Chương 81 · 105 chương

Thế Giới Của Tôi

Ngày nói lời chia tay Agape, tôi đã có cảm giác một thứ gì đó trong mình đứt lìa.

Đó là thứ gì, tôi không biết. Tôi chỉ nhớ lần gặp lại anh trên chiến trường.

Khi nhìn gương mặt anh suy sụp mà vẫn phải nói lời chia tay, tôi có cảm giác một điều vô cùng quan trọng trong đời mình đã bị cắt đứt.

Từ hôm ấy, ký ức đó cứ khoét vào tim tôi, dần trở thành một cơn ác mộng không sao gỡ bỏ.

Bịch. Bịch.

“Hà… hà…”

Khi ấy, tôi đã cố phủ nhận cảm giác rợn người đó.

Nỗi mất mát ấy lớn đến đáng sợ. Nhưng tôi vốn nhát gan, lại lần đầu nói với Agape những lời tàn nhẫn như thế. Có lẽ tôi chỉ phản ứng quá mức thôi, tôi đã tự nhủ vậy.

Tôi nhất quyết cho rằng cảm giác tim mình chìm xuống là giả.

Bởi tôi đã gửi thư cho Agape, đã làm lành với anh. Agape cũng tha thứ cho tôi. Khoảng một tháng một lần, chúng tôi lại trao đổi thư từ, kể cho nhau nghe mình sống ra sao.

Vậy nên tôi đã tin nỗi mất mát ấy chỉ là một ảo giác.

“Hà… hà… hà…”

Nhưng Agape không có ở Fallen.

Ngôi nhà cũ không có anh. Không có dấu vết anh từng sống ở đó. Đến những lá thư tôi gửi cũng chẳng thấy đâu.

Ngay lúc ấy, nỗi mất mát năm xưa biến thành sợ hãi, dữ dội đến mức tôi tưởng mình sắp mất trí.

‘Vậy suốt từng ấy năm… mình đã viết thư cho ai?’

Những lá thư hồi âm đều mang nét chữ vụng về của Agape. Trong đó có những lời yêu thương viết thật lúng túng, có chuyện thời tiết ở Fallen, chuyện anh sống ra sao và anh đang đợi tôi trở về.

‘Rốt cuộc… ai đã viết những lá thư ấy?’

Đầu óc tôi nóng ran. Trước mắt trắng xóa.

Mấy ngày liền chỉ biết chạy, cơ thể tôi đã kiệt đến cùng cực. Một hòn đá nhỏ vướng vào chân. Đang chạy nhanh hơn cả ngựa, tôi ngã lăn đi mấy thước rồi nằm đó, mãi không đứng dậy nổi.

“Hà… hà… hà…”

Từ Đế đô đến Fallen, tôi đã chạy hai ngày. Từ Fallen đi tìm Mullipen, tôi lại chạy tiếp. Suốt bốn ngày trời, không ăn, không uống, không ngủ, chẳng hề ngơi chân.

Dẫu có thân thể của một Tông Sư và vận dụng được lượng Đấu Khí dồi dào, bị ép chạy một quãng đường như thế, tôi sao có thể còn nguyên sức.

“Hà… tim mình…”

Tim đập dữ dội ngoài ý muốn. Từng nhịp nện trong lồng ngực vang lên tận tai như tiếng trống, còn hơi thở ngày một gấp. Ngực đau đến mức tôi chỉ mong mình ngất đi. Thế nhưng những ý nghĩ bất an vẫn không chịu dừng lại.

‘Những lá thư… không phải Agape viết sao?’

Không thể nào.

Đó đúng là chữ của anh. Trong thư còn nhắc tới những kỷ niệm chỉ hai đứa biết, có cả lối bày tỏ tình cảm vụng về rất Agape. Người ngoài làm sao viết được đến thế?

Trừ khi người ấy là một Tiên Tri.

Trong đầu tôi hiện ra Lucas.

Kẻ đại diện cho những Tiên Tri được người đời tôn là biểu tượng chính nghĩa, nhưng bản thân lại điên cuồng vì quyền lực. Để đạt được mục đích, hắn sẵn sàng nắm chặt thứ quý giá nhất của người khác trong tay.

Vừa nghĩ đến tên ác quỷ ấy, nỗi bất an trong tôi càng dâng lên. Tim đập mạnh hơn, mạnh đến nỗi mỗi nhịp đều là một cơn đau.

Thình thịch! Thình thịch! Thình thịch!

‘Nếu mình đoán đúng…’

Nếu Lucas thật sự đã không giữ “lời hứa” với tôi. Nếu vì một mục đích nào đó, hắn vẫn luôn xem bi kịch của tôi và Agape như trò tiêu khiển…

Tôi không thể nằm đây nữa. Tôi phải tận mắt xác nhận Agape còn sống hay đã chết.

Người Ivan trông thấy rời khỏi Fallen khoác trên mình chiếc áo lông của dân Mullipen. Mà trong số những người đang ở Fallen lúc này, ngoài Agape, một Kỵ sĩ của Oleg, còn ai lại khoác thứ áo ấy mà bước ra khỏi thành?

Tôi phải đi. Phải tận mắt nhìn thấy anh.

Tôi chống đôi chân nặng như đeo đá xuống đất, một tay giữ lấy ngực. Dùng Đấu Khí trấn áp trái tim cùng những thớ cơ đang gào thét, tôi buộc chúng phải chịu đựng thêm một chút.

Nghỉ sau cũng chưa muộn. Nhìn thấy Agape rồi, tôi mới cho phép mình dừng lại.

Còn lúc này, tôi phải xóa đi cảm giác mất mát đang trở lại, cái cảm giác như thứ gì đó trong lòng vừa đứt lìa vào ngày chia tay anh.

“A… gape…”

Tôi lại lao đi, dốc hết sức mình.

Không dám dừng, kể cả khi cứ chạy như thế này có thể khiến mình chết dọc đường.

Nửa ngày sau, ngọn núi khổng lồ cuối cùng cũng hiện ra trước mắt.

Núi Minerva.

Bên dưới nó là những đỉnh núi tuyết thấp hơn, rồi bóng dáng Đế đô. Tôi biết Mullipen đã không còn quá xa, liền ép hai chân tăng tốc.

Cuối cùng tôi tới nơi.

Từ Fallen ở tận phía Đông lục địa đến Mullipen ở vùng trung tâm, chỉ mất hai ngày rưỡi. Một quãng thời gian vô lý đến mức nếu không có tài vận dụng Đấu Khí và thân thể Tông Sư, có lẽ tim tôi đã vỡ tung dọc đường.

Ngay khi định bước vào thành, hai chân tôi khuỵu xuống.

Thân thể đã vượt quá giới hạn từ lâu. Tôi biết nếu ép mình chạy tiếp, trái tim đang kiệt sức có lẽ sẽ ngừng đập. Tôi đành ngồi xuống trước thành, tựa vào mấy viên gạch vỡ cạnh bức tường đã sụp để điều hòa hơi thở.

“Hà… hà… hà…”

Trước mắt tôi là cánh đồng đầy vũ khí bỏ lại. Dấu tích trận chiến vẫn nằm la liệt nơi ấy.

‘Sao đúng lúc này mình lại nghĩ đến hắn?’

Kỵ sĩ trong bộ giáp vàng.

Chúng tôi từng cho Gramr chỉ là một phần của thế lực trong bóng tối, tuyệt đối không thể là đối thủ của những Anh Hùng đã đối mặt với Tai Ương suốt bao năm. Vậy mà tại chính nơi này, chúng tôi đã nếm mùi thất bại trước thế lực tà ác thực sự của lục địa và hiểu mình bất lực đến nhường nào.

Kỵ sĩ ấy xuất hiện bất ngờ, cao hơn hai mét, vóc dáng chẳng khác nào một người khổng lồ đã được thu nhỏ lại. Nhìn cánh đồng hoang tàn, tôi lại nhớ cảnh hắn chỉ dùng kiếm thuật, chẳng cần đến Đấu Khí, đã hoàn toàn áp đảo mình.

‘Hắn mạnh thật.’

Hắn mạnh hơn bất kỳ ai tôi từng đối mặt, đến mức khiến tôi nhớ tới bác Orlando, người được gọi là Kiếm Hoàng.

Đường kiếm của hắn mạnh đến rợn người, như thể cái chết đã có hình hài. Mỗi lần giao phong, thế đứng của tôi lại sụp xuống.

Thanh kiếm trong tay rung bần bật, tưởng chừng sắp vỡ; chấn động truyền thẳng lên bàn tay cầm kiếm, đau đến mức tôi phải nhăn mặt.

Tôi chẳng giành được thế chủ động lấy một lần. Một trận thua tuyệt đối, thảm hại đến mức chẳng còn ra dáng một Anh Hùng.

Vậy mà chẳng hiểu sao, cứ nhớ tới kỵ sĩ ấy, trong đầu tôi lại hiện lên Agape.

‘Tại sao mình lại nghĩ đến Agape?’

Ngày còn ở Fallen, Agape không dùng được Đấu Khí. Nhưng trong thành, kiếm thuật của anh chẳng ai sánh kịp.

Mỗi lần có kẻ định tấn công tôi, anh lại đứng chắn trước mặt, nắm chặt thanh Gladius, quay đầu mỉm cười với tôi rồi mới lao vào cuộc chiến đẫm máu.

Kiếm thuật khác, lối đánh cũng khác. Thế mà hình ảnh hai người cầm kiếm cứ chồng lên nhau trong đầu tôi. Tại sao hôm nay họ lại giống nhau đến thế?

Dù nghĩ thế nào, họ cũng không thể là cùng một người: ngay cả vóc dáng đã khác xa. Agape không phải người nhỏ bé, nhưng chưa bao giờ đồ sộ như kỵ sĩ ấy.

‘Mình đang nghĩ linh tinh gì vậy.’

Hơi thở dần trở lại. Tôi vịn tường gạch đứng lên, lê đôi chân chẳng còn bao nhiêu sức vào Mullipen.

Thành phố im ắng đến lạ. Vẫn có người sống ở đây, nhưng sau trận chiến dữ dội, nhiều gia đình còn trốn trong nhà. Trên những con phố rộng, khách qua lại thưa thớt.

‘Giữa một thành phố thế này, phải tìm Agape bằng cách nào?’

Mullipen có hơn một triệu dân. Dù phố xá đang vắng, tôi phải tìm Agape ở đâu giữa ngần ấy con người?

“Chị ơi, chị là ai vậy?”

Một đứa trẻ xuất hiện. Đôi tai sói trên đầu nó dựng lên, miệng vẫn đang nhai một miếng thịt khô.

“Chị cũng đến tìm người hả?”

Tôi sửng sốt.

“Sao em biết?”

“Ở đây nhiều người giống chị lắm. Có người quen qua đời, có người nhà mất tích nên họ tới tìm. Còn có… ừm…”

Đó chẳng phải những lời nên nghe từ miệng một đứa trẻ. Vậy mà nó kể tự nhiên đến mức như đã quen với cảnh ấy.

“Nói chung, người muốn tìm ai đó thường đi vào giữa thành phố. Mọi người dán thông báo lên đó, rồi đứng chờ tin. Nhưng mà…”

Nó ngắm bộ giáp trên người tôi, nghĩ một lúc.

“Nếu là Kỵ sĩ như chị, người ta còn hay đến dinh Công tước.”

“Dinh Công tước?”

“Dạ! Trong đó có Nghĩa Trang Tinh Tú. Hầu hết Kỵ sĩ với binh lính tử trận của thành đều được chôn ở đấy. Bây giờ người ta vẫn còn đưa họ tới chôn nữa!”

Tôi nhớ lần cuối gặp Agape, anh đã là Kỵ sĩ của Oleg. Tôi hỏi đường đến dinh Công tước.

Đứa bé vô tư chỉ về tòa thành lớn đằng xa.

“Dễ lắm! Chị cứ vào cái thành to đùng kia, rồi đi sâu về bên trái cổng. Thấy một khu mộ thật lớn là đến Nghĩa Trang Tinh Tú!”

“Vậy à? Cảm ơn em.”

Tôi xoa đầu nó. Ánh mắt đứa bé liếc sang túi lương thực bên hông tôi.

“Em muốn ăn cái này không?”

“Thật ạ? Chị cho em thật ạ?”

“Ừ. Chị không ăn cũng được. Em cứ cầm lấy.”

Nó ôm túi thức ăn, nhảy cẫng lên rồi chạy đi, miệng reo lời cảm ơn.

“…Nghĩa Trang Tinh Tú.”

Tôi nhắc lại cái tên ấy, bước về phía dinh Công tước.

Đúng như đứa bé nói, trong Nghĩa Trang Tinh Tú có chừng bốn năm Kỵ sĩ đứng trước các tấm bia tưởng niệm. Đến đây, tôi không sao ngăn được lòng mình căng lên.

Vì sao vừa đến Mullipen tôi đã đi tìm Agape ở một nghĩa địa?

Giữa quảng trường cũng có chỗ để tìm người. Lẽ ra tôi phải đến đó trước.

‘Vậy tại sao…’

Tại sao bản năng lại mách bảo rằng Agape đang ở nơi này?

Đôi tai Thượng Tinh Linh của tôi dựng lên vì căng thẳng. Tay tôi lần vào ngực áo, chạm tới bó hoa vẫn mang theo. Không biết từ lúc nào, tôi đã cầm nó đi qua từng dãy bia mộ.

Như thể tôi đã sẵn sàng đem nó đến viếng một người đã khuất. Lý trí chưa chịu nghĩ đến điều ấy, nhưng cơ thể tôi dường như đã chuẩn bị để đón nhận cái chết của người mình yêu.

Tôi đi một vòng, đọc hết những tấm bia trong nghĩa trang.

Không có Agape.

“A… ha ha…”

Tôi bất giác mỉm cười, nhẹ nhõm đến mức phải bật thành tiếng.

“Đúng rồi. Agape… sao có thể nằm ở đây được.”

Anh không thể chết. Ông Ivan đã tận mắt nhìn thấy một người rời khỏi Fallen. Người ấy chắc chắn là anh, chắc chắn vẫn còn sống.

“Này cô.”

Một người giữ mộ gọi tôi lại.

“Ông gọi tôi sao?”

“Ừ. Cô vừa cười giữa nghĩa trang.”

Tôi chợt nhận ra mình đã thất lễ đến mức nào, vội cúi đầu.

“Xin lỗi. Tôi tìm một người, không thấy tên anh ấy nên… tự dưng lại mừng quá.”

“Người ấy tên gì?”

“Sao ông hỏi…”

“Tôi thấy nhiều người như cô rồi.”

Ông nhìn tôi bằng đôi mắt u ám.

“Dinh Công tước mới mở cho dân vào từ hôm qua. Từ đó đến giờ, không dưới mười người đi một vòng tìm tên người thân, không thấy thì tự an ủi rằng họ vẫn sống. Nhưng đến khi tôi hỏi kỹ, nụ cười trên mặt họ lại biến mất.”

“…”

“Cô cứ nói tên đi. Đừng để hy vọng hão làm mình đau thêm.”

Tôi thấy như mình đang đứng trước mặt một sứ giả báo tử. Đôi mắt u ám ấy, giọng nói chắc nịch ấy, cả chút thương xót lẫn trong vẻ mặt ông, tất cả đều khiến tôi tưởng ông sắp nói Agape đã chết.

Tôi không muốn nói. Nhưng cũng không thể cứ ôm chặt lấy hy vọng suông mà phủ nhận lời ông.

Môi tôi run lên. Tôi phải ép mình mở miệng.

“Agape. Quân Hành Quan của Kỵ sĩ đoàn Oleg. Anh ấy tên Agape.”

“Quân Hành Quan của Kỵ sĩ đoàn Oleg… Agape?”

Người giữ mộ nhíu mày, như đang lục lại trí nhớ.

“Ông đã nghe tên anh ấy chưa?”

“Lạ thật. Người giữ chức quân hành quan trong Kỵ sĩ đoàn Oleg, lẽ ra tôi không thể không biết. Nhưng nghe tên ấy, tôi lại thấy như lần đầu.”

Ông lẩm bẩm “lạ thật” mấy lần rồi hỏi:

“Cô có nhớ thứ gì để nhận ra anh ta không? Hình dạng bộ giáp, hoặc món đồ anh ta vẫn mang theo?”

“Có. Thanh kiếm của anh ấy.”

Tôi vô thức siết lấy bó hoa.

“Một thanh Gladius. Lưỡi kiếm bạc, chuôi màu đen, trông được rèn rất tốt. Anh ấy lúc nào cũng mang theo.”

Người giữ mộ ngẩng lên.

“Ông biết nó sao?”

“Tôi… có thấy một thanh như thế. Nhưng tấm bia ở chỗ ấy lại chẳng có tên.”

“Cô cứ theo tôi. Tôi đưa cô đến xem.”

Ông đi trước. Tôi bước theo qua đám cỏ ướt mưa, nghe giày mình giẫm xuống từng bước sột soạt.

Ở một góc khuất cuối nghĩa địa, ông dừng lại.

“Chính là ngôi mộ này.”

Trước mắt tôi là một tấm bia không tên.

“Này cô… cô có sao không? Sao không nói gì?”

“Nếu ra được khỏi thành phố… anh có chịu cưới em không?”

Tí tách.

“Chuyện này… không phải mơ đấy chứ?”

“Ừ… Hức… Nhớ giữ lời hứa đấy nhé?”

“Hức… Không giữ lời, em sẽ đánh anh một trận nên thân.”

Tí tách. Tí tách.

“Không… phải chứ? Agape… Agape?”

Suốt một quãng đời dài tưởng như vô tận, tôi đã sống bằng giấc mơ được gặp lại anh.

Tôi đã hình dung mình lao vào vòng tay ấm áp, nghe nhịp sống trong lồng ngực anh. Tôi sẽ khóc, sẽ nói mình nhớ anh đến nhường nào. Còn anh sẽ dỗ dành tôi bằng những lời lẽ và cái chạm vụng về mà dịu dàng của mình.

“Hức… ha… ha ha ha…”

Trên bia chỉ còn hai mốc năm:

[Niên lịch Shahlmagne 870–907]

Sau ngần ấy năm, thứ đợi tôi không phải vòng tay ấm áp của anh. Cũng chẳng phải giọng anh gọi tên tôi bằng tất cả yêu thương.

Trước tấm bia lớn đến tên anh cũng không còn, chỉ có thanh kiếm anh bảo là di vật của cha đứng đó, cô độc và lạnh ngắt.

Dưới chân bia còn có chiếc nhẫn hoa tử đinh hương, thứ tôi đã trả lại cho anh như ném bỏ.

Tôi chạm vào thanh kiếm. Không có hơi ấm. Chỉ có cái lạnh của thép ngấm vào tay.

Thế giới của tôi.

Thế giới quý giá nhất của tôi.

Tôi ôm ghì lấy thế giới đã sụp đổ ấy và gào khóc đến lạc giọng.

Bạn đã đến cuối chương 81.

Không gian đọc của bạn