
Vậy nếu như tôi ra tay “phát minh” ra đậu phụ trước thì sao?
‘Giải quyết xong xuôi vấn đề protein…!’
Cứ mỗi một trăm gam đậu phụ thì chứa khoảng tám gam protein. Tuy không thể sánh bằng thịt, nhưng đối với thực phẩm gốc thực vật thì đó là một con số quá đỗi tuyệt vời.
Hơn nữa, chất ức chế trypsin sẽ bị phân hủy trong quá trình gia nhiệt và chế biến, nên một khi đã biến thành đậu phụ thì tỷ lệ tiêu hóa và hấp thụ sẽ tăng vọt đáng kể.
‘Vụ này… khéo lại làm nên chuyện đấy chứ?’
Một luồng phấn khích chạy dọc sống lưng.
Thế nhưng ngay sau đó, thực tế phũ phàng lại ập đến như thác lũ.
‘Vấn đề là cách làm thế nào….’
Cách làm đậu phụ.
Tôi biết chứ. Về mặt lý thuyết.
Ngâm đậu cho nở, xay nhuyễn chắt lấy sữa đậu. Đun sôi sữa đậu rồi cho chất làm đông vào. Đổ khối óc đậu đã kết tủa vào khuôn rồi ép ráo nước.
Trong ký ức lại hiện lên cảnh tượng mẹ tôi từng bày bừa tan hoang cả căn bếp chỉ để tự tay làm đậu phụ ở nhà.
Thế nhưng muôn đời vẫn vậy, hiểu về “nguyên lý” và “thực hành làm ra được” là hai câu chuyện hoàn toàn khác biệt.
Dùng chất kết tủa gì bây giờ? Nước ót hay giấm chua? Ở Bái Huyện này liệu có kiếm được không?
Tỷ lệ đậu với nước là bao nhiêu? Nhiệt độ đun thế nào? Làm sao để không bị trào ra ngoài khi sôi?
Ký ức của tôi chỉ chắp vá từng mẩu vụn vặt, chẳng thể nào nhớ vanh vách từng chi tiết ngọn ngành ngay lập tức được.
Vốn dĩ ở thời hiện đại, chỉ cần bỏ ra vài nghìn won ở siêu thị là mua được một bìa đậu ngon lành rồi. Ngay cả mẹ tôi hồi đó cũng chỉ hí hoáy làm được vài lần rồi nản chí bỏ xó.
‘Dù vậy, thử một phen cũng đáng.’
Tôi ôm chặt bao đậu nành vào lòng rồi tiến về phía gian bếp.
Có thể sẽ thất bại. Nếu không đong đếm đúng tỷ lệ thì khéo lại thành nồi cháo đậu, hoặc bị chua lòm rồi phải đổ bỏ.
Thế nhưng giá đậu nành rẻ như bèo. Dù có thất bại dăm bảy lần thì thiệt hại cũng gần như bằng không.
Chỉ cần thành công, bài toán protein của tôi sẽ được giải quyết triệt để.
Và biết đâu chừng….
‘Nó còn có thể trở thành một món hàng kinh doanh mới.’
Đậu phụ vừa ngon miệng, giá trị dinh dưỡng lại cao, hơn nữa khả năng bảo quản cũng không hề tệ.
Chưa kể người già răng yếu hay trẻ nhỏ bụng dạ kém cỏi đều có thể ăn được ngon lành.
Nếu thành công, tôi sẽ trở thành bậc tiên phong thay đổi hoàn toàn nền văn hóa ẩm thực của thời đại này.
Và trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng thế.
‘Kẻ tiên phong luôn là kẻ hốt bạc.’
Quyết định vậy đi. Dẫu sao quy trình chế biến cũng không đến mức quá phức tạp.
Xin lỗi nhé Lưu An, bà nội xin phép mượn trước phát minh của cháu một bước vậy.
Tôi quay lại bên giếng nước, múc đầy một ang nước lớn.
Dốc ngược miệng bao tải, trút ào ạt đống đậu nành vào trong ang.
Rào rào—
Những hạt đậu vàng ươm chìm dần vào làn nước mát rượi kèm theo những âm thanh rộn rã vui tai.
Trước mắt cứ phải chờ đã.
Đợi đến sáng mai, khi những hạt đậu này ngậm đẫm nước và trương nở căng tròn, thí nghiệm ẩm thực thực sự mới chính thức bắt đầu.
‘Phải cọ rửa cối xay cho thật sạch sẽ mới được.’
Vừa bổ sung protein, lại vừa kiếm được tiền.
“Hừm~ hừm~”
Nghĩ đến giấc mơ một mũi tên trúng hai đích, khóe môi tôi bất giác cất lên tiếng ngâm nga hát thầm.


