Chương 71 · 105 chương

Agape, Agape, Agape

Cuộc trò chuyện còn kéo dài rất lâu. Các Anh Hùng hỏi vì sao Astolfo lại tìm đến Đạo Quân Cõi Chết. Serebus đáp rằng chính ông cũng không biết. Rồi ông nói rõ điều mình mong chúng tôi làm cho mình.

“Ta muốn dựng nên một Đế quốc mới. Một Đế quốc mang tên gọi và lý tưởng của vương quốc từng tiêu biểu cho Kỷ nguyên Hoàng Kim, chứ không phải một Shahlmagne khác.”

Muốn làm được điều ấy, ông phải dẹp yên những nơi đang rối loạn trên khắp lục địa, thảo phạt Đạo Quân Cõi Chết và giải những nan đề vừa nhắc đến. Việc ổn định các vùng đất, Serebus tin mình có thể tự xoay xở. Hai chuyện còn lại mới là lý do ông cần đến các Anh Hùng.

Tại sao các Tiên Tri không nhìn thấy sự ra đời của Đạo Quân Cõi Chết? Tại sao họ đã chọn con đường mà năng lực tiên đoán chỉ toàn những kết cục chiến thắng, rốt cuộc vẫn thất bại?

Họ làm theo sự dẫn dắt của số mệnh để giữ cho tất cả các Anh Hùng sống sót. Thế nhưng Orlando đã chết, trận chiến đã thua. Sai lệch ấy từ đâu mà có?

Đó là điều Serebus muốn Kỵ sĩ đoàn Shahlmagne Stellarum, muốn chính chúng tôi, đi tìm lời giải.

‘Nếu là lúc khác…’

Tôi đã không nhận lời ông. Ngoài bổn phận của một Anh Hùng, tôi còn có sứ mệnh bảo vệ Morgana, nữ vương của Vương quốc Elf. Giữa lúc lục địa ngập trong loạn lạc, ai dám bảo đất nước ấy sẽ bình yên? Morgana từng cưu mang tôi. Đối với tôi, bà và Vương quốc Elf quan trọng hơn Đế quốc cùng những lời kêu gọi cứu cả lục địa.

Nếu không có gì thay đổi, tôi đã trở về bên họ. Nhưng Serebus hứa dùng sức mạnh Gramr bảo vệ Vương quốc Elf. Ông cũng hứa bảo toàn dòng tộc Bradamante muốn che chở; trái với các Tiên Tri, ông không đem sinh mạng họ ra ép cô phải phục tùng. Talpinus được bảo đảm Thư Viện Cấm sẽ còn nguyên vẹn. Maugrius nhận lời bảo vệ Mullipen.

Với từng người trong số họ, Serebus đưa ra một lời hứa gắn với điều họ sợ đánh mất nhất. Lục địa đang chìm trong hỗn loạn, còn các Anh Hùng, dù hào quang đã phai, vẫn là biểu tượng của hy vọng. Ông cần sức mạnh của chúng tôi, nên sẵn lòng trao những bảo đảm ấy để đổi lấy sự hợp tác.

Nhưng…

“…”

Từ lúc nghe Astolfo đã quay sang Đạo Quân Cõi Chết, rồi nghe Serebus khẳng định các Tiên Tri và gia tộc Impuritas nhất định sẽ sụp đổ, Kara không nói thêm lời nào. Cô cứ nhìn mặt bàn, ánh mắt trống rỗng như thể vẫn còn ở một nơi rất xa.

‘Ngài ấy sao vậy?’

Tôi chưa từng thấy Kara như thế. Bên trong cô có thể yếu mềm hơn dáng vẻ thường ngày, nhưng trước mặt mọi người, cô luôn đứng thẳng, bền bỉ và can đảm. Dẫu gặp chuyện khó đến đâu, cô cũng chưa từng chịu bỏ cuộc, càng ít khi để bản thân thất thần giữa mọi người.

Cô vừa là cấp trên, vừa là đồng đội, cũng là người bạn thân thiết đã ở bên tôi nhiều năm. Nhìn cô ngồi lặng như vậy, tôi không sao yên tâm.

Cuối cùng, Serebus khép lại cuộc nói chuyện.

“Ta còn nhiều việc. Xin phép đi trước.”

Ầm…

Cửa phòng tiệc đóng lại sau lưng ông. Các đồng đội khác cũng đứng lên, mỗi người mang theo những suy nghĩ riêng về lời đề nghị vừa nghe. Tôi vừa định đi cùng họ thì nhìn thấy Kara vẫn ngồi bất động.

Két…

Tôi vội kéo ghế ra, bước đến bên cô.

“Ngài Kara?”

“…”

“Ngài Kara?”

“Ơ… Ừ?”

“Ngài có sao không?”

“Tôi… có lẽ không sao. Cảm ơn cậu đã lo, Danoa.”

‘Không phải.’

Kara đâu có ổn. Trực giác vốn giúp tôi nhận ra tâm trạng của người khác đang bảo rằng trong lòng cô có điều gì đó dâng lên, mạnh đến mức sắp vỡ tung. Cô chỉ cố giữ nó lại để không bật ra trước mặt tôi.

“Da… Danoa.”

Giọng Kara nghẹn đi. Cô dường như còn không biết nên đặt nỗi niềm đang chực trào vào lời nào.

“Tôi đi một lát. Có nơi tôi phải đến.”

“Bây giờ ư? Ngài định đi đâu…”

“Xin lỗi. Nhắn với mọi người và cả Serebus giúp tôi.”

“Tôi không hỏi chuyện đó. Ngài Kara? Xin chờ đã, ngài Kara!”

Rầm rập!

Cô đã chạy khỏi phòng trước khi tôi kịp giữ lại.

Con chim ấy đã sống trong lồng quá lâu.

Ở chiếc lồng đầu tiên, người ta tước đi quyền được bay của nó, nhưng vẫn để bầu trời ở đó. Qua những song sắt, mây cứ trôi và gió cứ đi, còn nó lớn lên cùng một khoảng xanh không bao giờ chạm tới. Nó từng tin tự do nằm ngay bên kia cánh cửa; chỉ cần thoát ra, đôi cánh sẽ tự biết phải đưa mình về đâu.

Thế rồi cánh cửa mở.

Bầu trời chẳng gần hơn.

Chiếc lồng thứ hai rộng đến mức nó đã mất rất lâu mới nhận ra mình vẫn bị giam cầm. Không còn song sắt để níu lấy, không còn bức tường để biết phải vượt qua, chỉ có thế giới mênh mông trải ra trước mắt và đôi cánh cứ chực mở lại phải thu về. Nó đi được xa hơn, qua nhiều miền đất hơn, nhưng cái bóng của chiếc lồng vẫn phủ kín trên lưng. Giữa khoảng trời tưởng như vô tận ấy, đến một nơi để đậu xuống mà không sợ hãi, nó cũng không có.

Hai mươi lăm năm trôi qua như thế.

Khát vọng được bay vẫn còn, chỉ là nó đã học cách giữ khát vọng ấy thật im. Có những điều, nếu cứ ngày ngày gọi tên mà chẳng bao giờ được đáp lại, rồi người ta sẽ sợ cả tiếng vọng trong lòng mình. Con chim dần thôi ngước nhìn trời, cất đôi cánh sát vào thân như cất một lời hẹn đã qua quá nhiều mùa mà không ai đến.

Vậy mà sau quãng đời dài tưởng chừng đã đủ để mọi chờ mong hóa thành cam chịu, những song sắt vô hình cuối cùng cũng han gỉ, rời ra rồi đổ xuống. Khoảng trống mở ra quanh nó. Lần này, chẳng còn gì ngăn đôi cánh nữa.

Nhưng con chim không bay.

Nó chạy.

Nỗi nhớ mà nó từng nén xuống tận đáy lòng bỗng tìm thấy lối về, kéo theo cả thân thể còn chưa kịp tin mình đã được tự do. Phía cuối con đường ấy là những bức tường cũ, là chiếc lồng nhỏ nó từng bỏ lại quê nhà. Suốt bao năm, nó đã nhớ nơi ấy bằng nỗi đau của một sinh linh bị giam giữ, mà chẳng dám nhớ rằng bên trong còn có một người.

Một người khiến chốn tù túng năm xưa trở thành nơi nó muốn trở về bằng tất cả tự do vừa có được.

Bầu trời vẫn rộng ở trên đầu. Chỉ là giờ đây, nó không còn phải đi đến tận cùng bầu trời để tìm một chỗ cho mình.

Hơi thở Kara rối loạn. Cảnh vật trước mắt nhòe đi trong nước mắt, những đường nét vừa hiện rõ đã tan ra theo từng bước chạy.

“Hà…”

Cô thở ra, rồi gắng hít vào, nhưng lồng ngực dường như không sao chứa nổi ngần ấy nhớ thương đang tràn lên.

“Hà…”

Thêm một hơi thở đứt quãng. Đôi chân vẫn không chịu chậm lại.

“Hức… hức…”

Kara không đưa tay lau mặt. Cô cứ chạy, mặc nước mắt chảy xuống, mặc tiếng nấc chen vào từng nhịp thở. Sau hai mươi lăm năm, niềm hạnh phúc từng bị cướp khỏi tay cô đã ở về phía cô có thể tìm đến.

Giọng Agape cứ vang lên trong tâm trí. Cô hình dung gương mặt anh lúc nhìn thấy mình, hình dung khoảnh khắc ánh mắt họ gặp nhau, rồi lại trở về với khoảnh khắc ấy như thể chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ giúp cô bước thêm một bước.

Con đường phía đông vắng người. Kara chạy về phía ấy, mang theo đôi cánh cuối cùng đã được tự do, và nỗi mong mỏi được một lần khép chúng lại bên người mình thương.

***

Từ ngày đưa Helena đến Đế đô và hỏi được tên cô, tôi vẫn nghĩ về những ký ức có lẽ còn sót lại đâu đó trong lòng cô. Khi ấy, chỉ một câu hỏi đã giúp Helena nhớ ra một mảnh quá khứ. Biết đâu những nơi chốn quen thuộc cũng có thể gợi lại điều gì. Mang theo hy vọng ấy, tôi đưa cô trở về Mullipen.

“Helena.”

“Dạ?”

“Đến thành phố này, em thấy thế nào?”

Cô đã quen với tôi hơn trước. Tôi dẫn Helena đi trong dáng vẻ của Joshua, còn cô nắm chặt ngón trỏ tôi như sợ lạc. Nghe hỏi, cô ngước lên, ngẫm nghĩ một lát rồi lắc đầu.

“Em… không biết.”

“Vậy à.”

Dĩ nhiên, chúng tôi không đến đây một mình. Với địa vị hiện tại của tôi, đi đâu cũng có người hộ vệ. El Cid không đi cùng lần này; thay vào đó là Gratia, viên Thiên Nhân Trưởng chỉ huy một nghìn quân.

Lách cách. Lách cách.

Gratia ôm thanh kiếm một tay được bọc cẩn thận trong chiếc khăn choàng đỏ, đứng lùi phía sau và lặng lẽ theo dõi tôi trò chuyện với Helena. Dù cố giữ vẻ nghiêm nghị, anh vẫn không giấu được sự sửng sốt mỗi khi nghe giọng tôi dịu xuống. Hẳn trước đây anh chưa từng thấy tôi nói chuyện với ai như thế.

Để Gratia theo sau, tôi dẫn Helena qua những con đường quen thuộc.

“Chỗ này, em có nhớ không?”

“Đây… là đâu?”

Nơi đầu tiên chúng tôi ghé là chòi canh trên tường thành Mullipen. Ngày trước, mỗi tuần tôi phải trực ở đây một hai lần. Thỉnh thoảng, mấy đồng đội thân thiết lại lén tụ tập chuyện trò; có lần Anastasia còn nổi hứng mang cả rượu lên vọng gác. Khi ấy tôi chỉ nghĩ cả lũ điên thật rồi. Mãi về sau, khi nhớ lại, tôi mới nhận ra những buổi gác ấy đã trở thành kỷ niệm đẹp.

Tôi nghĩ Helena hẳn cũng từng vui ở đây.

Nhưng cô chỉ nhìn thật lâu, cau mày như cố tìm một hình ảnh quen thuộc giữa những gì trước mắt, rồi lắc đầu.

“Em không nhớ.”

“…Vậy à.”

Vẫn còn nhiều nơi khác. Tôi đưa cô đến doanh trại, nơi những người trong Kỵ sĩ đoàn từng sống và luyện tập bên nhau.

“…Không nhớ.”

“Không sao, mình tới chỗ khác.”

Rồi đến sân tập.

“…Em cũng không nhớ.”

“Ừ. Không sao.”

Cuối cùng, tôi dừng trước cổng dinh Công tước.

Ngày ấy, ngay tại đây, Công tước Oleg đã làm lễ phong Kỵ sĩ cho chúng tôi trước sự chứng kiến của dân chúng Mullipen. Với Helena, người luôn khao khát được thừa nhận và đã khổ luyện để trở thành Kỵ sĩ, hẳn đó phải là một ngày khó quên.

Nếu ở Mullipen còn nơi nào có thể đánh thức ký ức của cô, tôi đã mong đó là nơi này.

“Còn chỗ này thì sao?”

Helena nhìn cánh cổng. Một lúc lâu sau, mắt cô cụp xuống, đầu chậm rãi lắc.

“…Em xin lỗi.”

Giọng cô nhỏ đến mức tôi gần như chỉ thấy đôi môi mấp máy.

“Em xin lỗi…”

Tách. Tách.

Nước mắt rơi xuống.

Helena mang dáng vẻ của một Mị Ma quyến rũ đến mức có thể khiến cả người kiên định nhất cũng phải xao lòng. Thế nhưng sau khi sống lại, cô đã mất ký ức, tính tình cũng đổi khác. Trong hình hài trưởng thành ấy là một tâm hồn non nớt, yếu mềm, như đứa trẻ còn bỡ ngỡ trước mọi điều.

Cô khóc vì nghĩ mình đã làm tôi thất vọng.

“Đừng khóc. Khóc nhiều chỉ khiến em đau đầu thôi.”

“Hức… Nhưng em…”

“Không sao mà. Nếu không nhớ… nếu em không nhớ thì có sao đâu? Em cứ sống cuộc đời của mình bây giờ.”

“Hức… Thật… thật sự cũng được ư?”

“Được chứ.”

Đã bao lâu rồi tôi mới nói với một người bằng giọng dịu dàng như vậy? Đã bao lâu rồi tôi mới kiên nhẫn dành từng ấy thời gian để dỗ dành ai đó?

Nếu cô chỉ là một người xa lạ, hẳn tôi đã nhờ pháp sư chữa trị rồi đưa cô đến một nơi an toàn, để cô sống những năm tháng bình yên. Tôi sẽ không bắt cô lần tìm quá khứ, để rồi mỗi lần không nhớ ra lại thêm một lần đau lòng.

Nhưng cô là Helena, người đồng đội từng cùng tôi đi qua bao ngày tháng, người đã dành cho tôi một tấm lòng mà khi ấy tôi không biết phải đáp lại ra sao. Có lẽ vì thế, tôi vẫn muốn giữ cô bên mình, vẫn mong một ngày cô nhớ lại, dù người phụ nữ tôi đang chăm nom gần như đã trở thành một người khác.

“…”

Helena Camellia ngày trước đã chết.

Giờ đây, tôi nhìn một Mị Ma sống trong cơ thể người đã khuất, cố tìm lại trên gương mặt ấy bóng dáng Helena mình từng biết. Màu mắt, màu tóc, cả làn da đều đã đổi khác. Chỉ những đường nét quen thuộc vẫn níu tôi về với cô của ngày xưa.

‘Mình có đang mong đợi quá nhiều không?’

Biết đâu việc đưa cô đi khắp Mullipen chỉ khiến cô thêm khổ. Tôi nói mình muốn giúp cô tìm lại ký ức, nhưng có thật là vì cô? Hay tôi chỉ muốn chuộc lỗi, muốn tìm chút an ủi cho bản thân bằng cách chờ đợi một người đã chết trở về trong hình hài trước mắt?

Tôi nhìn cô thật lâu mà không tìm được câu trả lời.

Sột soạt.

Gratia đưa cho tôi một chiếc khăn tay. Tôi nhận lấy, đưa lên định lau nước mắt cho Helena.

Bốp!

Cô bất ngờ gạt phắt tay tôi.

“À…!”

Chính Helena cũng giật mình. Cô nhìn bàn tay mình rồi nhìn tôi, hoang mang như không hiểu vì sao bản thân lại làm vậy. Tôi biết cô không cố ý.

Và tôi cũng đoán được nguyên do.

“…”

Cô sợ tôi.

Bản năng của một Mị Ma đã nhận ra Bóng Tối ẩn trong tôi, nhận ra thứ sức mạnh ấy nguy hiểm đến nhường nào. Helena muốn ở cạnh tôi, muốn đón nhận sự dịu dàng tôi dành cho cô, nhưng cơ thể đã phản ứng trước cả ý nghĩ, hất bàn tay tôi ra xa.

‘Nghĩ lại thì…’

Với tính tình hiền lành, cô đã cố gắng ở gần tôi suốt mấy ngày qua. Chỉ là nỗi sợ trong vô thức chưa bao giờ biến mất. Tôi cứ nhìn bàn tay cô nắm lấy mình mà quên rằng mỗi lần tôi đến quá gần, ngay cả việc đứng yên thôi cũng khiến cô phải gắng sức.

“…”

Một Mị Ma mang Nhân Tố Ma Vương lại sợ tôi đến mức bản năng phải chống cự. Sợ một con người, hay đúng hơn, một kẻ từng là con người nhưng giờ chẳng còn giữ được bao nhiêu dáng vẻ của loài người.

Tôi biết Helena không muốn nhìn mình như quái vật. Dẫu vậy, nỗi sợ hiện trên gương mặt ấy vẫn khiến ngực tôi thắt lại.

‘Helena…’

Qua những đường nét quen thuộc, tôi lại thấy cô gái nghịch ngợm ngày xưa, người từng theo tôi khắp Kỵ sĩ đoàn và luôn hết lòng tin tưởng tôi. Trong một thoáng, dường như chính Helena ấy cũng đang nhìn tôi bằng đôi mắt sợ hãi.

Một điều gì trong lòng tôi lặng lẽ đổ sụp.

‘Phải rồi.’

Cứ tiếp tục thế này để làm gì? Cô phải gắng vượt qua nỗi sợ để ở bên tôi, còn tôi cứ nhìn cô qua ký ức về một người đã chết. Chúng tôi ở cạnh nhau mà chỉ khiến nhau thêm đau.

Tôi đã quá quen với những mối gắn bó như thế. Cũng vì đã quá quen, tôi biết mình không còn sức chịu đựng thêm một lần nữa.

‘Đến lúc…’

Tôi không muốn tiếp tục như vậy.

“Em… em không cố ý làm thế đâu…”

“Không sao.”

Tôi quay lưng, nhận lại thanh kiếm Gratia đang ôm.

“Gratia, ở đây với Mị Ma. Đợi ta quay lại.”

“Vâng.”

“Khoan…!”

Helena định bước theo, nhưng Gratia đã nhẹ nhàng ngăn lại.

“Cô hãy ở đây cùng tôi.”

Tôi ngoái nhìn cô lần cuối rồi đi về một góc dinh Công tước. Ngay cả khi cả tòa thành đổ sụp, nơi ấy vẫn trụ lại, lặng lẽ và cô độc giữa cảnh hoang tàn, như đã bị người đời bỏ quên.

***

Cộp.

Nghĩa Trang Tinh Tú.

Nơi này được đặt tên để tưởng nhớ những Kỵ sĩ mang những sức mạnh tinh tú trong Thức. Mỗi lần vượt qua một cảnh giới, trong thức họ lại xuất hiện thêm một vì tinh tú. Từ những người phụng sự nhà Oleg thuở ban đầu, các thân tín đời sau, cho đến những Kỵ sĩ cùng lứa và bạn bè tôi, tên họ đều được khắc tại đây.

Nói là nơi an nghỉ, nhưng dưới những tấm bia ấy vẫn chưa có một cỗ quan tài nào.

Cộp. Cộp.

Tôi bước dọc hàng bia mang tên những người từng sống bên mình.

‘Phải rồi. Quan tài vẫn còn dưới hầm dinh Công tước.’

Quá nhiều chuyện xảy đến khiến tôi gần như quên mất. Hôm khác phải sai người đưa họ về đây an táng. Cũng cần tìm người chăm coi nghĩa trang, sửa lại những phần dinh bị tàn phá. Rồi cả Mullipen nữa, thành phố đổ nát này phải được dựng lại như xưa.

Vừa đi giữa những ngôi mộ trống, tôi vừa thầm thu xếp những việc còn phải làm.

Cộp. Cộp. Cộp.

Anastasia.

Nikita.

Helena.

Và rồi…

Cộp.

Agape.

Dưới tấm bia cuối cùng cũng không có quan tài. Cái tên khắc trên đó là tên tôi.

“…”

Không ngờ lại có ngày tôi đứng trước mộ của chính mình. Nếu nghe được chuyện này vào mấy chục năm trước, hẳn tôi đã chửi người báo tin một trận. Khi ấy, lời đó có khác gì một câu trù ẻo.

Còn bây giờ, tôi lại thấy nhẹ lòng.

Bởi Agape thực sự đã chết rồi. Trên đời này, thứ còn lại của con người mang tên ấy chỉ là một tấm bia. Những dấu vết cậu ta từng để lại giữa lục địa rộng lớn hẳn cũng đã nhạt nhòa theo năm tháng. Dù tôi vẫn đứng đây, tấm bia này đâu có nói sai. Cuộc đời của Agape ngày ấy đã kết thúc từ lâu.

Sột soạt.

Trước khi tôi đến Mullipen, Serebus đã nói rõ giới hạn của Amber phỏng chế. Thông thường, một vật như thế không thể xóa sạch sự tồn tại của một con người. Một cuộc đời để lại quá nhiều dấu vết, hiện diện trong ký ức của quá nhiều người. Chỉ một điều ước không đủ khiến tất cả biến mất.

Nhưng với tôi thì có lẽ khác.

Khi còn là Agape, tôi chưa từng làm nên điều gì đáng để người đời ghi nhớ. Người còn nhớ cái tên ấy vốn chẳng bao nhiêu, có khi đã không còn ai nữa. Ngay cả những người từng biết tôi, biết đâu cũng chỉ mong xóa được cái tên ấy khỏi ký ức.

Nếu chẳng còn ai giữ chặt hình bóng Agape bằng một tình cảm đủ mãnh liệt, điều ước sẽ khiến mọi người quên tôi, đồng thời xóa đi những ghi chép còn sót lại.

Bởi vậy, dù chỉ là Amber phỏng chế, xóa Agape khỏi thế giới vẫn dễ dàng hơn nhiều so với xóa một người còn được bao người khác nhớ thương.

Giờ còn ai cố nhớ đến tôi nữa đâu. Không ai muốn gặp, cũng chẳng còn ai gọi tên tôi.

‘Cuộc đời ấy vừa dài, lại vừa ngắn.’

Soạt.

Tôi gỡ một nửa chiếc khăn choàng đỏ quấn quanh thanh kiếm. Dưới lớp vải, lưỡi bạc dần lộ ra.

Thanh Gladius của cha tôi.

Phập!

Tôi cắm nó xuống đất rồi đọc cái tên khắc trên bia.

“Agape.”

“…Agape.”

“…Agape.”

Amber đã nằm trong tay. Trước khoảnh khắc bóp vỡ nó và thốt ra điều ước, tôi lại ngẩng nhìn tấm bia sẽ thành mộ mình thêm một lần nữa.

“…”

Chẳng bao lâu nữa, Agape sẽ chết.

“Kh… khà…”

Chết trong ký ức của tất cả mọi người.

Tách. Tách.

“Kh… khà…”

Một khi đã bị quên đi, cái tên ấy sẽ vĩnh viễn không còn ai nhớ đến. Không ai gọi nó, không ai đi tìm người đã từng mang nó.

Thế cũng được.

‘…Vậy thì…’

Cuộc đời ấy đâu đến nỗi nào…

Rắc!

Bạn đã đến cuối chương 71.

Không gian đọc của bạn