Chương 66 · 105 chương

Chim Trong Lồng

Mấy chục năm trước.

“Mắt Agape có màu lạ thật đấy.”

Đêm đã xuống từ lâu. Trên bầu trời, những vì sao chẳng ai biết đã tồn tại bao nhiêu năm lặng lẽ tỏa sáng. Hôm ấy, khi cùng Agape ngồi trên mái căn nhà gỗ, tôi đã nói với người mình yêu như vậy.

“Mắt anh à?”

Anh rời mắt khỏi bầu trời, quay sang nhìn tôi. Agape mang một lời nguyền: anh không thể cưu mang một vì sao trong mình, cũng chẳng thể nhìn thấy những vì sao trên cao.

Dẫu vậy, chỉ vì tôi thích ngắm trời đêm, anh vẫn luôn lên mái nhà ngồi cùng. Tôi nhìn sao, còn anh ngồi bên cạnh ngước lên một bầu trời chẳng hiện ra ánh sao nào trong mắt mình.

“Ừ.”

Chắc hẳn việc ấy buồn chán lắm. Không thấy được sao, hẳn mỗi lần ngước lên anh cũng khó tránh khỏi chút chạnh lòng. Vậy mà chưa bao giờ anh tỏ ra sốt ruột hay hỏi chừng nào tôi mới muốn xuống. Đêm ấy, dáng vẻ lặng lẽ ở bên tôi của anh bỗng đáng yêu đến lạ. Tôi quay hẳn người lại, nhìn anh lâu hơn một chút.

Đôi mắt Agape đen thẫm như bầu trời không trăng. Nhưng chính trên nền đen ấy, vô số ánh sao lại hiện lên rõ ràng, như thể mắt anh là mặt gương giữ được cả một vòm trời.

“Mắt anh đen mà.”

“Mắt đen thì lạ lắm sao?”

“Ít nhất trong thành phố này, ngoài anh ra em chưa gặp ai có mắt đen cả.”

“Ừm…”

Nghe tôi nói, Agape ngẫm nghĩ một lúc. Có lẽ anh đang lục tìm trong trí nhớ những gương mặt từng gặp. Cuối cùng, anh gật đầu như vừa nhận ra điều gì.

“Em nói cũng phải. Nghĩ kỹ thì ngoài mẹ ra, anh chưa từng thấy ai có mắt đen.”

“Thế là anh giống mẹ à?”

“Chắc vậy. Anh chưa từng gặp cha nên cũng không biết mắt ông ấy màu gì. Nếu ở ngoài kia mắt đen cũng hiếm, hẳn anh được mẹ truyền cho màu mắt này.”

“Ừm…”

“Sao em nhìn anh như thế?”

Tôi nghiêng đầu, vẫn không rời mắt khỏi anh.

“Roland bảo đôi mắt là tấm gương soi cảm xúc.”

“Roland nói thế thật à?”

Tôi gật đầu. Agape thường giữ vẻ mặt bình thản, có khi đến cả lúc vui hay buồn cũng chẳng để lộ bao nhiêu. Nhưng đôi mắt ấy thì khác. Tôi chỉ cần nhìn vào đó một chút đã có thể biết anh đang nghĩ gì, ít nhất là khi anh nhìn tôi.

“Bởi vậy em mới dễ đoán tâm trạng của anh. Mặt anh lúc nào cũng nghiêm nghiêm, nhưng mắt thì giấu chẳng khéo chút nào.”

“…Anh dễ đoán đến thế sao?”

“Tất nhiên!”

Tôi cười toe, cố tình nhìn thẳng vào mắt anh.

“Anh nhìn em bằng ánh mắt đầy yêu thương, cứ như đang nói ‘anh thích em lắm’ vậy. Em muốn không biết cũng khó!”

Mặt Agape đỏ bừng. Anh ho khan mấy tiếng, quay đi một chút rồi lại hỏi đúng điều đã hỏi ban nãy:

“Câu ấy cũng do Roland dạy em à?”

“Thôi nào. Roland có hay trêu người thật, nhưng mấy câu ngọt đến đỏ mặt thế này thì cậu ấy chịu. Em đọc được trong quyển tiểu thuyết tình yêu Roland mang về đấy.”

“…Người ở ngoài kia nói được cả những lời như vậy sao?”

“Anh cũng có khác gì đâu.”

“Anh đã nói gì chứ?”

“Anh từng bảo mắt em giống bầu trời lúc rạng đông. Rằng nhìn vào đó, anh cứ ngỡ thấy cả trăng lẫn sao đang soi bóng.”

“Chuyện đó…”

Agape mím môi. Hết đường chối rồi. Thấy anh lúng túng, tôi cúi đầu cười khúc khích. Anh nắm lấy tay tôi, siết nhẹ, và khi tôi ngẩng lên, anh bỗng hỏi:

“Khi ra khỏi thành phố, việc đầu tiên em muốn làm là gì?”

“Gì vậy, anh đang lảng sang chuyện khác à?”

“Khụ… Đâu có. Tự dưng anh nghĩ tới nên hỏi thôi.”

Anh có hơi cuống, song ánh mắt vẫn rất nghiêm túc. Tôi biết anh muốn nghe câu trả lời, dù câu chuyện này mình đã kể cho anh chẳng biết bao nhiêu lần. Thế nên tôi vui vẻ bắt đầu lại từ đầu.

“Đầu tiên, em muốn đến một đồng cỏ!”

“Đồng cỏ à?”

“Ừ! Em muốn biết gió thổi trên thảo nguyên rộng đến tận chân trời sẽ mát thế nào. Rồi hoa ở đấy có thơm như người ta kể không. Trong thành phố làm sao có chỗ nào đủ rộng để gió cứ thổi mãi như vậy?”

“Còn gì nữa?”

“Em muốn tới Đại Bình Nguyên nữa! Nghe nói ruộng lúa mì ở đó rộng chẳng kém vùng Criseldora, vựa lương của Đế quốc Elf. Người ta bảo ngồi giữa biển lúa mì, vừa ngắm hoàng hôn vừa uống bia thì tuyệt không gì bằng.”

“…Em đã uống bia bao giờ đâu.”

“Chưa thì sao! Em thấy tranh vẽ rồi mà. Bia vàng óng, bên trên phủ một lớp bọt trắng. Trông cứ như nắng chiều được rót vào cốc vậy. Nhìn thôi đã thấy ngon rồi!”

Khác với tôi, Agape chưa bao giờ nhìn thấy mặt trời lặn. Dù vậy, anh vẫn mỉm cười và gật đầu, như thể chỉ qua lời kể, anh cũng có thể cùng tôi hình dung ra chiếc cốc ấy giữa cánh đồng lúc chiều xuống.

“Có lẽ thế thật. Rồi sao nữa?”

“Rồi em muốn ngắm những thành phố khác, leo lên núi, đi vào rừng xem cây cối có rậm đến mức che hết trời không… À, còn biển nữa! Em muốn tận mắt thấy biển rộng đến đâu.”

Vừa nhắc tới biển, chính tôi cũng cảm thấy mắt mình sáng lên.

“Hồ với sông trong thành phố đều có bờ bên kia. Nhưng biển thì người ta bảo nhìn mãi, nhìn qua cả đường chân trời vẫn chỉ thấy nước mặn. Ở dưới ấy lại có đủ thứ sinh vật, đem nấu ăn còn ngon lắm!”

“Em nói hải sản à?”

“Đúng rồi! Nghe nói mùi vị biển ngấm vào thịt chúng, ngon đến mức không thứ gì sánh nổi. Chắc chắn phải khác xa thịt thú chúng ta vẫn ăn.”

“Em mong được ăn hải sản đến thế cơ à?”

“Ừ! Ra ngoài rồi, em sẽ ăn thử món ấy trước tiên.”

Tôi sắp trưởng thành đến nơi mà cứ kể chuyện ấy là lại cười tươi như một đứa trẻ. Tôi chưa hề đặt chân lên đồng cỏ hay đứng trước biển, vậy mà trước mặt Agape, tôi có thể nói về chúng say sưa đến mức như thể mình vừa đi xa về. Anh luôn ngồi nghe với nụ cười dịu dàng, thỉnh thoảng lại hỏi thêm để tôi được kể tiếp.

Anh đã nghe những ước muốn ấy hàng chục lần. Có khi một chỗ tôi kể đi kể lại nhiều đến phát chán. Nhưng anh biết chỉ cần nhắc đến thế giới ngoài kia là tôi sẽ vui, nên chưa bao giờ tỏ ra mình đã nghe đủ.

Lần nào Agape cũng hỏi như thể đây là lần đầu tôi kể. Nhờ anh, giữa một thành phố mà tương lai bị khóa chặt, tôi vẫn có thể nghĩ đến ngày mai, vẫn dám giữ cho mình một giấc mơ.

Anh từng nói mắt tôi giống bầu trời rạng sáng, dù trong đôi mắt ấy vốn chẳng có ngôi sao nào để soi bóng. Còn trong đôi mắt đen như đêm của anh, tôi nhìn thấy cả bầu trời sao phản chiếu.

Chúng tôi cứ thế tìm thấy những vì sao sáng nhất trong mắt nhau. Ở thành phố không cho phép chúng tôi mang theo sao trời, chính người trước mặt lại khiến mỗi người có thể ôm lấy một vì sao của riêng mình.

Khi ấy tôi hạnh phúc biết bao.

Và giờ đây, tôi nhớ những ngày ấy đến nhói lòng. Nhớ đến mức chỉ cần nghĩ tới thôi, lồng ngực đã đau như có điều gì không sao lấy lại được.

***

Nửa tháng.

Tôi đã bị giữ trong phòng dành cho khách quý suốt nửa tháng.

Vù vù…

Tôi ra khoảng sân nhỏ nối với sân hiên, đi ngang khu vườn rồi tựa người lên lan can. Từ nơi cao nhất của Hoàng cung, những mái nhà kiểu Gothic của Đế đô trải dài dưới chân, trùng điệp đến tận nơi mắt không còn phân biệt được con đường nào với con đường nào.

Ngày nào tôi cũng ra đây hai lần, một lần khi mặt trời mọc, một lần khi nó lặn. Đón luồng gió mát thổi xuống từ đỉnh núi tuyết Minerva, nhìn những tòa nhà thức dậy trong nắng sớm rồi lại đổi màu khi chiều buông. Đôi lúc tôi còn ngẩng nhìn ngọn hải đăng của Fëanor. Nó vẫn làm công việc của mình, vọng ra thứ âm thanh trầm dài tựa tiếng tù và từ một con tàu xa.

Ù ù ù…

Sáng nay cũng vậy. Trước khi mọi người thức dậy, tôi một mình đứng đây nhìn thành phố.

“…”

Cứ đến Đế đô là tôi lại nhớ quê nhà. Sirius cũng như Ambar, thành phố bị nguyền rủa về sau mang tên Fallen, đều do chính tay Fëanor thiết kế. Bởi thế, giữa Đế đô xa lạ này, đôi lúc tôi bắt gặp một đường phố, một dáng công trình khiến lòng mình khựng lại. Chúng chẳng giống hệt quê hương, nhưng chỉ cần thoáng thấy nét quen thuộc ấy cũng đủ kéo ký ức về.

Những ngôi nhà ở Fallen không xây bằng đá theo kiểu Gothic như Đế đô. Tuy nhiên, ngôi đền của các Tiên Tri vươn cao giữa khu Malkuth, những đại lộ lát gạch cùng dáng vẻ ngay ngắn của các con đường đều có điều gì đó tương đồng. Đặc biệt, mỗi lần nhìn thấy tháp đồng hồ Henri D. Stund ở khu Keter, tôi lại nhớ nhà đến không chịu nổi.

Trong tháp có một chiếc Chuông Vô Hạn, tạo vật từ Kỷ nguyên Hoàng Kim mà trên cả lục địa chỉ còn đúng ba chiếc. Fallen cũng có một chiếc như thế. Ngày nào đến giữa trưa, tiếng chuông lại ngân vang, đều đặn đến mức thuở nhỏ tôi nghe mãi thành quen. Giờ đây, chỉ cần âm thanh ấy vọng đến, mọi ý nghĩ trong đầu tôi đều bị ngắt quãng, nhường chỗ cho một ngày xưa cũ.

Tôi lại thấy mình giữa đám du côn, bị chúng đánh đến đau đớn, chẳng biết làm sao thoát được. Và đúng lúc Chuông Vô Hạn ngân lên, Agape đã xuất hiện, kéo tôi ra khỏi tay chúng.

Mười năm đã qua mà tôi vẫn nhớ rõ gương mặt anh hôm ấy. Càng nhớ rõ, tôi lại càng muốn gặp anh. Mỗi hồi chuông, mỗi nét giống quê nhà giữa Đế đô đều khiến khoảng cách từ đây đến Fallen như dài thêm.

“Kara.”

Tôi quay lại. Đội trưởng Idel đang bước tới.

“Đội trưởng Idel.”

“Sáng sớm đã ra đây. Cô thật chăm chỉ.”

“Chăm chỉ gì chứ? Tôi chỉ đứng ngắm mặt trời mọc thôi mà.”

“Cô đâu chỉ ngắm mặt trời.”

Idel dừng bên cạnh tôi. Bước chân bà vẫn chừng mực, vững vàng như một sĩ quan Đế quốc đã quen đi giữa doanh trại. Bà đưa mắt nhìn ra những tòa nhà nằm sâu bên dưới, rồi hỏi với giọng như đã biết trước câu trả lời:

“Cô đang nhớ quê, phải không?”

“…Sao bà biết?”

“Dễ nhận ra lắm. Nhất là với một người đã lăn lộn trên chiến trường gần năm mươi năm, từ thuở còn trẻ như tôi.”

Bà quay sang nhìn tôi. Ánh nắng sớm rọi vào đôi mắt xanh thẫm trong veo, màu mắt Agape từng ví với bầu trời trước bình minh. Idel thoáng mỉm cười, song nụ cười ấy mang một nỗi buồn rất nhẹ.

“Đôi mắt là tấm gương soi cảm xúc.”

Trong mắt nâu của chính bà cũng thấp thoáng nỗi nhớ, cùng một điều đau đáu khó gọi tên.

“Từ khi còn là sĩ quan cấp úy, tôi đã nhìn không biết bao nhiêu gương mặt binh sĩ. Sau nỗi sợ chết, điều họ mang theo nhiều nhất là nỗi nhớ nhà. Hai cảm xúc ấy hiện rõ đến mức đôi khi chỉ cần nhìn từ xa vào mắt họ, tôi cũng nhận ra.”

Bà dịu giọng nói thêm:

“Với đôi mắt đẹp và khác thường của ngài, Anh Hùng Tân Lục, điều ấy càng dễ thấy.”

‘Đôi mắt đẹp…’

Từ ngày rời quê, tôi đã nghe lời khen ấy quá nhiều. Người ta ca tụng dung mạo High Elf của tôi, bảo nó còn vượt vẻ đẹp vốn được truyền tụng của giống loài ấy. Nhưng họ nói đến đôi mắt tôi còn nhiều hơn cả gương mặt. Hết người này đến người khác tìm những lời hoa mỹ để ví màu mắt ấy với bầu trời và sao, như thể chỉ khen đẹp thôi vẫn chưa đủ.

Chẳng hiểu sao, mỗi lần nghe, tôi đều thấy lòng nguội đi. Tôi nhớ đến một người chưa bao giờ cần tìm cho ra một lời ví von thật lộng lẫy.

“Đẹp lắm. Đẹp nhất thế gian.”

Agape chỉ nói thế. Giản dị đến mức người khác có thể chẳng để tâm, nhưng tôi đã vui suốt cả ngày. Những lời khen về sau, dù đẹp đẽ đến đâu, cũng không mang lại cho tôi niềm vui nhỏ bé ấy. Chúng chỉ nhắc rằng tôi đang ở ngoài kia, xa anh, xa khỏi những ngày từng được ngồi sát bên nhau trên mái nhà. Như thể ai đó vừa lôi tôi khỏi một giấc mơ ấm áp, trả tôi về với hiện tại lạnh lẽo.

Idel khen bằng lòng tốt. Bà không thể biết lời ấy chạm phải điều gì trong tôi. Tôi gắng mỉm cười cho phải phép.

“Bà khen vậy… tôi ngượng đấy.”

Tôi biết nụ cười của mình có phần gượng gạo. Thế nhưng Idel chỉ mỉm cười đáp lại, dường như chẳng nhận thấy. Có lẽ bà đã quá quen với vẻ ngoài của tôi, đến cả chỗ không tự nhiên trên gương mặt này cũng bị nó che mất.

Bất chợt, bà hỏi:

“Cô nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo?”

“Ý bà là sao?”

“Đế quốc trên thực tế đã diệt vong rồi.”

Tôi nhìn bà. Đó đâu phải điều người ta thường nghe từ miệng một vị tướng Đế quốc. Idel từng được tôn là anh hùng chiến tranh, đã dành quá nửa đời người phụng sự quân đội, đi lên đến chức Đội trưởng. Vậy mà bà nói câu ấy với vẻ bình tĩnh của một người đã nhìn thẳng vào sự thật từ lâu.

“Fëanor từng xây cho Đế quốc một nền móng vững đến khó tin,” bà nói tiếp. “Nhưng năm mươi năm chiến tranh liên miên đã vắt kiệt nó. Nền móng có tốt đến đâu cũng không thể khiến một đất nước chịu đựng mãi khi người và của cứ lần lượt mất đi.”

Đế quốc Shahlmagne do vị Tiên Tri đầu tiên dựng nên. Có một thời gian dài, nó giàu mạnh và ổn định đến mức người ta tưởng đây là quốc gia hoàn mỹ nhất trong lịch sử. Idel không phủ nhận những năm tháng ấy. Chỉ là sau gần nửa thế kỷ nhìn các đất nước khác gục ngã giữa chiến tranh, bà đã học được cách nhận ra thứ tĩnh lặng rợn người thường đến trước khi một quốc gia sụp đổ.

Giờ đây bà cảm thấy thứ tĩnh lặng ấy ngay trong lòng Đế quốc. Bởi vậy, Idel tin ngày tàn của nó đã thành chuyện không thể tránh.

“Dù ngài Orlando chiến thắng ở Numenlora, dẫn những Anh Hùng còn lại trở về rồi tiêu diệt hết Gramr, cũng không ai cứu nổi Đế quốc nữa. Cuộc chính biến đã xảy ra. Khả năng tiên tri của các Tiên Tri cũng chẳng còn giúp được gì. Tôi không thể trông đợi họ sẽ dựng lại tất cả những thứ đang sụp xuống.”

Idel ngừng một thoáng rồi nói, chậm rãi hơn:

“Đế quốc đang đứng trước cửa diệt vong. Có khi nó đã diệt vong từ lúc nào mà chúng ta chưa chịu gọi tên thôi.”

Bà quay hẳn về phía tôi.

“Vì thế tôi muốn hỏi: cô định làm gì từ giờ trở đi?”

“Tôi định làm gì ư? Tôi chỉ…”

“Tôi biết các Anh Hùng được tạo ra như thế nào, và vì sao họ trở thành Anh Hùng. Nhiều quan chức cấp cao trong Đế quốc cũng biết. Chẳng qua những chuyện ấy chưa bao giờ được để lọt ra ngoài.”

Tôi im lặng. Idel vẫn nói, nhưng không hề có vẻ bà muốn buộc tội tôi hay bắt tôi phải mang ơn bất cứ ai.

Theo sự dẫn dắt của số mệnh, thức của những con người từng lập nên kỳ tích hóa thành sao trời sau khi họ chết. Những vì sao ấy rơi xuống khắp lục địa, tìm đến những người khác nhau về đất nước, dòng máu lẫn địa vị. Các Tiên Tri lần theo ánh sao, đưa những người được chọn về núi Minerva, nơi họ cư ngụ.

Rồi họ ép những con người vừa mang sức mạnh tinh tú phải chịu đựng huấn luyện khắc nghiệt. Có người bị đe dọa, bị đối xử gần như một tù nhân, cuối cùng vẫn bị xua ra chiến trường và buộc phải chém giết. Không phải Anh Hùng nào cũng trải qua như thế, nhưng số người bị cưỡng ép tuyệt nhiên chẳng ít. Những chuyện ấy bị Tiên Tri chôn kín, còn Idel, từ vị trí của mình, đã biết từ lâu.

Bà cũng biết tôi nằm trong số những người ấy. Chúng tôi đủ quen để bà hiểu tôi không ra trận chỉ vì một thứ đại nghĩa cao xa. Tôi đã bị đẩy vào cuộc chiến trước khi có quyền chọn cuộc đời mình. Đó là lý do Idel không hỏi tôi sẽ phụng sự Đế quốc ra sao khi nó sụp đổ.

“Vậy tôi hỏi lại,” bà nói. “Cô nghĩ tương lai của mình sẽ thế nào? Hay đúng hơn, cô muốn sống cuộc đời nào?”

Tiếp tục là Kara mang danh Anh Hùng.

Hay trở về làm Kara của những ngày trước khi có danh xưng ấy.

Đó mới là điều bà muốn biết.

“…À…”

Tôi không đáp. Không phải vì tôi chưa biết mình muốn gì. Tôi đã biết từ rất lâu. Nếu có thể, tôi muốn rời nơi này ngay, đi thẳng về phía giấc mơ mình hằng giữ lấy. Chỉ là giữa tôi và con đường ấy vẫn còn một chướng ngại lớn đến mức tôi chưa dám nói thành lời rằng mình sẽ vượt qua.

‘Nếu Đế quốc thật sự sụp đổ…’

Các Tiên Tri sẽ ra sao?

‘Agape vẫn đang nằm trong tay Tiên Tri Ánh Sáng.’

Kẻ đó từng dọa giết anh nếu tôi tỏ ý muốn chạy về Fallen. Chỉ cần tôi đặt chân lên đường, hắn sẽ ra tay với người đang ở đó.

Núi Minerva vẫn còn, hắn vẫn ở đó cùng những Tiên Tri chịu sự chi phối của hắn. Dù tôi có giành chiến thắng trước Tai Ương, dù “lời hứa” nói rằng khi ấy tôi sẽ được tự do, liệu sự sụp đổ của Đế quốc có thật sự tháo được sợi dây đang giữ chặt mình không?

Chỉ cần nghĩ một chút, tôi đã biết câu trả lời.

Tiên Tri Ánh Sáng chưa bao giờ muốn buông tha tôi. Hắn sợ một khi chiến tranh chấm dứt, tôi sẽ trở về quê ngay. Vì thế hắn còn ép tôi đính hôn với Astolfo, hòng trì hoãn chuyến đi ấy và tiếp tục giữ tôi bên mình càng lâu càng tốt. Một kẻ đã tính toán đến mức đó, làm sao chịu để tôi đi chỉ vì gia tộc Impuritas và Đế quốc đều mất quyền lực?

Không bao giờ.

Hắn có thể bội ước. Có thể vứt bỏ cả Thánh Lực mà tư cách Tiên Tri đem lại, miễn là vẫn giữ được tôi dưới quyền. Ngay cả khi mất đi sức mạnh thiêng liêng ấy, địa vị của hắn giữa các Tiên Tri trên núi Minerva vẫn gần như không ai lay chuyển nổi. Tôi hiểu rõ hắn đến mức chẳng thể tự dối mình bằng hy vọng rằng lời hứa sẽ được giữ.

“…”

Một bóng tối trùm lên lòng tôi. Người ta bảo chim trong lồng, chỉ cần lồng vỡ là có thể dang cánh.

Còn tôi? Tôi chẳng khác gì một con chim bị nhốt, lại mang thêm xiềng xích ở chân. Dù có ngày song sắt rơi xuống hết, dù cửa lồng mở toang, tôi vẫn không thể bay về nơi mình muốn đến.

Tôi…

…Tôi phải làm sao đây?

Vù vù…

Một luồng gió mạnh tạt vào má, khiến tôi choàng tỉnh khỏi những ý nghĩ nặng nề.

“…Kara?”

Idel đang nhìn tôi đầy ái ngại. Nhưng ngay sau đó, mắt bà hướng ra sau lưng tôi. Đôi tai dài rũ xuống vì mải nghĩ của tôi khẽ động; tôi cũng quay lại, nhìn theo hướng bà vừa nhìn.

“Đó là…”

Dưới phố, đám đông đang tràn qua các con đường hướng về Hoàng cung. Những ngọn đuốc sáng rực trong tay họ, xô nhau đi giữa các dãy nhà.

Ai cũng mang theo một tấm biểu ngữ lớn gần bằng cánh cửa, gương mặt đỏ lên vì phẫn nộ. Từ nơi này, tôi không đọc được họ viết gì, chỉ thấy từng hàng người tiếp tục kéo đến.

Tiếng họ hô vang dội lên thành một khối âm thanh hỗn loạn, chẳng thể phân biệt lời nào với lời nào.

“Chuyện gì đang xảy ra dưới đó…?”

Két…

Đúng lúc ấy, cửa phòng dành cho khách quý mở ra. Một ông lão bước vào. Trang phục ông có những nét giống pháp bào của Tiên Tri, nhưng cũng mang dáng vẻ áo của một vị vua. Ông để bộ râu dài hơi xoăn, cử chỉ chừng mực, khóe mắt thoáng ánh cười.

Ông cúi chào hai người đang thức bằng một động tác nhã nhặn.

“Thời gian qua, các vị có gặp điều gì bất tiện chăng? Xin tự giới thiệu. Ta là Sargon, Phán Quan thứ ba.”

Rồi ông nói tiếp, giọng ôn hòa như đang chuyển một lời mời đến dự tiệc:

“Người Kiến Tạo muốn gặp các vị. Khi nào chuẩn bị xong, xin hãy ra ngoài.”

Bạn đã đến cuối chương 66.

Không gian đọc của bạn