“Bradamante?”
“…Chị?”
Theo Sargon dọc hành lang, tôi gặp Bradamante từ phía đối diện. Chưa kịp bước đến chỗ cô ấy, tôi đã nghe một giọng nói khác:
“Mừng vì ngài vẫn bình an, ngài Kara.”
Là Talpinus. Một bên mắt anh đã không còn nhìn thấy gì.
Bradamante và Talpinus. Trên đường trở về Đế quốc, họ từng chia nhau đến những thành phố khác. Giờ cả hai đã quay lại. Nhưng vừa nhìn sang Talpinus, tôi đã nhận ra còn thiếu một người.
“Astolfo đâu?”
Anh ta đã cùng Talpinus đến Mirzam. Vậy mà giờ Talpinus trở về một mình.
“…”
Vẻ mặt anh tối sầm. Talpinus cúi đầu, hồi lâu mới đáp:
“…Tôi xin lỗi.”
Một lời xin lỗi mơ hồ đến đáng sợ. Anh không nói Astolfo còn sống hay đã chết, cũng chẳng cho tôi biết chuyện gì xảy ra. Tôi chỉ hiểu Talpinus xin lỗi mình vì tôi là hôn thê của Astolfo. Hẳn đã có chuyện rất tồi tệ xảy đến với hắn.
Nhận ra Astolfo là người duy nhất vắng mặt, tôi bất giác siết chặt tay.
Đó là lòng căm hận tôi vẫn mang theo từ lâu. Nó quá lớn, quá độc địa, nên tôi đã ép mình giữ nó nằm yên như một đốm than vùi dưới tro. Chỉ một lời xin lỗi của Talpinus đã khiến lớp tro ấy bị xới tung.
Astolfo. Trưởng nam nhà Impuritas. Hắn vin vào danh nghĩa hôn phu để hết lần này đến lần khác giở trò với tôi. Hắn còn chĩa mũi thương vào Agape, suýt cướp đi mạng sống của anh.
Ký ức ấy trở lại, và đốm than lập tức bùng thành lửa. Tôi căm ghét hắn đến mức trong khoảnh khắc đó, điều duy nhất mình mong nghe được là tin hắn đã chết.
‘Cầu mong Astolfo đã chết.’
Đứa con trưởng của gia tộc Impuritas. Kẻ sẽ nối tiếp những con người từng đẩy tôi và Agape vào đau khổ. Tôi mong hắn đã ngã xuống dưới tay Gramr, phải chịu một kết cục thảm khốc nhất.
Tôi biết ý nghĩ ấy chẳng xứng với danh hiệu Anh Hùng. Dù vậy, tôi vẫn không ngăn nổi lòng mình.
Tôi chỉ mong lời xin lỗi của Talpinus có nghĩa như vậy. Mang theo ý nghĩ ấy, tôi tiếp tục cùng mọi người theo sau Sargon.
Đi được một quãng, tôi bắt đầu thấy lạ. Ông bảo Người Kiến Tạo đang đợi, nên tôi cứ tưởng mình sẽ được đưa tới phòng tiếp khách hoặc đại điện. Nhưng Sargon lại rẽ sang hướng khác.
“…Rốt cuộc chúng ta đang đi đâu?”
“Đến nơi các vị sẽ biết.”
Ông không giải thích. Mà rồi tôi nhận ra ông cũng chẳng cần giải thích: trong số những Anh Hùng đang đi ở đây, không ai có thể quên hành lang này.
“Tại sao lại đưa chúng ta đến…”
Danoa nhận ra trước khi nói hết câu. Giọng anh tắt giữa chừng.
Cộp.
Sargon dừng bước trước cánh cửa lớn.
“Đến rồi.”
Phía sau cánh cửa là sân hiên nơi chúng tôi từng đứng trong lễ xuất chinh đến Numenlora. Hôm ấy, hàng chục vạn, hàng trăm vạn người đã chen kín quảng trường tiễn chúng tôi lên đường.
Két…
“Ư…”
Cửa mở. Ánh mặt trời đang lên phía ngoài sân hiên tràn thẳng vào mắt. Dưới luồng sáng ấy, mấy chục Kỵ sĩ giáp đen đã đứng chờ sẵn, lặng im như những pho tượng xếp thành hàng.
Rồi những tiếng hô từ dưới quảng trường dội lên.
“Các Anh Hùng kìa!”
“Họ còn sống thật!”
“Tất cả các Anh Hùng đều sống sao?”
Người đứng dưới kia không đông bằng hôm xuất chinh, nhưng vẫn nhiều đến mức khoảng quảng trường trước Hoàng cung gần như kín chỗ. Tất cả đều ngẩng đầu nhìn chúng tôi. Cũng là từng ấy gương mặt hướng về sân hiên, vậy mà tôi không tìm thấy ánh mắt ngưỡng mộ hay hy vọng của ngày tiễn quân nữa.
Có người buồn bã, có người tuyệt vọng. Trên nhiều gương mặt, nỗi giận dữ hiện rõ đến mức dù đứng xa tôi cũng nhận ra. Chưa đầy một tháng kể từ lễ xuất chinh, sao họ đã nhìn chúng tôi như thế?
“Rốt cuộc… có chuyện gì?”
Maugrius chết lặng tại chỗ. Danoa đưa mắt khắp quảng trường, dường như đang cố dùng trực giác sắc bén của mình để hiểu điều gì đã xảy ra. Còn Bradamante không chịu nổi ánh nhìn từ biển người phía dưới; cô ấy nép sau lưng tôi, giấu cả dáng người nhỏ bé của mình vào đó.
“Xin hãy trả lời chúng tôi!”
Một tiếng hét vang lên từ giữa đám đông, lớn đến mức lấn át những người chung quanh.
“Có thật cuộc công thành Numenlora đã thất bại không?”
Tin ấy đến quá đột ngột, trái hẳn với những gì chúng tôi vẫn tin. Tôi ngỡ mình nghe nhầm.
“…”
Trên sân hiên, tất cả chúng tôi đều cứng người. Một lúc lâu, chẳng ai lên tiếng. Cuối cùng Danoa mới phá vỡ sự im lặng:
“…Anh nói gì?”
“Trả lời đi!”
“Có phải cuộc thảo phạt Đạo Quân Cõi Chết đã thất bại không?”
“Ngài Orlando… ngài ấy thật sự đã tử trận sao?”
“Thế những Anh Hùng đến Numenlora khác thì sao?”
Hết giọng người này đến giọng người khác. Các câu hỏi dội lên dày hơn một cơn mưa, câu nào cũng đâm vào đúng chỗ chúng tôi không dám nghĩ tới.
Tôi còn chưa kịp hiểu tin về Orlando từ đâu ra, họ đã nhìn chúng tôi như thể chúng tôi nắm trong tay mọi câu trả lời. Họ tiếp tục hỏi, càng lúc càng kích động, khiến khoảng sân dưới chân rung lên bởi tiếng người.
Chính chúng tôi mới là người muốn hỏi. Chúng tôi cũng vừa nghe tin ấy lần đầu, nhưng không ai dưới kia biết điều đó. Tôi từng đối mặt Đạo Quân Cõi Chết trải dài vô tận mà vẫn cầm được kiếm; lúc này, những câu hỏi của người sống lại khiến tôi sợ đến khó thở.
“Hà… hà…”
Bradamante co rúm sau lưng tôi. Cô bấu chặt vạt áo tôi, càng lúc càng siết mạnh, hơi thở dồn dập đến mức tôi nghe rõ. Đôi mắt cô mất tiêu cự, nước mắt bắt đầu chảy xuống. Nhìn dáng vẻ ấy, tôi sợ chỉ cần buông tay là cô sẽ lao khỏi sân hiên để trốn khỏi những tiếng hét.
“Không sao đâu. Rồi sẽ ổn thôi…”
Tôi đưa bàn tay cũng đang run lên vuốt tóc cô. Những người khác chẳng ai bình tĩnh hơn, nhưng Bradamante ở ngay cạnh tôi, trong tầm tay tôi. Tôi chỉ có thể chăm lo cho cô trước. Tôi cứ xoa đầu cô và lặp lại rằng mọi chuyện sẽ ổn, dù chính mình cũng chẳng biết điều ấy có thật không.
Rồi tôi nhận thấy các đồng đội đang nhìn mình.
“Ngài Kara…”
Maugrius không nói tiếp. Trong mắt cậu là cùng một câu hỏi mà tôi đang né tránh.
“…Bây giờ chúng ta phải làm sao?” Talpinus cất giọng nặng nề.
Danoa chỉ lặng im. Anh cũng đang đợi tôi.
‘…À.’
Nếu tin Orlando chết là thật, người đứng đầu Kỵ sĩ đoàn Shahlmagne Stellarum đã không còn. Vị Anh Hùng vĩ đại nhất, người vẫn luôn dẫn dắt chúng tôi, không thể bước lên phía trước thay chúng tôi nữa.
Khi ấy, người phải dẫn dắt và đại diện cho các Anh Hùng sẽ là tôi.
Tôi sẽ phải nghe tất cả những câu hỏi kia, nhận lấy cơn giận của đám đông rồi nói cho họ biết tình hình của chúng tôi. Tôi từng là Phó đoàn trưởng. Nếu Orlando không còn, tôi sẽ trở thành Đoàn trưởng.
Run run…
Ánh mắt đồng đội khiến tôi nhận ra trách nhiệm ấy giờ đã đặt lên vai mình.
‘Mình…’
Phải đứng ra trước những con người đang giận dữ kia. Phải nói cho họ biết điều gì đã xảy ra, dù chính tôi còn chưa biết. Phải vững vàng như chú Orlando mỗi khi mọi người đều hoảng loạn.
Tôi bước về phía lan can. Từ đây, gương mặt của những người dưới quảng trường càng rõ, tiếng họ gọi càng gần. Nỗi sợ và phẫn nộ trong mắt họ cũng không còn là một khối mơ hồ từ xa; mỗi người đều đang đợi một câu trả lời.
‘Mình…’
Tôi biết phải nói gì bây giờ? Tôi đâu phải chú Orlando. Ngay cả ngài Namo, người luôn biết cách đứng trước bao người và nói trúng điều họ cần nghe, tôi cũng không thể sánh. Tôi chưa từng học cách đón nhận nỗi giận của một biển người, càng chưa từng phải làm việc ấy khi tim mình còn đang run vì tin chú Orlando có thể đã chết.
‘Mình chưa sẵn sàng.’
Tôi sợ. Ngày đầu đối mặt Đạo Quân Cõi Chết, tôi đã sợ đến thế. Bọn chúng kéo đến đông không sao đếm nổi, lại biết dàn hàng, giữ đội hình và tấn công như một đạo quân có trí khôn. Bị đâm vào chỗ hiểm cũng lao tới, tay chân đứt lìa vẫn cố kéo theo thêm một mạng người. Tôi vẫn nhớ cảm giác nhìn chúng tiến lên mà không biết phải chém đến bao giờ.
Vậy mà lúc này, đứng trước những con người dưới kia, tôi còn sợ hơn.
‘Agape…’
Tôi đã lớn rồi. Tôi đã trở thành người trưởng thành, trở thành Anh Hùng được giao trách nhiệm cứu lấy lục địa. Nhưng khi không biết phải làm sao, cái tên bật ra trong lòng tôi vẫn là cái tên mình từng gọi thuở bé. Tôi lại tìm đến người đã hết lần này đến lần khác tới cứu mình vào những ngày yếu đuối nhất.
“Agape…”
Người Anh Hùng tôi hằng nhớ.
Người Kỵ sĩ vĩ đại của riêng tôi.
“A… gape…”
Cứu em.
ẦM! ẦM! ẦM!
Mấy chục Kỵ sĩ giáp đen đồng loạt nện cán kích lớn xuống nền đá. Từng tiếng vang dội ra, còn dữ dằn hơn tiếng trống, còn chấn động hơn một loạt đại bác. Chúng xé ngang những câu hỏi đang dồn dập dưới quảng trường. Chỉ trong chớp mắt, đám đông im bặt.
“…”
Đúng lúc ấy, có người xuất hiện phía sau chúng tôi.
Cộp. Cộp.
Tiếng giày bước đều, khoảng cách giữa các bước gần như không đổi.
Sột soạt. Sột soạt.
Tiếng vải mềm cọ vào nhau, theo cùng những bước chân nhẹ đến mức phải chăm chú lắng nghe mới nhận ra.
Và cuối cùng…
…Thịch. …Thịch.
Một nhịp bước khác trầm và nặng hơn. Chỉ nghe âm thanh ấy, tôi đã có thể hình dung ra người vừa tới cao lớn đến mức nào. Cả ba đều không gây ồn ào, vậy mà sự hiện diện của họ khiến chúng tôi tự nhiên phải ngoái nhìn.
“הנה הוא… הגיבור הקדום. נבחר העץ… העץ הזהוב. כן… הוא חזר. כאן.”
Thứ ngôn ngữ ấy xa lạ đến mức chúng tôi đồng loạt nhìn về kẻ vừa cất tiếng trước tiên.
‘Đó là… con người ư?’
Tôi thậm chí không biết có nên gọi hắn là một sinh vật sống hay không. Hắn mặc áo choàng da của pháp sư, trên bề mặt chần những đường chỉ hình quả trám. Bên dưới chiếc mũ trùm là một gương mặt chẳng chịu giữ nguyên hình dạng. Vừa nhìn rõ một khuôn mặt, tôi đã thấy nó nhòe đi, rồi một khuôn mặt khác hiện ra. Sự thay đổi liên tiếp ấy giống những vệt nhiễu chạy ngang một hình ảnh bị hỏng.
Như thể sự hỗn mang đã mang lấy hình hài. Ngay cả những người từng chém hạ các Quân đoàn trưởng mang sức mạnh không thể lý giải như chúng tôi cũng thấy da đầu tê dại. Tôi chẳng thể đoán được thứ gì đang nhìn ra từ phía sau những gương mặt biến đổi ấy.
“Có vẻ chúng ta đến muộn mất rồi.”
Người vừa nói là một ông lão trông gần như bình thường khi đứng cạnh hắn. Ông có mái tóc và bộ râu bạc trắng, hàng mày rậm, cùng đôi mắt tím phảng phất sắc xám. Danoa cũng có mắt tím, nhưng màu mắt ông lão khiến tôi có cảm giác ông chỉ cần nhìn một lần là đã hiểu hết những điều người khác cố giấu.
Ông đi đầu trong ba người, hai tay chắp sau lưng, bước chân ung dung. Sự ồn ã vừa lắng xuống dưới quảng trường dường như chẳng ảnh hưởng gì đến ông.
Còn người đi bên trái thì hoàn toàn khác. Đó là một Kỵ sĩ khổng lồ, vóc người vượt quá hai mét. Dù vậy, hắn gần như không có chút khí tức nào. Giữa ba người, hắn là kẻ ít nói nhất, và cũng là kẻ dễ khiến tôi tưởng mình vừa nhìn nhầm: thân hình to lớn ấy đứng ngay đó, nhưng sự hiện diện lại mong manh như một bóng giả.
‘Kỵ sĩ giáp vàng…’
Ở Mullipen, thanh kiếm trong tay hắn mang hình hài của cái chết. Tôi từng thấy hắn vung nó, từng nếm nỗi kinh hoàng khi tưởng mình sẽ chết dưới lưỡi kiếm ấy. Bây giờ hắn vẫn ở trước mắt tôi, nhưng cảm giác về hắn đã đổi khác. Không còn sát khí khiến tôi cứng người như hôm ấy, chỉ còn một khoảng trống lạ lùng nơi đáng lẽ phải có hơi thở của một con người. Điều ấy khiến hắn kỳ dị chẳng kém sinh vật vừa nói bằng thứ tiếng tôi không hiểu.
“…”
Giống lần trước, Kỵ sĩ giáp vàng không nói một lời. Hắn đi ngang qua chúng tôi, lặng lẽ theo sau ông lão tóc bạc.
Cộp.
Khi đến cạnh tôi, ông lão liếc sang, thoáng mỉm cười rồi nhìn xuống quảng trường đã chìm trong im lặng.
Phong thái ấy, sự ung dung ấy. Chỉ một cái nhìn, tôi đã biết ông là ai.
Người Kiến Tạo mà Sargon nhắc tới.
“HỠI NHỮNG NGƯỜI CON CỦA ĐẤNG HOA TIÊU ĐANG SỐNG GIỮA THỜI ĐẠI LOẠN LẠC NÀY.”
Lời ông vang xuống biển người. Trong giọng nói ấy có một vẻ thiêng liêng còn vượt cả Chấp chính. Và trước quảng trường vừa bị buộc phải lặng im, ông bắt đầu bài diễn thuyết dài của mình.


