“Hửm? Ai ở kia vậy?”
Một ông lão xuất hiện cùng chiếc xe ngựa nhỏ. Trên xe có hai đứa trẻ còn bé.
‘Xe ngựa? Tại sao lại có xe ngựa ở đây?’
Kể từ ngày Ambar sụp đổ, chẳng mấy ai còn đánh xe đến vùng đất nằm tận cùng phía Đông này. Tôi dừng bước, nhìn chiếc xe đang chầm chậm tiến lại.
“Ông là ai?”
“Chà, ta vừa hỏi cô câu ấy trước đấy. Cô trả lời trước mới phải phép chứ?”
“…Tôi tên Kara.”
“Kara? Trùng tên với vị Anh Hùng ấy nhỉ.”
Tôi khựng lại. Để người khác biết mình đang ở đây cũng chẳng có ích gì, nên chỉ gật đầu cho qua.
“Tôi thường nghe người ta nói vậy.”
“Mà cô đừng nói năng câu nệ quá. Trông cô như một Kỵ sĩ, còn ta chỉ là lão đánh xe. Cô kính cẩn với ta thế này, nghe kỳ lắm.”
“Vậy… cháu sẽ nói chuyện tự nhiên hơn.”
“Ừ, thế mới được.”
“Nhưng sao bác lại đánh xe tới tận đây?”
“Hửm? Ý cô là sao?”
Tôi nhìn hai đứa trẻ đang nô đùa ầm ĩ trong thùng xe, rồi nhìn những chiếc hòm xếp sau lưng chúng.
“Xe bác đâu giống xe của một thương nhân. Lại còn chở theo hai đứa bé đến miền Đông vắng người thế này. Cháu thấy hơi lạ.”
“À… Nhìn từ ngoài thì đúng là kỳ thật.”
Ông lão cười, nhưng nụ cười thoáng chút chua chát.
“Cô biết vừa rồi xảy ra đảo chính chứ? Đế đô bị phong tỏa suốt một thời gian. Đến lúc mở cửa trở lại thì năm thành phố cũng tê liệt, hàng hóa thiếu trước hụt sau. Thế là cái ông Serebus bên Gramr gom hết những ai biết đánh xe ở Đế đô, lập tạm một đoàn buôn. Ta cũng bị kéo vào, gần như chẳng được chọn, rồi cứ rong ruổi khắp lục địa chở vật tư về Đế đô để nhận tiền công.”
Ông hất cằm về phía những chiếc hòm trên xe.
“Hàng ở trong đó cả đấy. Cha mẹ hai đứa nhỏ đang ở vùng khác. Đáng lẽ ta phải gửi chúng về với cha mẹ, nhưng tình hình rối ren quá, chưa thu xếp được. Đành cho chúng đi theo ta vậy.”
Tôi nhìn hai đứa trẻ. Chúng vẫn chơi đùa, chưa đủ lớn để thấy hết những điều người lớn đang lo lắng. Nhìn vẻ mệt mỏi trong mắt ông, tôi khẽ nói:
“Bác vất vả rồi.”
“Có gì đâu. Nói ra thì hơi khó nghe, nhưng cái ông Serebus ấy mở kho vàng của Hoàng cung, người ta bảo bên trong vàng chất chẳng thấy đáy, rồi vung tiền đi khắp nơi. Tiền công ta nhận được cũng khá lắm. Không đủ mua nhà, nhưng chắt chiu chuyến này có khi mua được một con tuần lộc khỏe, kéo xe giỏi.”
Ông lão gật gù, nét mặt bỗng thỏa mãn hơn.
“À, ta quên giới thiệu. Ta là Ivan. Hai đứa nghịch như quỷ trong xe kia, thằng anh là Mikhail, con bé em là Maria. Hai đứa, chào cô Kỵ sĩ đi nào.”
“Cháu chào cô ạ!”
“Chào cô ạ!”
Hai đứa đang nhảy nhót lập tức cúi gập người, hồn nhiên đến mức tôi cũng muốn mỉm cười. Ivan nhìn chúng với ánh mắt đầy thương yêu, rồi lại quay sang tôi.
“Thế còn cô? Sao một Kỵ sĩ lại tới vùng hẻo lánh này? Ta phải đi kiếm hàng cho Đế đô nên mới lặn lội đến đây. Cô thì đâu có việc ấy.”
“Cháu… lâu rồi mới về quê.”
“Quê? Ở đâu?”
“…”
Tôi đưa mắt về phía thành phố ở đằng xa. Ivan nhìn theo, và nụ cười trên mặt ông biến mất trong thoáng chốc.
“Cô… quê ở Fallen sao?!”
“Vâng. Cháu là người Fallen.”
“Chà… Ta tưởng chẳng còn ai sống sót ở đó nữa. Hóa ra vẫn có người trở về được.”
“…Bác chỉ nghĩ vậy thôi sao?”
“Sao lại hỏi thế?”
“Cháu xuất thân từ Fallen. Người ta thường bảo lời nguyền của thành phố ấy lây sang người khác. Họ không muốn đến gần cháu. Nhưng bác chẳng có vẻ gì là sợ.”
“Hừm… Cũng có người tin thế thật. Còn ta thì chuyện gì chưa tận mắt thấy, ta cứ coi là mê tín. Hơn nữa, nghe nói người Fallen có những mảng da đen như bị lửa hun, cô có thấy mình như vậy đâu.”
Ông nhìn thẳng vào mặt tôi.
“Hay là có?”
“…Không ạ.”
“Thấy chưa.”
Ivan khịt mũi, như thể thế là đủ để gạt bỏ mọi lời đồn. Tôi đã quen với những cái nhìn dè chừng mỗi khi người ta biết nơi mình sinh ra, nên phản ứng thản nhiên ấy lại khiến tôi ngẩn người.
“Mà này, đã về quê thì sao mặt cô đầy tâm sự vậy?” ông hỏi tiếp. “Lão già này nhiều chuyện một chút nhé. Trông cô cứ như sắp đi làm lành với người yêu đã chia tay.”
Tôi sững sờ nhìn ông.
“…Đúng vậy.”
“Hả? Ta nói trúng thật à?”
“Vâng. Thật ra…”
Tôi ngập ngừng. Ông vừa mới gặp tôi, đâu có lý do gì phải nghe chuyện cũ của tôi. Nhưng có lẽ vì đã lâu lắm rồi không ai hỏi, tôi vẫn cười buồn và nói tiếp:
“Ngày trước cháu đã nói với anh ấy những lời rất tàn nhẫn. Về sau chúng cháu làm lành qua thư, anh ấy cũng tha thứ cho cháu rồi. Nhưng đây là lần đầu cháu gặp lại anh ấy sau mười lăm năm. Cháu chẳng biết đến trước mặt anh ấy phải mở lời thế nào.”
“Thế thì mang một món quà đến đi.”
“Quà ạ?”
“Ừ. Ta chợt nghĩ ra thứ hợp lắm. Đợi ta một lát.”
Ivan đứng dậy, chui vào thùng xe lục giữa các hòm hàng. Tôi nghe ông lẩm bẩm không biết mình đã để nó ở đâu, rồi tiếng đồ vật dịch qua dịch lại vang lên. Một lúc sau, ông reo lên:
“Đây rồi! Khó tìm thật đấy.”
Ông quay lại, trên tay cầm một bó hoa nhỏ màu trắng.
“Cô bảo mình tên Kara, phải không?”
“Vâng, cháu tên Kara.”
“Có muốn mua bó hoa này không?”
Ivan chìa những bông hoa trắng tinh về phía tôi. Chúng nằm gọn trong bàn tay ông, cánh hoa mịn màng, nổi bật giữa miền đất lạnh lẽo cuối ngày.
“Hoa này cũng tên Kara.”
“Có loài hoa tên Kara sao?”
“Cô không biết à? Cũng phải, hoa ấy đâu thường gặp. Hồi trẻ, nếu không có một cô bé thân thiết như em gái kể cho ta nghe, chắc ta cũng chẳng biết. Kara vốn là tên một loài hoa đấy.”
Ông nhìn mái tóc tôi, rồi khẽ gật đầu như vừa tìm được lời giải cho một điều thắc mắc.
“Tóc cô trắng thế này, chẳng lẽ cũng vì loài hoa ấy? Ở vùng Criseldora, vựa lương của Đế quốc Elf, nhà Dustihes lấy hoa Kara trắng làm biểu tượng. Ta cứ ngỡ cha mẹ cô nhìn loài hoa đó mà đặt tên, vì mái tóc trắng của cô. Ta đoán sai sao?”
Nhà Dustihes. Hoa Kara trắng. Tôi chưa từng nghe ai nói hai điều ấy với mình. Bao ý nghĩ thoáng qua, nhưng tôi chỉ lắc đầu.
“Không ạ. Thật ra… người đang đợi cháu trong thành phố mới là người đặt tên cho cháu.”
“Người ấy? Sao cha mẹ cô lại… À.”
Ivan bỏ lửng câu hỏi. Có lẽ ông đã hiểu vì sao tôi không nhắc đến cha mẹ. Ánh mắt ông dịu xuống, pha chút áy náy.
“Khụ… Ta xin lỗi.”
“Không sao đâu. Bác không biết mà.”
“Vẫn thấy ngại quá. Thôi, bó hoa này cô cầm đi, không phải trả tiền. Vừa rồi ta định bán, nhưng coi như ta tặng để xin lỗi.”
“Như thế có được không ạ?”
“Được chứ. Ta đâu chỉ có một bó. Hái nhiều vì muốn nhớ lại chút chuyện xưa ấy mà. Với lại…”
Ivan cười, vẻ ranh mãnh hiền lành trở lại.
“Chính người cô sắp gặp đã đặt cho cô cái tên ấy. Nếu cô đem hoa Kara về tặng, cô nghĩ người ta sẽ vui đến thế nào?”
“Ừm…”
Tôi không chắc. Tôi chưa từng thấy Agape để tâm đến hoa. Trước kia anh lo bữa ăn, củi lửa và những vết thương; chúng tôi nào có nhiều dịp ngồi nói chuyện về một bó hoa.
“Ta bảo đảm anh ấy sẽ thích!” Ivan cười. “Đàn ông ấy mà, trông ngoài có cứng và sần sùi như đá, bên trong đôi khi lại mềm lòng chẳng kém cô gái nào. Nhận bó hoa có khi còn khóc ấy chứ. Chính anh ấy đặt tên cho cô, nhất định anh ấy hiểu nó có ý nghĩa thế nào.”
“Bó hoa có ý nghĩa gì ạ?”
“Có chứ. Bó hoa Kara trắng có nghĩa là: ‘Anh là điều may mắn của em.’ Nghe lãng mạn không?”
“Ừm…”
‘Anh là điều may mắn của em.’
Tôi nhìn bó hoa trong tay Ivan, bỗng nghĩ đến gương mặt Agape khi nghe mình nói câu ấy.
“Chà, cô gái này…”
“Ơ…?”
Phịch, phịch.
Ivan đặt thẳng bó hoa vào tay tôi, ấn thêm mấy cái cho chắc rồi kéo chiếc mũ rơm thấp xuống trán.
“Ta cho thì cứ nhận. Ta có giấu thuốc nổ trong hoa đâu. Coi như đây là lời xin lỗi của ta.”
“…”
Ông đã nói đến thế, tôi còn khước từ thì thật thất lễ. Tôi nâng bó hoa cẩn thận bằng một tay, cúi đầu cảm ơn.
“Cảm ơn bác, Ivan.”
“Ha ha, được rồi. Đi mau đi. Chẳng phải người cô thương đang đợi sao?”
“Vâng. Cảm ơn bác.”
Tôi lại cúi chào. Ivan xua tay, bước xuống khỏi xe.
“Bác không đi tiếp ạ?”
“Ta nghỉ lại đây đêm nay. Trời sắp lặn rồi, đi thêm chỉ có rừng. Dựng trại ở đây an toàn hơn.”
“Hóa ra bác đã từng tới vùng này.”
“Sau vụ đảo chính, ta đi qua các làng mạc quanh Fallen mấy ngày liền. Mới đầu còn lạ đường, giờ gần như thuộc hết rồi.”
Ông quay vào xe để lấy đồ cắm trại. Thấy tôi vẫn đứng nguyên tại chỗ, Ivan ngoái lại giục:
“Còn chờ gì nữa? Mau đi đi, đứng ngẩn ra đó thì mặt trời lặn mất.”
“Vâng. Cảm ơn bác.”
Tôi chào ông lần cuối rồi tiếp tục đi về phía thành phố.
Sột soạt.
Bó hoa nhỏ nằm trong vòng tay tôi. Tôi sẽ trao nó cho người đàn ông mình yêu nhất sau mười lăm năm xa cách, thay cho lời xin lỗi mà mình đã nghĩ đi nghĩ lại suốt quãng đường về.
***
Fallen giờ đã thành một thành phố ma.
Ánh nắng cuối ngày rọi vào từng con hẻm, soi rõ cả những góc khuất mà tôi từng có thể nhắm mắt đi qua. Bước qua cổng thành, tôi mới thấy năm tháng đã để lại trên quê nhà nhiều dấu vết đến thế nào.
Cộp. Cộp.
Nhà cửa sụp đổ ở khắp nơi. Những căn còn đứng vững bị dây leo quấn kín. Thi thoảng, giữa gạch đá và bụi rậm, tôi thấy xương người nằm lộ thiên. Một con chuột cống nghe tiếng chân tôi thì phóng vụt qua đống gỗ mục, biến vào khe tường.
Phố xá bẩn thỉu, hoang tàn. Xương cốt còn xót lại của những người chẳng còn ai chôn cất nằm rải rác ở nơi từng đông người qua lại.
Một người xa lạ hẳn chỉ thấy nơi này ghê rợn. Còn tôi nhìn những con đường ấy mà nhớ mái nhà xưa, nhớ những bước chân từng cùng Agape và Roland đi qua. Dưới những lớp bụi bặm và đổ nát, tôi vẫn nhận ra quê hương mình.
‘Mình đã nhớ nơi này biết bao.’
Fallen từng khiến chúng tôi chịu đủ khổ sở. Vậy mà nghĩ tới Agape đang ở phía trước, tôi lại thấy ngay cả những khúc quanh cũ cũng thân thuộc. Tôi sắp được gặp anh. Cơn ác mộng tưởng chẳng bao giờ dứt rốt cuộc cũng có thể khép lại.
Cộp. Cộp.
Chân tôi đi nhanh dần. Tôi không muốn chờ thêm, dù chỉ bằng quãng thời gian mặt trời cần để lặn khỏi mái nhà cuối phố.
Chíp… chíp chíp…
Tiếng chim vang lên từ đâu đó. Tôi rẽ qua một lối nhỏ, rồi một lối nữa. Lâu ngày không về, tôi cứ ngỡ mình sẽ lạc; hóa ra cơ thể vẫn nhớ từng đoạn đường. Chưa kịp nghĩ phải đi hướng nào, tôi đã chạy tới con hẻm quen thuộc.
Lộp cộp.
‘Sắp rồi…’
Chỉ cần qua góc phố kia, căn nhà nhỏ của chúng tôi sẽ hiện ra.
Tôi, Agape và Roland từng sống ở đó. Ba người chen chúc dưới một mái nhà, trải qua những ngày vất vả, rồi cũng gom góp được biết bao kỷ niệm. Tôi nắm bó hoa chặt hơn.
‘Agape.’
Mười lăm năm trước, sau lần chúng tôi gặp lại ở doanh trại, Hoàng thất định xử tử anh vì tội mưu sát một Anh Hùng.
Ngày họ đến đưa anh đi, tôi đã quỳ trước Tiên Tri Ánh Sáng. Tôi cầu xin Lucas ngăn cuộc hành hình, cầu xin hắn cho tôi một lần giải thích với Agape.
Tôi nói mình có thể viết thư cho anh, kể rằng những lời tàn nhẫn hôm gặp lại đều là nói dối. Tôi đã nhớ anh biết bao; chính vì muốn cứu anh mà tôi chấp nhận trở thành Anh Hùng.
Tôi chỉ xin được nói với anh rằng chúng tôi phải xa nhau thêm một thời gian, cho đến ngày tôi có thể làm tròn bổn phận Anh Hùng. Xin Lucas để Agape biết tôi chưa từng muốn rời bỏ anh.
Tôi quỳ ở đó, van đi van lại. Cuối cùng, tôi đưa được Agape về quê nhà. Đổi lại, anh phải ở lại Fallen cho đến khi tôi thảo phạt Đạo Quân Cõi Chết. Lucas chỉ cho phép chúng tôi trao đổi thư từ.
Ngày ấy, tôi đã phải mừng vì một nhượng bộ nhỏ nhoi như vậy.
Nếu là tôi của những năm đầu bị đưa tới núi Minerva, Lucas hẳn đã cười khẩy rồi gạt phắt mọi lời cầu xin. Nhưng lúc tôi quỳ trước hắn, tôi không còn là cô bé tay trắng từng bị hắn kéo khỏi Fallen.
Tôi đã bước tới cảnh giới Tông Sư. Ngài Namo khi ấy là Phó đoàn trưởng, còn tôi được chọn làm người kế nhiệm. Dù đã trở thành người đứng đầu các Chấp Chính Quan, Lucas cũng không thể hoàn toàn phớt lờ lời tôi nữa.
Nhờ vậy, Agape còn sống. Nhờ vậy, ít nhất chúng tôi có thể gửi thư cho nhau, dù anh bị giữ lại trong thành phố.
Từ hôm ấy đến nay, quyền lực Lucas dùng để trói buộc tôi đã không còn nguyên vẹn. Giờ đây, ngay cả những Tiên Tri mà hắn lãnh đạo cũng đang đứng bên bờ sụp đổ.
Cộp. Cộp.
Nếu Lucas lại lấy Agape làm con tin, tôi sẽ không còn phải cúi đầu nghe theo như ngày trước. Tôi đã đủ mạnh để bảo vệ anh. Lần này, tôi có thể tự mình đưa anh rời khỏi Fallen.
‘Chúng ta có thể sống cùng nhau ở ngoài thành phố.’
Chúng tôi có thể đi khắp những nơi mình từng chỉ dám nói đến, qua đồng cỏ rộng, qua rừng cây xanh thẳm. Rồi sẽ tìm một nơi để dựng nhà. Không còn lệnh triệu tập, không còn lời đe dọa lấy mạng anh. Chỉ còn những ngày bình thường mà suốt bao năm tôi vẫn mong có được.
Tôi dừng lại.
“…”
Căn nhà nhỏ cũ kỹ đã ở ngay trước mặt.
“…Hà.”
Tôi hít sâu, thở ra, mong nhịp tim chậm bớt.
‘Mình căng thẳng cái gì thế này?’
Sắp gặp người mình mong nhớ suốt mười lăm năm, tôi lại không biết câu đầu tiên phải nói gì. Bó hoa nằm trong tay mà lòng bàn tay đã ướt mồ hôi.
Em về rồi.
Hay
Em nhớ anh lắm
?
Em xin lỗi chuyện năm ấy
?
Hoặc là…
Mình kết hôn nhé?
“…Mình nghĩ gì vậy chứ.”
Tôi bật cười một mình. Vừa ngượng vừa vui, đến mức không sao xóa được nụ cười ngốc nghếch trên môi. Tôi có thể chọn lời nào cũng được; chỉ cần cánh cửa mở ra và nhìn thấy gương mặt Agape, tôi biết mình sẽ vui đến không nói thành tiếng.
“Phù…”
Tôi chỉnh lại hơi thở, nhắm chặt mắt một thoáng rồi mở ra. Sau cùng, tôi rụt rè đưa tay gõ cửa.
Cộc. Cộc. Cộc.
Tôi đợi.
…
‘Không có ai ở nhà sao?’
Tôi gõ thêm lần nữa.
Cộc. Cộc. Cộc.
Lại đợi.
‘…Sao vậy?’
Cánh cửa không mở. Tôi cũng chẳng nghe được tiếng bước chân hay hơi thở của ai bên trong. Ban đầu, tôi còn nghĩ Agape đi đâu đó một lát. Nhưng lúc nhìn xuống tay nắm cửa, ý nghĩ ấy bỗng mắc lại trong cổ họng.
“…”
Tay nắm đã rỉ sét. Một lớp bụi dày phủ trên đó, không có lấy dấu tay. Cánh cửa cũ đến mức những tấm gỗ có thể bung ra bất cứ lúc nào.
Tôi ngoảnh nhìn quanh. Lẽ ra phải nhận ra từ khi bước tới đây.
Hàng rào gỗ đã đổ mất một nửa. Mái nhà thủng những lỗ lớn, nhiều chỗ đã lâu không được vá lại. Cả khu đất im lìm, chẳng có một dấu vết nào cho thấy có người chăm nom.
“…”
Đã lâu lắm rồi không ai sống ở căn nhà này.
ẦM!
“Agape!”
Tôi đẩy mạnh cửa, lao vào trong. Bụi bặm tích tụ khắp căn phòng bị luồng gió từ ngoài cuốn tung lên.
“Khụ… khụ…!”
Qua màn bụi ấy, tôi nhìn rõ những thứ từng làm nên cuộc sống của chúng tôi.
“Sao… lại thế này…”
Tôi đứng chết lặng. Món hầm đã mốc meo. Ngọn nến đã cháy hết từ lâu, chỉ còn tro tàn. Chăn đệm cũ bạc màu. Một chiếc ghế đổ nghiêng vì chân gỗ mục nát. Những cuốn sách trên bàn mủn rách đến mức không còn đọc được chữ.
Tôi đã ôm bao hy vọng trở về, đã tưởng Agape sẽ nghe tiếng gõ cửa rồi ra mở. Tôi đã mang theo bó hoa mang tên mình để trao cho anh.
Phịch.
Chân tôi khuỵu xuống. Căn nhà cũ kỹ không có ai sống.
Bó hoa rời khỏi tay tôi, rơi xuống nền nhà đầy bụi.
…May mắn của tôi không ở đây.


