Đã gọi là tiệc chiêu đãi thì bàn ăn cũng được bày biện cho xứng. Có những món quen thuộc với người sinh ra ở Đế quốc như Maugrius và Talpinus, lại có cả thức ăn mang hương vị quê nhà của Danoa, Bradamante. Chỉ nhìn một lượt, tôi đã thấy lòng mình xao động.
Thật lòng mà nói, tôi nhớ những món ấy. Đã lâu tôi bận đến mức không thể về quê, cũng chẳng có dịp ăn lại hương vị mình từng quen. Mùi thức ăn vừa dậy lên đã gợi nhớ những ngày tôi còn được ngồi ăn mà không phải nghĩ đến chiến tranh. Nếu là một ngày khác, hẳn tôi đã vui vẻ dùng bữa.
Nếu là một ngày khác.
Soạt… Xoảng…
Tiếng bát đĩa va nhau, tiếng nhai thịt đầy ngon miệng vang lên giữa phòng tiệc. Ngoài những âm thanh ấy, nơi này yên ắng đến khó chịu. Chúng tôi vừa tận mắt thấy Hoàng đế bị đám đông đánh đến chết dưới quảng trường.
Cảnh tượng ấy vẫn còn nguyên trước mắt, khiến không một Anh Hùng nào nuốt trôi thức ăn. Riêng Serebus ngồi ở đầu bàn, hai tay liên tục cầm dao nĩa, ăn uống như thể buổi sáng vừa qua chẳng có gì khác thường.
Ông ăn hết một phần bò hầm rượu vang kiểu Bourguignon rồi quay sang người đầu bếp đang đứng cạnh cửa. Ông ta chắp hai tay trước bụng, cố giữ lễ nhưng cả người căng cứng.
“Món ăn ngon lắm, đầu bếp.”
“…”
Mồ hôi lạnh chảy dọc thái dương người đầu bếp. Ông cúi rạp xuống tạ ơn, không dám nhìn thẳng vào Serebus. Serebus khoát tay ra hiệu ông có thể lui.
Cánh cửa đóng lại, để lại trong phòng tiệc giờ chỉ còn ông và chúng tôi.
Vừa dùng khăn ăn lau miệng, Serebus vừa nói:
“Xin lỗi vì đã để các vị thấy cảnh ăn uống thiếu ý tứ. Ta cũng sinh ra ở Đế quốc, lâu rồi mới được nếm lại món quê. Dạo gần đây bận quá, đến một bữa ăn tử tế cũng chẳng có thời gian.”
“Ngươi không sợ chúng ta sao?” Danoa hỏi.
“Ý cậu là gì?”
“Ở một mình trong phòng với chúng ta, không lấy một tên hộ vệ. Ngươi chưa nghĩ rằng chúng ta có thể giết ngươi à?”
Danoa có lý. Trên sân hiên lúc nãy, bên cạnh Serebus còn có hai kẻ chẳng rõ lai lịch và những Kỵ sĩ giáp đen mạnh hơn cả Kỵ sĩ Hoàng gia. Giờ ông đã cho toàn bộ người của Gramr ra ngoài, tự mình ngồi ăn giữa một phòng đầy Anh Hùng.
Chỉ cần một người rút kiếm, những người còn lại sẽ có thể hợp sức ngay lập tức. Đứng ở vị trí chúng tôi, cảnh ấy chẳng khác nào ông đang bảo: cứ thử giết ta đi.
“Ừm…”
Serebus hơi bĩu môi, đưa tay vuốt cằm như đang cân nhắc một chuyện nhỏ nhặt.
“Vậy thì giết đi.”
“…Ngươi nói gì?”
“Ta bảo các vị cứ giết ta.”
Lần này đến lượt Danoa sững người.
“Ngươi thật sự nghĩ chúng ta sẽ không ra tay?”
“Không. Nhìn vào những tương lai có thể xảy ra, ta thấy mỗi người trong các vị có ít nhất hai mươi cách khiến ta chết ở đây.”
“Thế sao ngươi còn…”
“Trước hết, để ta hỏi cậu một câu.”
Đôi mắt tím của Serebus dừng hẳn trên mặt Danoa.
“Cậu nghĩ ta sợ chết nên mới đem lời đe dọa trẻ con ấy ra nói sao?”
“…”
Danoa không đáp. Nhưng cậu có trực giác nhạy bén hơn người. Chỉ cần tập trung, cậu thường nhận ra đối phương đang nói thật hay dối. Lúc này, bản năng ấy báo cho cậu biết: trong những lời Serebus vừa nói, không có lấy một chút giả dối.
“Ta còn không hiểu vì sao các vị sốt sắng muốn giết ta đến thế.”
Serebus đưa mắt nhìn từng người quanh bàn.
“Đế quốc đã sụp đổ. Người có thể gom những mảnh rời rạc của nó lại lúc này chỉ có ta. Đạo Quân Cõi Chết chưa biến mất; những thế lực khác trong bóng tối cũng sẽ nhân loạn mà ngoi lên. Trong tình cảnh ấy, ta là người duy nhất đủ sức đối phó. Vậy mà các vị vẫn muốn ta chết sao?”
Maugrius bật dậy, giọng đầy tức giận:
“Ngươi còn hỏi? Bởi ngươi là người của Gramr…”
“Ta vừa nói trên quảng trường rồi còn gì. Ta không chấp nhận thứ chính nghĩa của Đế quốc cũ, vì thế mới đứng về phe bóng tối. Ta muốn dựng một Đế quốc hành động theo lý trí của con người, thay vì răm rắp nghe lời số mệnh.”
Phòng tiệc lại im phăng phắc. Thấy không ai lên tiếng, Serebus nói:
“Có vẻ các vị vẫn không tin.”
“Tin ngay mới là chuyện lạ,” Talpinus đáp.
Serebus quay sang anh.
“À, Talpinus. Cậu là một trong hai người có thẩm quyền cao nhất trông coi Thư Viện Cấm Hoàng Cung, ngang hàng với vị quản thư Hoàng thất. Đã đọc bao điều bị cất giấu trong đó, cậu vẫn còn định kiến với phe bóng tối ư?”
“Vì trong đám ấy chẳng có mấy kẻ bình thường. Ta dựa vào những gì mình biết để phán đoán thôi.”
“Cậu vội gom tất cả vào một loại rồi đấy.”
Như thể đã chờ đúng câu trả lời ấy, Serebus chỉ phẩy tay. Trước mặt chúng tôi bỗng xuất hiện từng chồng tài liệu, chất cao tới mức che khuất những đĩa thức ăn.
Trên giấy ghi lại tên người, tên vùng đất, cùng lý do họ bị Đế quốc và các Tiên Tri khai trừ rồi liệt vào phe bóng tối.
“Vùng Orlo từng trải qua một trận đại hạn. Dân chúng đói khát, nhưng các Tiên Tri nhìn thấy rằng sau này họ sẽ phẫn nộ vì nạn đói và gây họa cho Đế quốc. Bởi lời tiên tri về một tai họa chưa tới ấy, cả vùng Orlo bị Đế quốc đẩy sang phe bóng tối.”
Serebus lật sang một trang khác.
“Một đứa trẻ nhà nghèo được tiên đoán sẽ trở thành Phù Thủy, tay sai của một thế lực tà ác trong tương lai. Chỉ vì chuyện còn chưa xảy ra ấy, cha mẹ và họ hàng của đứa trẻ bị giết. Đối với gia đình ấy, lời tiên tri đã gây ra tai họa trước cả cái tương lai mà nó nói đến.”
“Thuở rất xa xưa, một đế quốc cổ đại gánh trên vai sinh mạng của hàng chục triệu người cũng bị tuyên bố sẽ nhiễm ma khí của Ma Vương và trở thành đế quốc tà ác. Các Tiên Tri đã khiến nó diệt vong sau những cuộc tàn sát không sao kể hết.”
Giọng ông vẫn đều, như thể những sinh mạng trên giấy chỉ là con số. Rồi ông đọc tiếp:
“Còn có phu nhân của một gia tộc quý tộc danh giá. Bà được tiên đoán sẽ sinh ra một Đại Anh Hùng, nên các Tiên Tri bắt cóc bà, ép bà thành công cụ sinh con. Tương lai của cả gia tộc ấy cũng bị chúng hủy hoại.”
Cộp!
Serebus ném một con dấu xuống giữa bàn. Mặt dấu sẫm màu mang ấn ký của Hoàng đế, trông giống một vết nhơ được đúc thành hình hơn là vật dùng để ký giấy tờ.
Hễ Đế quốc cùng các Tiên Tri quyết định khai trừ ai, chính con dấu ấy sẽ được đóng xuống để khoác cho họ cái tên “phe bóng tối”. Từ một vùng đất đến một gia tộc, biết bao số phận đã đổi khác chỉ vì dấu mực ấy.
“Họ bị gán tội mình chưa từng phạm, rồi bị đuổi đi như những kẻ sinh ra đã thuộc về bóng tối. Đế quốc và các Tiên Tri cướp sạch những gì họ có. Cậu nghĩ họ còn có thể không ôm hận, không muốn xóa sổ những kẻ đã đẩy mình đến bước đường ấy sao?”
Ông ngẩng lên nhìn Talpinus.
“Sau tất cả, cậu vẫn muốn những người ấy cư xử như chưa từng bị tổn thương à?”
“…”
“Ta biết. Lời ta cũng có phần phiến diện. Cậu đọc đủ nhiều để biết trong phe bóng tối không chỉ có những người vô tội. Bởi thế, ta hỏi cậu điều này.”
Một tờ giấy khẽ lật qua dưới tay ông.
“Giữa Đế quốc và phe bóng tối, theo cậu, ai đã hại nhiều người vô tội hơn?”
“…”
Nếu đếm những người vô tội bị giết, đáp án chẳng cần nghĩ lâu: Đế quốc và các Tiên Tri. Trong phe bóng tối vẫn có những kẻ điên cuồng chém giết; Talpinus hiểu điều đó, Serebus cũng chẳng phủ nhận. Nhưng số nạn nhân ấy không thể sánh với những sinh mạng mất đi vì các hành động của Đế quốc và Tiên Tri trên khắp lục địa.
Serebus nói tiếp, chẳng cần Talpinus phải trả lời thành tiếng:
“Nếu vẫn cho rằng ta sai vì đã đánh đổ một Đế quốc mục ruỗng, các vị cứ giết ta. Dù ta không rõ các vị định hạ một cựu Chấp chính như thế nào khi không mang giáp lẫn kiếm, ta cũng chẳng có vũ khí. Riêng Bradamante thuộc dòng tộc Idea kia, có lẽ dùng tay không cũng xé xác ta được.”
“…”
Không một ai lên tiếng. Xét bằng lý trí, chúng tôi không tìm được cách bác bỏ điều ông vừa nói. Nhìn vẻ mặt Serebus, chúng tôi còn hiểu đây là niềm tin thật sự của ông. Ông có thể chọn cách kể có lợi cho mình, song lời ông nói về đức tin của bản thân không phải lời giả dối.
Đôi mắt là tấm gương soi cảm xúc.
Đó là câu nói ai trên lục địa này cũng từng nghe. Chúng tôi đã trải qua đủ nhiều trận chiến để tin vào trực giác của mình. Và trong đôi mắt không hề dao động của Serebus, trong cách ông thẳng thắn ngồi trước chúng tôi, tất cả đều cảm nhận được ông thật lòng. Điều đó khiến sự im lặng quanh bàn càng nặng nề: nhận ra một kẻ đối địch thật lòng tin vào lẽ phải của mình, chúng tôi phải trả lời ông thế nào?
“…Phù.”
Serebus từ từ ngả lưng vào ghế, như thể thân thể già nua đã mỏi sau quãng thời gian ngồi thẳng. Ông nhấp một ngụm sâm panh vốn dành cho Hoàng đế rồi lại nhìn chúng tôi.
“Ta muốn thương lượng với các vị.”
“Thương lượng?” tôi hỏi.
“Phải.”
Serebus gật đầu, rồi chậm rãi nói:
“Các vị cũng thấy Đế quốc và cả lục địa đang rối loạn đến mức nào. Chẳng bao lâu nữa, Đạo Quân Cõi Chết sẽ lại tràn ra; chúng ta phải chặn chúng. Đế quốc cũng cần nhanh chóng ổn định, rồi còn những ‘bóng tối’ sẽ trỗi dậy khắp các miền đất đang bên bờ diệt vong. Chúng ta phải đối phó với cả chúng. Và còn…”
Ánh mắt tím ấy dừng trên người tôi.
“Vô số bí ẩn chúng ta chưa thể hiểu, những nan đề đã đẩy thời cuộc đến tận hôm nay.”
Ông dừng lại một nhịp.
“Chúng cũng phải được giải quyết.”
“…”
Tôi không biết ông đang nói đến nan đề nào. Nhưng điều Serebus muốn ở chúng tôi thì chẳng khó đoán. Orlando có thể đã chết, song ngay trong căn phòng này vẫn có ba Anh Hùng ở cảnh giới Tinh Thông, một người Tinh Thông đã gần chạm ngưỡng Tông Sư, và tôi, người đã bước vào cảnh giới Tông Sư. Ông nhìn chúng tôi không chỉ như những kẻ vừa bị bắt, mà còn như năm vũ khí có thể mang trở lại chiến trường.
Chúng tôi từng thua Kỵ sĩ giáp vàng của Gramr đến mức không chống đỡ nổi. Nhưng từ gần hai mươi năm nay, thứ chúng tôi đối đầu vẫn là những quái vật nằm ngoài lẽ thường của con người.
Chiến đấu với một Kỵ sĩ là một chuyện; đứng trước những sinh vật có thể xé tan cả đội quân lại là chuyện khác. Về việc săn diệt chúng, chúng tôi có kinh nghiệm mà không đạo quân bình thường nào sánh nổi.
Serebus cần các Anh Hùng làm một việc.
“Ông muốn chúng tôi tiếp tục thảo phạt Đạo Quân Cõi Chết?”


