Chương 64 · 105 chương

Nếu Ký Ức Của Cô Ấy Trở Lại

El Cid.

Mọi người đều gọi cô như vậy, nhưng tên thật của cô là Rodrigo de Díaz. Từ thuở rất xa xưa, vì cái tên ấy quá dài, người nhà thường gọi cô bằng cái tên thân mật “El”. Dẫu sao, đó cũng chỉ là chuyện nhỏ.

Vừa bước ra khỏi phòng của Mị Ma, El Cid lặng lẽ theo sau người đàn ông đang đi dọc hành lang. Ngài không nói một lời, còn cô thì mải nghĩ về những gì mình vừa chứng kiến.

‘Rốt cuộc ngài và người phụ nữ ấy có quan hệ gì?’

Cô ấy tên Helena Camellia. Có họ, lại từng là Kỵ sĩ, hẳn xuất thân từ một gia tộc quý tộc. Nhưng trước kia hai người đã gắn bó đến đâu mà giờ đây Bệ hạ chăm sóc cô ấy tận tình như vậy?

El Cid muốn hỏi. Cô muốn biết về Helena, và hơn thế, muốn biết về chính người mình đang đi theo. Rốt cuộc người đàn ông ấy từng trải qua những gì để giờ đây ngài quan tâm đến Helena nhiều như thế?

Đã mấy năm kể từ ngày được giải phong ấn và bắt đầu phụng sự ngài. Vậy mà cô cùng các đồng đội vẫn gần như chẳng biết gì về chủ quân: tên thật, diện mạo, hay quá khứ của ngài.

Ngay cả sở thích cũng không. Những lúc không có việc, ngài chỉ lao vào luyện kiếm như một kẻ bị cơn cuồng vọng nuốt chửng. El Cid đã ở bên ngài từng ấy năm mà vẫn không biết ngoài thanh kiếm, có điều gì khiến ngài muốn dành thời gian cho mình.

Nếu hỏi thẳng, liệu ngài có chịu kể không?

‘Chắc là không.’

Vài lần cô thử dò hỏi, ngài đều khéo léo lái câu chuyện sang hướng khác. El Cid cũng hiếm khi dám hỏi đến cùng. Cách ngài đáp lời cho thấy ngài chẳng muốn nhắc đến bản thân, dù cô chỉ vừa chạm tới những chuyện rất đỗi bình thường.

‘Hẳn phải có lý do.’

Khi theo ngài làm việc, có ngày cô thấy ngài chìm vào suy nghĩ đến mấy lần. Lần nào trở về với thực tại, tâm trạng ngài cũng nặng nề, đôi khi còn thoáng vẻ khó chịu. Như một người không muốn ngủ, cuối cùng vẫn bị kéo vào giấc mơ để rồi choàng tỉnh giữa cơn ác mộng.

Có lẽ quá khứ chính là lý do ngài luôn tránh những câu hỏi ấy.

‘Vì thế mình lại càng muốn biết.’

Một bề tôi không nên tự tiện lần tìm vết thương của chủ quân. El Cid hiểu điều đó. Song hiểu là một chuyện; nhìn thấy ngài liên tục chịu đựng chúng mà không biết mình có thể làm gì lại là chuyện khác.

“Không sao.”

Lời ngài vừa nói với người y tá vẫn còn văng vẳng trong tai cô. Người chủ quân hiện tại quả thực khác người cô từng phụng sự.

Ngọn Lửa Đen đang từng chút bào mòn nhân cách ngài, giống như nó đã làm với vị chủ nhân trước kia. Nhưng vị ấy nghiêm khắc, chỉ một lòng đuổi theo sứ mệnh. Còn Bệ hạ, dẫu cũng mang ngọn lửa đó trong mình, vẫn để tâm đến những người đi theo ngài.

El Cid biết mình đã được ngài đối đãi tốt. Cô không muốn chỉ nhận lấy sự quan tâm ấy rồi xem đó là chuyện đương nhiên. Càng biết ơn, cô càng muốn hiểu ngài nhiều hơn, để một ngày nào đó có thể chăm nom những vết thương mà ngài không chịu cho ai thấy.

‘Có khi chính vì vậy mà ngài luôn giữ khoảng cách với chúng ta.’

Ngài dường như ngại nhận lấy tình cảm của người khác, cũng chẳng muốn trao đi điều gì quá thân thiết. Nghĩ đến những vết thương ấy, El Cid lại thấy khoảng cách ngài cố giữ có lẽ không phải vô cớ.

“El Cid.”

Tiếng gọi của Bệ hạ kéo cô khỏi dòng suy nghĩ.

“Thưa Bệ hạ?”

“Cô nghĩ sao về Mị Ma lúc nãy?”

“Ý ngài là…”

El Cid thoáng ngẫm nghĩ. Rồi cô hiểu ngài đang muốn hỏi điều gì.

“Đúng như chúng ta dự đoán. Hồn và thức của cô ấy đều đã tổn hại đáng kể.”

Helena không còn giữ nguyên ký ức khi sống. Cô chỉ nhớ được vài mảnh rời rạc khi có người hỏi đến, còn phần lớn quá khứ dường như đang nằm ngoài tầm với. Vẻ thẫn thờ trong đôi mắt cô ấy cũng gợi đến một đứa trẻ vừa mở mắt trước thế giới, chưa hiểu những gì đang diễn ra quanh mình.

Bệ hạ lặng lẽ đáp, dường như ngài cũng nhận thấy như cô:

“Phải. Ký ức của cô ấy không còn nguyên vẹn. Tính tình cũng đã khác.”

Tính tình đã khác.

El Cid vốn đoán hai người từng thân thiết, nhưng nghe ngài nhận xét chắc chắn đến vậy, cô không còn nghi ngờ nữa. Nếu không hiểu Helena thuở trước, làm sao ngài biết cô ấy đã đổi thay?

Đó là tình bạn hay tình yêu, El Cid không rõ. Chỉ biết dù là điều nào, tình cảm ấy hẳn đã từng rất sâu đậm.

“Nhưng thần nghĩ cô ấy chưa thay đổi hoàn toàn.”

Người phụ nữ tên Helena Camellia ấy, về nhiều mặt, đã gần như trở thành một người khác. Tuy nhiên, lúc Bệ hạ khen tên cô ấy đẹp, El Cid đã nhìn thấy một thoáng hoài niệm hiện lên trên gương mặt Helena.

Nếu chỉ một câu nói cũng có thể khơi dậy cảm giác ấy, biết đâu vẫn còn cách giúp cô tìm lại ký ức và con người trước kia.

Nhưng nghĩ đến đó, El Cid lại chần chừ.

‘Làm vậy có thật sự tốt cho cô ấy không?’

Helena đã chết. Chuyện người chết có nên sống lại theo trật tự của thế giới hay không, El Cid chẳng bận tranh luận. Điều khiến cô lo là Helena đã ngã xuống trên chiến trường, đã yên nghỉ từ rất lâu, rồi bị cưỡng ép kéo trở về trong hình hài một Mị Ma từng thuộc hàng tôi tớ của Ma Vương.

Nếu ký ức cùng nhân cách cũ trở lại, cô ấy sẽ phải hiểu tất cả những chuyện đó. Phải đối diện với Nhân Tố Ma Vương trong chính mình, với một cơ thể không còn là con người. Điều đang giúp cô ấy bình thản lúc này có lẽ chính là việc chưa nhớ lại mình từng sống ra sao. Người có tinh thần sắt đá chưa chắc chịu nổi sự thật ấy. Còn một người bình thường có thể phát điên vì cú sốc đó.

“…”

Tôi cũng đang nghĩ về chuyện ấy. Có điều, những gì chất chứa trong đầu tôi còn rối hơn thế.

‘Những đồng đội từng ở bên tôi và Helena giờ đã chết cả rồi.’

Helena luôn đặc biệt trân trọng mọi người trong Kỵ sĩ đoàn. Cô khát khao tình thương của gia đình nên cũng từng mong nhận được tình cảm từ tôi. Trong những ngày ở đoàn, cô gắng tìm cho mình một cuộc sống vui vẻ để quên đi những bất hạnh dưới mái nhà cũ. Tôi còn nhớ cô đã cố giữ nụ cười ấy đến thế nào, như thể giữa những đồng đội, cô mới có được một nơi để thuộc về.

Một người như thế, nếu tỉnh lại sau từng ấy năm và biết Công tước đã chết, các đồng đội cũng không còn, rồi đến cả…

“…”

Agape mà cô từng biết cũng đã biến mất, cô sẽ ra sao?

Tôi không muốn tưởng tượng. Dẫu những ngày cùng nhau đã lùi xa, tôi vẫn luôn xem Helena là một người đặc biệt. Khi tôi bị đẩy vào Đội Trừng Phạt, chính cô đã níu lấy Công tước, quỳ xuống van xin ông cứu mạng tôi. Cô cầu khẩn đến phút cuối, chẳng màng mình sẽ bị nhìn bằng ánh mắt nào, chỉ mong đổi lấy cho tôi một con đường sống.

Cô đã từng làm đến thế vì tôi. Còn bây giờ, chẳng lẽ tôi lại để cô nhớ ra tất cả, rồi một mình chịu đựng nỗi đau mà những ký ức ấy mang đến?

Tôi không biết.

Thật lòng không biết.

Từ xưa đến nay, quan hệ giữa người với người đúng là thứ khốn khổ. Càng nghĩ, tôi càng chẳng biết phải tìm câu trả lời ở đâu.

“Bệ hạ.”

Một giọng nói dịu mà kiên định kéo tôi trở lại. Tôi đã dừng bước từ lúc nào không hay. El Cid đứng trước mặt, ngước đôi mắt đỏ như hồng ngọc nhìn thẳng vào tôi.

“Ngài chỉ cần làm hết sức mình.”

Cô nhận ra tôi đang nghĩ gì ư? Ánh mắt El Cid không hề dao động, như thể cô thật lòng tin rằng tôi có thể làm được.

“Người phụ nữ ấy cũng sẽ hiểu tấm lòng của ngài.”

Hai má cô thoáng ửng lên, khác hẳn vẻ nghiêm nghị thường ngày. Lời cô nói không phải câu an ủi thuận miệng; cô tin mọi chuyện rồi sẽ ổn.

Tôi thấy lòng mình nhẹ đi đôi chút.

“Cô nói vậy khiến tôi nhẹ lòng.”

“…?”

“Cảm ơn cô.”

“!!!”

El Cid sững ra. Vẻ ngờ vực thoáng qua mặt cô rồi chuyển thành kinh ngạc, khiến cô đứng chết lặng ngay giữa hành lang.

Lúc nãy cô còn nhìn tôi bằng ánh mắt chắc chắn đến thế; giờ chỉ một lời cảm ơn đã khiến cô không biết phải đáp thế nào. Qua lớp mũ giáp, tôi nhìn cô mà không hiểu nổi.

‘Một lời cảm ơn đáng ngạc nhiên đến thế sao?’

Tôi nhớ mình đâu có tiếc lời khen với thuộc hạ. Chẳng lẽ trước giờ cô chưa từng nghe tôi nói lời cảm ơn?

“Ngài Morgoth.”

Một tiếng gọi vang lên từ cuối hành lang. Người vừa đến là một Pháp Vụ Quan, thuộc nhóm chuyên chuyển lời của Serebus.

“Người Kiến Tạo sai tôi báo rằng món quà đã sẵn sàng.”

“Quà?”

“Vâng.”

Ông ta cúi người, nói tiếp:

“Ngài ấy dặn phải chuyển lời: món quà

đã hứa

nay đã chuẩn bị xong.”

***

Công xưởng Hoàng gia.

Nơi này nằm ở Keter, khu thứ mười trong mười phân khu của Đế đô, và có lẽ là công xưởng xuất sắc nhất cả lục địa. Chỉ riêng những gì được lưu giữ bên trong đã đủ khiến các xưởng khác không thể sánh bằng.

Kỹ thuật luyện kim từ Kỷ nguyên Hoàng Kim vẫn còn tồn tại ở đây, cùng vô số máy móc cổ được chế tạo để phục vụ nó. Những nơi khác chỉ còn có thể nghe kể về thời đại ấy, còn ở đây, di sản của nó vẫn được sử dụng mỗi ngày. Những nghệ nhân giỏi nhất cũng làm việc thường trực trong xưởng. Nhờ vậy, trang bị thượng phẩm liên tục ra đời, nhiều đến mức tưởng như người ta có thể sản xuất chúng theo lối dây chuyền.

Đối với Đế quốc, công xưởng này mang giá trị khó thể đong đếm bằng vàng.

Ngay cả giáp Nguyệt Thạch của các Anh Hùng cũng được rèn ở đây. Chỉ một bộ giáp đã có giá ngang ngân sách cả năm của một đô thị lớn, đủ hiểu nơi này nắm giữ những thứ quý giá đến nhường nào.

Dĩ nhiên, giờ cả công xưởng lẫn những bộ giáp ấy đều đã vào tay chúng tôi.

Xì… Xì… Phụt!

Tiếng vô số pít tông chạy tới lui dồn dập vang khắp gian xưởng rộng. Hàng loạt lò luyện đồng loạt đỏ lửa. Thợ rèn và thợ máy di chuyển giữa chúng, hết nhóm này đến nhóm khác tiếp nhận những thứ Đế đô đang cần.

Giáp trụ, đủ loại vũ khí, rồi vật liệu để sửa chữa hoặc dựng lại các tòa nhà bị phá hủy trong cuộc đảo chính. Hầu như thứ gì cần cho thành phố lúc này, công xưởng đều đang sản xuất. Những nghệ nhân từng làm việc dưới triều Shahlmagne cũng không chống đối; họ tiếp tục bận rộn bên lò như trước.

Chưa hết. Ở đây còn có những thiết bị phục vụ

phụ ma

, kỹ thuật của Kỷ nguyên Hoàng Kim mà thời nay đã thất truyền. Người ta khắc pháp thức vào trang bị, nhờ đó ban cho chúng những hiệu lực đặc biệt. Công việc ấy đòi hỏi bàn tay của pháp sư và nhà giả kim giỏi chế tác, nên bên cạnh các nghệ nhân, họ cũng có mặt thường trực trong xưởng.

Khi xuất chinh, quân Đế quốc đã điều gần hết pháp sư ở Đế đô ra chiến trường. Bởi vậy, những pháp sư và nhà giả kim đang làm việc nơi này phần lớn là người của Gramr.

“Nơi này lúc nào cũng nhộn nhịp,” El Cid nói.

“Không nhộn nhịp mới lạ.”

Đế quốc coi như đã nằm trong tay chúng tôi, nhưng ở vài vùng nhỏ vẫn còn lực lượng chống đối. Quân đội cần thêm trang bị để dẹp những ổ kháng cự ấy.

Năm đô thị lớn cũng phải được dựng dậy, nhất là Mullipen và Adhara, hai nơi chịu thiệt hại nặng đến mức không còn đủ khả năng tự khôi phục.

Để cung cấp cả vật liệu xây dựng cho các thành phố, e rằng không chỉ công xưởng Hoàng gia mà mọi xưởng thợ khắp Đế đô đều phải thắp lò ngày đêm. Những đoàn quân cần vũ khí, người dân cần mái nhà; mỗi nơi lại đang chờ một chuyến hàng khác từ các xưởng ấy.

‘Cuộc đảo chính diễn ra còn chưa đầy một tháng.’

Vậy mà thành phố không chìm trong hỗn loạn. Các xưởng và cơ sở sản xuất đã hoạt động trở lại, thậm chí còn tất bật hơn trước khi chính quyền đổi chủ.

Đế quốc rộng đến thế, việc phải lo sau ngày chiếm được nó hẳn nhiều không kể xiết. Thế mà những nơi từng ngừng vận hành đã được khơi thông nhanh đến mức này.

Nhìn cảnh ấy, tôi cũng ngạc nhiên chẳng kém El Cid. Một bộ máy cai trị vừa đổi chủ rất dễ tắc nghẽn ở mọi nơi. Vậy mà những mạch máu tưởng đã ngừng chảy của Đế quốc nay lại vận hành.

‘Phải công nhận họ có tài.’

Serebus và Sargon. Hai người đã ở bên Gramr từ buổi đầu, gần như chính tay dựng nên tổ chức ấy. Guồng máy hành chính của cả Đế quốc có thể chạy lại nhanh như vậy là nhờ năng lực của họ.

Tôi từng làm Quân Hành Quan, tự thấy mình không đến nỗi vụng về trong công việc quản lý. Nhưng chiếm được một đế quốc mênh mông chỉ trong chớp mắt đã khó; khiến những thành phố ấy phục hồi sức sống nhanh đến vậy lại càng khó hơn. Tôi không thể không khâm phục hai người.

Chúng tôi đi sâu vào trong xưởng. Sức nóng từ các lò luyện cùng tiếng pít tông ầm ầm dần lùi lại sau lưng. Đến khu vực tận cùng, mọi thứ bỗng yên ắng khác thường.

Rì rào…

Trong những rãnh nhỏ xẻ khắp mặt sàn, một chất lỏng xanh thẫm ánh bạc lặng lẽ chảy, trông như những dòng ngân hà thu nhỏ. Chúng hội lại rồi tách ra, len qua từng rãnh như thể cả khu xưởng được nuôi sống bằng thứ chất lỏng ấy.

Hơi Thở Rồng.

Đó là bảo vật truyền đời của Hoàng thất, quý hơn cả vàng. Mỗi lít có giá lên đến hàng nghìn đồng vàng. Kể từ khi Kỷ nguyên Hoàng Kim sụp đổ, nó cũng là nguyên liệu duy nhất còn lại có thể dùng để luyện chế Nguyệt Thạch, thứ vật liệu có độ cứng lớn nhất lục địa thời nay.

“Ngài đến rồi, Morgoth.”

Giữa gian xưởng tối, một giọng phụ nữ cất lên chào tôi. Người đó mặc áo ngắn không tay, đeo cặp kính bảo hộ vuông vức, đang bám trên một cỗ máy hình trụ nâu sẫm để chỉnh sửa những cơ cấu bên trong.

Chấp Hành Quan thứ năm, [Nhà Giả Kim] Fulcanelli.

Trước cuộc đảo chính, nhiều người biết cô hơn với tư cách người đứng đầu Emerald Tablet, hiệp hội giả kim danh tiếng nhất lục địa.

Fulcanelli tháo kính, quay sang tôi và nhoẻn miệng cười.

“Tôi đã đợi ngài.”

Bạn đã đến cuối chương 64.

Không gian đọc của bạn