Chương 77 · 102 chương

Cuối mùa xuân năm thứ 13 II - Phần 5

Việc tránh né một cuộc truy lùng phối hợp đúng là quá khó khăn.

Chúng tôi có một ma kiếm sĩ (với trọng tâm thiên về kiếm sĩ), một pháp sư kiêm học giả chuyên về các phép thuật hỗ trợ, và một nữ tu sĩ không có khả năng chiến đấu. Bạn có nhìn ra vấn đề chưa? Đúng vậy: chúng tôi thiếu mất lớp nhân vật quan trọng nhất cho một cuộc phiêu lưu trong thành phố… chúng tôi không có trinh sát!

Ngẫm lại thì, đội hình của chúng tôi thật buồn cười. Những trường hợp duy nhất chấp nhận được đội hình này là các nhiệm vụ hộ tống nhỏ lẻ không đòi hỏi giao tranh toàn diện, hoặc khi GM đã tính toán trước để cung cấp một NPC trinh sát vì quy mô nhóm quá nhỏ; còn ở bất kỳ nơi nào khác, thể nào cũng có người bị mắng nát xác vì không chịu rẽ hướng sang lớp nhân vật đó, dù phải đánh đổi bằng cả một cấp độ trong nghề chính của họ.

Trinh sát đóng vai trò dọn đường phía trước và canh chừng phía sau để đề phòng bị đuôi bám theo; mò mẫm xung quanh một đô thị lớn mà không có họ thực sự là một cực hình, dù chúng tôi đang chạy trốn hay đang truy đuổi. Nó giống như việc tăng tốc lao vào một cú nước rút toàn lực trong khi bị bịt mắt vậy.

Điểm sáng duy nhất là tôi đã đầu tư vào các đặc tính cấp cao như Chiến Trường Vĩnh Viễn và có những phép thuật như Nhìn Xa để quan sát xung quanh vượt ra ngoài tầm nhìn bình thường của mình. Tôi có thể tránh được việc bị phục kích, nhưng kẻ thù của chúng tôi lại mặc thường phục để hòa lẫn vào thành phố và ẩn nấp với tất cả sự chuyên nghiệp của những trinh sát kỳ cựu: tôi chỉ có thể phát hiện ra họ sau đòn đầu tiên của họ mà thôi. Điều này đồng nghĩa với việc tôi không thể áp dụng chiến lược tuyệt diệu là né tránh mọi cuộc chạm trán ngoại trừ trận đánh trùm - và ngay cả điều đó cũng phải cầu mong chút may mắn.

Ôi, tôi khao khát làm sao người bạn thuở nhỏ của mình, viên ngọc sáng ngời ấy; tôi tự hỏi Margit đang làm gì ở quê nhà thân yêu của chúng tôi. Ước gì cô ấy ở đây để bảo vệ tôi và soi đường cho chúng tôi như những gì cô ấy từng làm ở Konigstuhl, thì tôi đã chẳng phải biết sợ là gì. Chúng tôi từng thề sẽ cùng nhau bước chân lên con đường phiêu lưu, và giờ cô ấy chính là mảnh ghép còn thiếu để hoàn thiện đội hình cồng kềnh này của chúng tôi. Không có cô ấy, sống lưng tôi bỗng thấy trống trải đến kỳ lạ; tôi run lẩy bẩy lên như thể bị bỏ mặc giữa trời đông giá rét.

"…À, suýt thì quên mất."

Để mặc tôi chìm đắm trong sự cô đơn, Mika đấm nhẹ một tay vào lòng bàn tay kia và đứng dậy, bảo rằng cô ấy sẽ quay lại ngay thôi. Chúng tôi tò mò chờ đợi một lúc, và cô ấy trở lại trong khi thở hổn hển: hóa ra cô ấy đã quay lại khu ổ chuột để khuân về một chiếc túi lớn rồi trút toàn bộ đồ đạc bên trong lên bàn.

"Tớ cá là chúng ta có thể dùng đến những thứ này."

"…Linh dược á?"

Mika đã mang về hàng tá lọ thủy tinh nhỏ chứa đầy các loại dược chất ma pháp. Mỗi chiếc lọ với hình dáng hoàn hảo đều được bịt kín bằng một con dấu ma thuật. Theo lời cô ấy, cô đã vớ được những sản phẩm chất lượng cao này từ chỗ sư phụ mình.

"Sư phụ tớ nhận được rất nhiều quà tặng và mẫu thử từ các học giả ma pháp  khác mỗi khi ông ấy đến salon, và ông ấy đã cho tớ một đống đồ khi tớ vừa chuyển sang giới tính nữ. Ông ấy bảo rằng giờ chu kỳ của tớ đã bắt đầu, tớ nên học lấy một hoặc hai điều về trang điểm."

"Ồ, vậy đây là thuốc biến hóa trang điểm à?"

Tôi hỏi.

"Không thể tin nổi họ lại đem những thứ xịn xò thế này ra làm mẫu thử miễn phí đấy."

"Mỗi lần nó thu hút được một khách hàng, lợi nhuận thu về sẽ dư sức bù đắp chi phí cho một món quà miễn phí gấp hàng chục lần, nên tớ nghĩ chuyện đó cũng không có gì quá điên rồ cả. Hơn nữa, thị trường rất lớn. Thậm chí đàn ông cũng mua chúng cho vợ hoặc người yêu của họ, rồi họ sẽ mua thêm làm quà nếu các quý cô của họ thấy thích thú."

Đây quả là thông tin mới mẻ đối với tôi. Nhưng ngẫm lại thì, các học giả ma pháp ai nấy đều giàu có - ngoại trừ những người mà việc nghiên cứu thực sự chẳng kiếm ra chút tiền nào - và các giáo sư đường hoàng nhận được các khoản trợ cấp nằm ngoài tiền tài trợ nghiên cứu như một phần đặc quyền của giới quý tộc. Gặp gỡ một đồng nghiệp học giả ma pháp tại một buổi tiệc trà thể hiện cả cơ hội xã giao lẫn kinh doanh.

Chính những lúc thế này mới thấy việc có một vị sư phụ sống khép kín, nhất quyết từ chối giao du xã hội lại là một vấn đề lớn. Làm sao mà tôi có thể học được những khái niệm cơ bản mà người khác coi là hiển nhiên ấy cơ chứ?

À, thực ra thì… tôi đoán những lọ thuốc mẫu này cũng có phần giống với đống trang phục mà tiểu thư Leizniz ép tôi phải mặc.

"Uhhh, không. Không phải cái này. Không phải cái đó… Aha!"

Sau khi sàng lọc qua các nhãn mác trên tất cả các ống thủy tinh, cuối cùng Mika cũng giơ ba lọ thuốc lên với nụ cười rạng rỡ.

"Trời ạ, tớ thật mừng vì đã giữ lại tất cả mấy thứ này. Tớ vốn chẳng màng gì đến mấy thứ kiểu này nên từng tính đem bán đi hoặc để dành cho Elisa sau khi cô bé lớn hơn một chút. Ai mà ngờ có lúc chúng lại hữu ích đến thế này cơ chứ?"

"Mấy thứ thuốc pha chế này dùng để làm gì thế?"

Tiểu thư Celia cúi người lại gần và tò mò nhìn vào những chiếc lọ; Mika liền vui vẻ chiều lòng cô và cẩn thận giải thích công dụng của từng loại.

Loại đầu tiên là một loại thuốc có khả năng tạm thời kéo dài tóc của người sử dụng. Đây là một chế phẩm trung gian xuất phát từ nghiên cứu khôi phục nang tóc đã mất - rõ ràng là tình trạng hói đầu luôn gieo rắc nỗi sợ hãi vào trái tim đàn ông ở bất kỳ thế giới nào. Dù nó hoàn toàn thất bại trong mục đích ban đầu, nhưng nó lại thành công vang dội trên thị trường như một thứ đổi gió thú vị cho các quý cô giàu có trong thành phố.

Loại thứ hai cũng liên quan đến tóc: nó làm suy yếu mọi lọn tóc xoăn tự nhiên để tạo ra mái tóc suôn thẳng hơn. Đây cũng là một sản phẩm thất bại khác. Ý tưởng ban đầu của nó là làm thẳng tóc trong tối đa một năm chỉ với một liều duy nhất, nhưng thực tế hiệu quả chỉ kéo dài nhiều nhất là vài tiếng đồng hồ. Trong trường hợp này, nguyên mẫu được tạo ra nhằm mục đích chứng minh tiến độ của nhà sáng chế và thu hút các nhà đầu tư rót vốn cho phần nghiên cứu còn lại.

Dù vậy, tôi nghi ngờ việc chúng tôi sẽ được nhìn thấy loại thuốc này mang lại hiệu quả vĩnh viễn: xét cho cùng, phải bán hàng liên tục thì mới mang lại lợi nhuận cao. Tôi cá là việc tạo ra một công thức thay đổi tạm thời như thế này thực sự còn khó hơn cả một công thức không bao giờ hoàn tác; có vẻ như các dược sĩ lúc nào cũng mờ ám bất kể tôi đang ở thế giới nào. Tôi nghi ngờ mà liếc nhìn cái lọ thuốc rồi tự hỏi liệu có logo công ty hình sọc đỏ trắng quen thuộc nào ẩn giấu trên đó không. [note111025]

Loại thuốc thứ ba là một loại có thể tạm thời thay đổi màu mắt của người dùng. Lại một lần nữa, chúng tôi có một sản phẩm được làm ra để tô điểm thêm cho vẻ ngoài của các quý cô quyền quý - hoặc ít nhất, tôi đoán đó là cách mà nhà sáng chế đã dùng để thuyết phục các nhà đầu tư của họ. Trên thực tế, có lẽ nó được thiết kế với mục đích ngụy trang ngay từ đầu; không giống như một thế giới chủ yếu có tông màu nâu như Trái Đất, sự pha trộn sắc màu của tròng mắt ở Rhine biến màu mắt thành đặc điểm nhận dạng nổi bật nhất đối với các chủng tộc giống con người, bên cạnh tóc và da. Thời trang chỉ là yếu tố phụ so với tính hữu dụng của nó trong việc tàng hình, bao gồm cả những hoạt động kém phần thanh tao như ngoại tình.

"Ừm, chỉ một giọt là mọc ra ngần này tóc rồi, vậy chắc tớ phải dùng… chừng này nhỉ?"

Mika đong một liều thuốc đầu tiên.

"Blegh! Sao mà dở tệ thế này chứ?!"

"Nó đang mọc dài ra kìa!"

Tiểu thư Celia thốt lên.

"Mika, tóc cậu đang dài ra kìa!"

"Oa!"

Elisa kêu lên.

"Đến lượt em! Đến lượt em!"

Tôi bị bỏ lại một mình để suy ngẫm về những âm mưu đen tối ẩn giấu sau mấy bình thuốc này, trong khi ba cô nàng thì đang vui vẻ thỏa mãn sự tò mò của họ với món đồ trang điểm mang hơi hướng ma thuật.

Tóc của Mika dài ra theo từng khoảnh khắc, và mái tóc đen bồng bềnh của cô ấy trông hệt như một vùng biển đêm quyến rũ được nhân hóa. Sự phát triển này trông hoàn toàn tự nhiên; nếu cô ấy giữ nguyên hình hài nữ tính của mình và để tóc dài, thì đây chính là diện mạo thực tế của cô ấy. Dù sản phẩm đã thất bại trong việc đạt được mục tiêu ban đầu, nhưng vị học giả ma pháp tạo ra nó rõ ràng không phải là một kẻ nghiệp dư.

"Hô, hóa ra trông mình sẽ như thế này khi để tóc dài sao… Trời ạ, tóc xoăn quá cơ. Kiểu này tớ còn chẳng buộc lên được ấy chứ! Thôi đủ rồi, tớ cứ giữ tóc ngắn cho lành. Nếu lúc làm con gái mà đã rắc rối thế này, thì tớ không dám tưởng tượng khi đổi lại thành con trai sẽ khó chịu đến mức nào đâu."

"Tóc của cậu cũng thay đổi khi ở hình hài con trai sao?"

Tiểu thư Celia hỏi.

"Đúng vậy, nó xoăn hơn rất nhiều. Tớ nghĩ mình thừa hưởng nét này từ bố, và ông ấy sở hữu một mái tóc cực kỳ cứng đầu."

"Hả? Sao tóc em mãi không mọc dài ra thế nhỉ?"

Trong lúc hai người kia đang rôm rả trò chuyện con gái trước gương, Elisa ngồi sang một bên và tỏ vẻ bối rối vì không hiểu tại sao loại thuốc này lại không có tác dụng với mình. Dù mang thân xác của con người, em gái tôi lại sở hữu tâm hồn của một Alf; tôi đoán rằng cô bé có khả năng kháng ma thuật bẩm sinh mạnh đến mức một liều lượng nhỏ không đủ sức ảnh hưởng tới nó.

"Tiếp theo là thuốc làm thẳng tóc… và vị của nó cũng tệ không kém! Hừm, lưỡi tớ như muốn bốc cháy luôn rồi đây! Bọn họ bớt xén gia vị vì chưa tung ra thị trường hay sao thế, tiết kiệm kiểu gì vậy?!"

"Nhưng Mika này!"

Tiểu thư Celia lên tiếng.

"Nhìn kìa, tác dụng bắt đầu phát huy rồi đấy! Trông tuyệt diệu làm sao!"

Một ngụm nhỏ từ bình thuốc thứ hai đã thuần hóa vùng biển cuộn sóng thành một hồ nước phẳng lặng phản chiếu ánh đèn trong phòng như vầng trăng sáng rực giữa đêm khuya. Tóc của Mika lúc nào cũng mềm mại và mượt mà, nên việc nhìn nó được kéo thẳng theo một cách đầy mê hoặc này đã khơi gợi mong muốn được đưa tay luồn vào mái tóc ấy của tôi.

"Hưm."

Cô ấy kêu lên.

"Cổ tớ cảm thấy nóng và nặng quá… Đây là cảm giác mà cậu phải chịu đựng hằng ngày hả, Erich?"

"Rất vui vì cậu cuối cùng cũng hiểu."

Tôi đáp lời.

"Cảm giác tận hưởng sự mới lạ này thế nào?"

"Cũng được đấy. Nhưng tớ nghĩ mình sẽ không bao giờ làm thế này lần thứ hai đâu. Còn cậu thì sao? Cậu là người ngắm nghía nó đấy, có thấy thú vị không nào?"

Hông Mika hơi đẩy sang một bên để tạo dáng và hất tóc với một vẻ quyến rũ khó cưỡng. Việc trái tim tôi bỗng lỡ một nhịp khi chứng kiến diện mạo xa lạ của người bạn thân quen thuộc là một bí mật tôi sẽ mang xuống mồ.

"Ừ, trông cậu rất đáng yêu."

Dù vậy, tôi đã mài giũa nghệ thuật mặt dày từ thời còn làm việc dưới quyền chủ nhân. Má tôi không hề ửng đỏ khi tôi thốt ra lời khen chân thành đó, và để đáp lại, Mika liền xoay người một vòng với tốc độ chóng mặt.

"Tớ… tớ hiểu rồi. Cảm ơn nhé."

…Nhưng tôi vẫn có thể nhìn thấy rõ mồn một khuôn mặt của cô ấy trong chiếc gương. Trông cô ấy đỏ bừng cả lên, có vẻ như lời khen của tôi đã khiến cô ấy thấy ngượng ngùng rồi. Ngẫm lại thì, tôi thường không tiếc lời khen ngợi mỗi khi Mika ở hình hài con trai hoặc phi giới tính, nhưng lại luôn cảm thấy quá ngại ngùng để làm điều đó khi cô ấy ở dạng nữ. Kiểu nịnh nọt này vốn không nằm trong thói quen giao tiếp thường ngày của chúng tôi.

Lúc này, tình hình là cô bạn thân đang cố giấu đi sự bối rối của mình; nếu cứ nhìn chằm chằm chỉ vì tôi có thể làm thế thì thật là bất lịch sự. Tôi hơi nghiêng ghế sang một bên và quyết định dỗ dành Elisa, người đang phồng má hờn dỗi vì thuốc không có tác dụng với mình.

"Cậu có sao không, Mika?"

Tiểu thư Celia lo lắng hỏi.

"Tớ sẽ cầu xin Nữ Thần để giúp cậu không cảm thấy khó chịu vì một vài tác dụng phụ không rõ nào đó nhé."

"K-Không cần phải lo đâu, Celia. Tớ hoàn toàn ổn mà. Ờ, ừm… à đúng rồi, loại tiếp theo!"

Tôi làm ngơ trước giọng nói đang lạc đi của cô ấy và tiếp tục dỗ dành em gái mình. Chỉ một lát sau, Mika gọi chúng tôi quay lại; quá trình chuẩn bị của cô ấy đã hoàn tất.

Chúng tôi quay đầu lại và nhìn thấy hai thiếu nữ - trông không hẳn là chị em sinh đôi, nhưng có ngoại hình tương đồng đến mức khó tin. Họ trông gần như tương đương nhau về độ tuổi, chiều cao, cùng màu sắc và độ dài của mái tóc. Dù đôi mắt của Mika không hẳn là sắc đỏ rực rỡ, chúng lại mang một sắc nâu ánh đỏ có thể dễ dàng đánh lừa người ta thành sắc đỏ như máu của Vampire nếu nhìn ở góc độ thích hợp. Bất kỳ ai đang lùng sục tìm kiếm những đặc điểm nhận dạng này chắc chắn sẽ phải dừng cô ấy lại để thẩm vấn. Để hoàn thiện nốt mọi thứ, Mika đã thay trang phục khi đi lấy chiếc túi: cô khoác lên mình một chiếc áo choàng trùm đầu sẫm màu, có kiểu dáng không khác gì trang phục của một nữ tu.

"Cậu thấy sao, Erich? Bản sao y bản chính luôn chứ gì?"

Đó là lý do tại sao tôi đã nhận ra kế hoạch của cô ấy ngay từ khoảnh khắc cô bước trở vào, tại sao tôi lại biết chính xác những lọ thuốc ma pháp đó sẽ được dùng vào việc gì.

"Tớ sẽ ra ngoài trước và chạy nhảy xung quanh để làm mồi nhử. Tớ sẽ để lính canh bắt gặp mình ở gần một trong những cổng chính của thành phố và kéo chân một đám."

Mika phồng ngực đầy tự tin. Phải đến khi cô ấy bày biện rõ kế hoạch của mình ra thì tiểu thư Celia mới bàng hoàng nhận ra; gương mặt trắng bệch của cô mất đi chút sắc hồng cuối cùng khi cô chộp lấy đôi vai của Mika.

"Cậu không thể làm thế! Nguy hiểm lắm!"

"Đừng lo, Celia. Những kẻ đang tìm kiếm cậu coi cậu là nhân vật tầm cỡ. Bọn chúng sẽ không dám thô lỗ hay mạnh tay chỉ để bắt tớ đâu."

"Nhưng mà! Lỡ như cậu thực sự bị bắt thì sao?!"

"Tớ là một đứa con kỳ cựu của Berylin, sống chết gắn liền nơi đây. Tớ thề là sẽ không để bọn chúng túm được đâu."

Mặc dù những lời của Mika có vẻ dựa trên sự tự tin khá mong manh, tôi vẫn quyết định đặt niềm tin vào cô ấy. Cô ấy luôn ép bản thân phải nỗ lực hết sức, nhưng cũng luôn biết lên tiếng khi cảm thấy mọi việc vượt quá tầm với; tôi biết Mika sẽ không biến mình thành một vật tế thần vô ích.

Mỗi ngày, vị Oikodomurge tương lai này đều lang thang trên các con đường của đế đô để nghiên cứu kiến trúc Đế chế và quy hoạch đô thị - thành tựu huy hoàng nhất của Đế chế. Cô ấy thuộc làu từng con hẻm khuất và hầu như mọi lối đi liên thông trong hệ thống cống ngầm. Nếu cô ấy nói có thể câu cho chúng tôi thời gian, thì tôi không mảy may nghi ngờ rằng cô ấy đang nói thật.

"Đã rõ."

tôi nói.

"Bọn tớ đành nhờ cả vào cậu nhé, Mika."

"Tất nhiên rồi. Cứ để đấy cho tớ, bạn hiền."

Khi quay sang phía Vampire, cô nói tiếp.

"Còn Celia, cậu không định ban phước lành cho tớ thay vì cứ lo lắng cho sự an toàn của tớ sao? Sẽ thật buồn biết bao nếu lao vào trận chiến mà không có lấy nổi một lời cầu nguyện từ một người thiếu nữ."

Có vẻ tiểu thư Celia vẫn bấn loạn, nhưng thỉnh cầu này quá khó để từ chối. Dù chúng tôi đã đến giải cứu cô mà không đòi hỏi bất kỳ sự đền đáp nào, cô vẫn ban ơn cho chúng tôi bằng lời cảm ơn; tất cả chúng tôi giờ đã ở chung một chiến thuyền. Cô nhìn thẳng vào mắt Mika trong sự im lặng tuyệt đối, cho đến khi cuối cùng cũng chịu thỏa hiệp với quyết định của cô bạn thân của tôi; lần đầu tiên, cô tháo chiếc huy chương thần thánh của mình xuống.

"Xin cậu."

Cô cầu nguyện.

"Tớ tha thiết xin cậu đừng tự đặt bản thân vào vòng hiểm nguy. Nếu cậu rơi vào tay bọn họ, tớ hứa sẽ bảo vệ cậu bằng bất cứ giá nào. Cho đến lúc đó, nguyện xin Nữ Thần ban cho cậu sự che chở của Ngài."

Nữ tu sĩ áp đôi môi lên biểu tượng bằng bạc và trang trọng thắt nó vòng qua cổ vị pháp sư.

"Cảm ơn nhé, Celia. Cậu thấy chưa, Erich? Với món quà đầy phép màu này, thành công chắc chắn nằm trong tầm tay chúng ta rồi."

"Tớ chỉ ghen tị vì người đó không phải là mình thôi."

Tôi mỉm cười nói.

"Thắng lợi của chúng ta đã nằm chắc trong lòng bàn tay rồi."

Tôi vươn tay ra và Mika siết chặt lấy nó bằng một cái bắt tay chắc nịch. Sau đó, chúng tôi gập khuỷu tay lên, kéo nhau vào một cái ôm một tay khi bàn tay vẫn đang đan chặt. Dù cô ấy mang giới tính nào đi nữa, cái ôm tình bạn và những lời chúc tốt đẹp này luôn là thứ chúng tôi chia sẻ mà chẳng mảy giấu giếm.

"Bảo trọng nhé."

"Cậu cũng vậy."

Má chúng tôi lướt qua nhau khi cả hai buông ra, và cô ấy quay bước ra cửa với lời chào tạm biệt… cho đến khi bị một tiếng gọi giữ lại.

Đó là Elisa.

Cả ba chúng tôi ngạc nhiên quay lại nhìn cô bé. Nó nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu rồi đứng dậy khỏi ghế; chúng tôi nín thở chờ đợi khi cô bé tự trấn an bản thân trước một điều gì đó chưa biết trước. Sau đó, bất chấp việc vẫn tiếp tục phớt lờ tiểu thư Celia, nó bước đến trước vị khách của chúng tôi và túm lấy vạt váy, cúi đầu chào theo đúng kiểu nghi thức của một nữ quý tộc.

"Em thành thật xin lỗi vì thái độ thất lễ vừa rồi của mình. Em xin chấp nhận bất kỳ hình thức trừng phạt nào mà chị cho là thích hợp cho hành vi hỗn láo của em, nhưng em có thể mạn phép xin một sợi tóc của chị được không ạ?"

Câu nói rành mạch nhất từ trước đến nay của Elisa khiến tất cả chúng tôi sững người trong im lặng. Tiểu thư Celia cũng bàng hoàng khi nhận được lời xin lỗi từ một cô bé dường như rất ghét mình; Mika thì ngạc nhiên khi thấy một đứa trẻ mà cô hằng nghĩ lại có thể nói năng trưởng thành đến vậy; còn tôi thì đông cứng lại bởi một nỗi sợ vô hình đang dâng trào trong lồng ngực.

Lồng ngực tôi thắt lại đến mức tôi phải đưa tay ôm chặt lấy nó, và ký ức về Helga bỗng lóe lên ở khóe mắt tôi.

"Em không cần phải đền bù gì đâu, Elisa. Thậm chí em chẳng cần phải xin lỗi, chị chưa bao giờ giận em cả. Nếu một sợi tóc là thứ em cần, thì cứ tự nhiên nhé."

Vị nữ tu sũ nhân hậu đã chấp nhận lời xin lỗi của Elisa một cách hoàn toàn vô điều kiện; Mika vô cùng cảm động, cô nghĩ rằng cô bé đang làm một việc khôn ngoan vì lợi ích của người anh trai thân yêu. Chỉ có riêng tôi là bị mắc kẹt trong những ký ức của chính mình: ký ức về tội lỗi của tôi tại biệt thự ven hồ, và những gì tôi đã học được từ đó.

Alfar thay đổi để phù hợp với những khao khát của họ. Dù điều đó mang lại sự trưởng thành hay sự điên loạn đi chăng nữa; nếu linh hồn tiên bên trong cho là cần thiết, lớp vỏ con người của một Changeling sẽ uốn cong để thích ứng.

Elisa đang cố gắng trở thành thứ gì chứ? Cô bé đang làm gì vậy?

Tôi không biết, và điều đó khiến tôi sợ hãi; tim tôi quặn đau. Đây không phải là lần đầu tiên, và trước đây tôi từng ngây thơ cảm thấy hạnh phúc biết bao khi thấy cô bé lớn lên. Nhưng giờ đây, vì những lý do mà tôi không thể giải thích nổi, tôi lại cảm thấy sợ hãi khi nhìn thấy em gái mình cố gắng trưởng thành.

"Em cảm ơn chị rất nhiều."

Elisa cầm lấy sợi tóc, bước đến ngăn kéo bàn của mình rồi lôi ra một chiếc túi nhỏ. Cô bé bỏ sợi tóc vào bên trong và truyền ma lực vào toàn bộ chiếc túi.

Nhiều tuần trăng trước, tiểu thư Agrippina từng dạy cô bé mẹo ma thuật này - nó thậm chí còn chưa đủ tầm để gọi là một phép thuật thực thụ - để cô bé có thể thường xuyên giải phóng nguồn năng lượng ma thuật tích tụ trong cơ thể. Chủ nhân tôi từng bày tỏ sự kinh ngạc khi thấy cô bé vẫn cần mẫn tiếp tục bài tập đó cho đến tận ngày nay.

Thành thật mà nói, đây chẳng qua chỉ là một cách trò chơi hóa để giúp những đứa trẻ tập tễnh những bước đi ma thuật đầu tiên của chúng. Nó vốn là một cách thú vị để giữ sự tập trung của trẻ em trong khi dạy chúng thói quen tuần hoàn ma lực nhằm gia tăng tổng dung lượng của chúng theo thời gian.

Đối với các bé gái, biến thể phổ biến nhất là lấy một loại thảo mộc chưa khô, cho vào túi, và tạo ra một dạng túi thơm. Trò chơi này giúp đứa trẻ làm quen với việc chế tạo chất xúc tác và dạy chúng tên của các loài cỏ hoa khác nhau, nên nó thường được ví như một mũi tên trúng ba đích.

Nhưng Elisa lại cho vào đó một sợi tóc. Trong lúc tôi đang tự hỏi cô bé có thể định làm gì, nó đã hoàn thành việc yểm bùa chiếc túi và đưa nó cho Mika.

"Thứ này sẽ lấn át mùi tự nhiên của chị và tạo ra một thứ mùi tương tự như của chị Cecilia. Em tin rằng nó sẽ đánh lừa được cả những kẻ có khứu giác nhạy bén nhất."

"Ồ, chuẩn luôn!"

Mika thốt lên.

"Tớ hoàn toàn quên mất là bọn chúng có thể có á nhân dòng dõi chó hay đại loại thế có thể nhận ra mùi của Celia đấy!"

Mika kéo Elisa vào một cái ôm và không ngớt lời ca ngợi cô bé. Cô em gái bé nhỏ của tôi nở nụ cười hồn nhiên như mọi khi và nói "Mika, em không thở được đâu." với giọng điệu chẳng mảy may che giấu nổi niềm vui.

Và rồi cô bé ngước lên nhìn tôi với đôi mắt to tròn, đầy khẩn khoản.

Bỗng nhiên, tôi sực tỉnh trở lại. Elisa vẫn y như mọi khi. Sự lo lắng vô cớ vừa bủa vây lấy tôi tan biến cứ như thể tôi chưa từng cảm nhận thấy nó bao giờ. Khi liếc nhìn xuống, ký ức về Helga đã lấy lại được độ sáng bóng quen thuộc của nó từ lúc nào.

Sao mình lại phải sợ cơ chứ… không, chờ đã. Mình vừa đang nghĩ về cái gì thế nhỉ?

"Em giỏi quá đấy, Elisa! Một thiên thần tài năng như em chắc chắn sẽ sớm thành giáo sư cho mà xem!"

Tôi gạt bỏ lớp màn sương mù vô hình đang che mờ tâm trí và hùa theo Mika ôm chầm lấy cô em gái thiên tài của mình để ca ngợi nỗ lực của cô bé. Sau đó, vị thiên tài nổi danh thế giới tương lai ấy đã dùng chính một sợi tóc của mình để giúp che giấu mùi hương của tiểu thư Celia.

Giờ thì chúng tôi chẳng còn gì phải sợ hãi nữa; còn điều gì có thể khiến chúng tôi phải lo lắng lúc này cơ chứ?

"Được rồi, tớ đi đây."

Mika nói.

"Cho tớ khoảng nửa tiếng trước khi mọi người xuất phát nhé."

"Được rồi."

tôi đáp.

"Chúc cậu may mắn."

"Xin hãy bảo trọng."

Tiểu thư Celia cầu nguyện.

"Nguyện xin ân huệ của Mẫu Thần nhân từ từ trên cao soi rọi và phù hộ cho cậu."

"Cẩn thận nhé!"

Elisa nói.

"Em sẽ ngoan ngoãn ở nhà và chờ mọi người về!"

Cuối cùng thì thời khắc ấy cũng đã đến: cuộc phiêu lưu của một đời người sắp sửa bắt đầu.

---

[Mẹo] Túi thơm là những vật dụng làm thơm không khí thường được làm từ thảo mộc hoặc hoa khô, hoặc các loại bông gòn ngâm trong tinh dầu của chúng. Được mang theo trong những chiếc túi nhỏ, chúng đóng vai trò cốt lõi trong các phép xã giao thông thường khi được dùng để che giấu mùi cơ thể, đồng thời là một món đồ thời trang nếu được tinh chỉnh cẩn thận để luôn bắt kịp xu hướng hương thơm mới nhất. Các biến thể chuyên dụng hơn bao gồm các dạng ma thuật có khả năng khử mùi mà không thêm vào bất kỳ mùi hương ngụy trang nào; chúng thường được sử dụng cho các mục đích phi thẩm mỹ nhiều hơn.

---

Elisa miễn cưỡng chấp nhận nhiệm vụ ở nhà chờ đợi sự trở lại của ba người kia. Đương nhiên, trái tim cô ngập tràn sự bất mãn khi anh trai cô rời đi, nhưng cô đã kìm nén tất cả lại một cách gọn gàng bên trong.

Elisa hiểu rõ. Cô biết rằng anh trai sẽ phải vật lộn vất vả hơn rất nhiều nếu nó đi theo so với khi cậu tự mình lên đường cùng người phụ nữ đáng sợ mang ánh trăng ấy. Cô biết rằng cậu sẽ phải tốn rất nhiều thời gian quý báu chỉ để dỗ dành mình.

Khi sự trưởng thành trong năng lực bồi đắp thêm cho thế giới nội tâm của Elisa, khi cô bắt đầu muốn học hỏi, cô tự nhiên bắt đầu nhận ra bản thân nên phải làm gì. Nói cách khác, giờ đây cô đã hiểu điều gì sẽ làm anh trai mình hạnh phúc nhất, điều gì sẽ mang lại cho anh ít gian truân nhất, và quan trọng nhất là, điều gì sẽ khiến cậu quý mến mình nhất. Elisa của ngày xưa hẳn đã giãy nảy và gào khóc để giữ chân cậu ở lại. Tâm trí non nớt của cô ngày ấy chẳng biết cách nào khác ngoài khóc, khóc và khóc cho đến khi cậu chịu lắng nghe những lời nài nỉ của mình để ngừng làm những việc mà nó không muốn cậu làm.

Tuy nhiên, nền giáo dục đã nuôi dưỡng trí tuệ non trẻ của cô bé vượt qua khỏi những hố sâu của sự vô minh. Giờ đây cô đã hiểu rằng ẩn sau việc anh trai dấn thân vào nơi hiểm nguy luôn có lý do của nó; cô thấy được lý do vì sao anh mình lại tự nguyện bước chân vào những chốn địa ngục trần gian.

Cậu quá tốt bụng… quá mức tử tế. Tốt đến mức cậu không thể chịu đựng được việc nhìn thấy người khác phải chịu khổ trước mặt mình. Sẽ chẳng có gì thay đổi ngay cả khi hoàn cảnh khó khăn của họ không hề ảnh hưởng đến cậu, và cũng chẳng thành vấn đề nếu mối liên kết giữa họ chỉ vỏn vẹn là tình cờ chạm vai nhau trên một con phố.

Tệ nhất là, anh trai của Elisa lại quá tài năng đến mức cậu có thể xoay sở thành công mọi thứ nếu cậu tự ép mình đến bờ vực cái chết. Nếu đây là một tình huống mà việc lật ngược tình thế hay vắt kiệt từng giọt sức lực cuối cùng trong cơ thể cũng chẳng thể giải quyết được gì, cậu hẳn đã làu bàu trong sự bực bội rồi buông xuôi.

Dù anh trai cô có liều lĩnh đến đâu, cậu luôn có sẵn một kế hoạch logic của riêng mình để vượt qua các thử thách một cách an toàn. Cậu sẽ không bao giờ cố ý lao đầu vào một cạm bẫy mà ở đó, tỷ lệ tử vong vượt xa bất kỳ cơ hội thành công nào… hoặc ít nhất, Elisa hy vọng là thế.

Hơn thế nữa, tính cả lần cậu giải cứu chính Elisa, đây đã là lần thứ năm cậu quay lưng về phía cô để tiến thẳng vào chốn hiểm nguy. Đến thời điểm này, rõ ràng là cô không thể ngăn cản cậu được nữa; đó đơn giản là con người của cậu.

Trên thực tế, hoàn cảnh hiện tại chính là hệ quả của việc cô từng cố ngăn cản cậu một lần, đến lúc này thì cô không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận điều đó. Ý chí của cậu kiên định đến mức Elisa, hơn ai hết, đã thấu triệt được sự vô nghĩa của việc níu kéo cậu lại.

Mày biết điều đó có nghĩa là gì chứ

, tâm trí đang dần trưởng thành của cô thì thầm. Nếu nó không thể ngăn cản người anh trai thân yêu của mình khỏi chốn hiểm nguy dù đã cố gắng hết sức đi chăng nữa, thì điều duy nhất còn lại có thể làm là khiến hành trình của cậu bớt nguy hiểm hơn bằng bất cứ cách nào có thể. Elisa hạ quyết tâm: mặc cho vẫn còn rất nhiều điều khiến cô bối rối, mặc cho những cảm xúc hỗn độn chóng mặt đang cấu thành nên tâm hồn của Mika, cô bé vẫn sẽ đặt trọn niềm tin vào cô ấy với tất cả những gì mình có. Dù những khao khát đa sắc thái của cô nàng Tivisco có phức tạp đến đâu đi nữa, tình cảm của cô ấy là chân thật, cũng như quyết tâm dũng cảm đối mặt với những hiểm nguy sắp tới của cô vậy.

Và gạt bỏ mọi thứ sang một bên, Mika vẫn luôn đối xử rất tốt với Elisa. Cô ấy chưa bao giờ nói dối, và tình cảm dành cho Changeling hoàn toàn xuất phát từ sự yêu thương chân thành. Chẳng có lý do gì để Elisa phải giữ khoảng cách với vị pháp sư thân thiện ấy cả. Trên thực tế, mục tiêu của họ khá tương đồng: suy nghĩ về người sư phụ hay mỉm cười cay nghiệt đang tường thuật việc Erich cần được bảo vệ lại thoáng qua trong đầu cô bé.

Khiên chắn thì càng nhiều càng tốt. Dù Elisa khao khát được làm chiến lũy vững chắc nhất ở tuyến đầu, cô vẫn cần thời gian. Cho đến lúc đó, cô sẵn sàng viện đến sự giúp đỡ của người khác, và sẽ tiếp tục coi họ như những đồng đội một khi cô tự đứng vững trên đôi chân của chính mình; việc một trong những chiếc khiên ấy là người mà nó quý mến lại càng mang lại sự an tâm lớn hơn nữa.

Tuy nhiên, nữ Vampire Cecilia lại là thứ gì đó mà Elisa không tài nào chấp nhận nổi. Đôi mắt của cô ấy lạnh lẽo và vô cảm hệt như ánh trăng. Hoàn toàn khác biệt với thứ tình yêu ấm áp, rực rỡ và xoa dịu mà anh trai dành cho cô, Changeling không cảm thấy chút hạnh phúc nào từ ánh trăng trong đôi mắt của Cecilia. Đó là một thứ ánh sáng độc hại. Nó có thể rất hữu ích trong việc bảo vệ anh trai… nhưng trực giác mách bảo cô rằng ánh sáng ấy sẽ cướp lấy cậu và đưa cậu đến một nơi nào đó thật xa, thật xa.

Về mặt cá nhân, Elisa không hẳn là ghét Cecilia. Sắc thái linh hồn của cô ấy rất đẹp và trong trẻo; thật hiếm khi tìm thấy một người không vẩn đục đến thế. Sự thuần khiết ấy không phải là lớp tuyết chưa hằn dấu chân, không phải kiểu ngây thơ mỏng manh sẽ nhòe đi thành một mớ hỗn độn xám xịt ngay khi bị giẫm đạp dưới chân.

Không, Elisa nghĩ linh hồn của Cecilia giống như viên kim cương thỉnh thoảng vẫn lấp lánh trên cổ áo của sư phụ cô hơn: dù cả hai đều không màu, chúng lại ngời sáng với một vẻ đẹp nguyên sơ. Khi Elisa nài nỉ được ngắm nhìn cận cảnh viên đá xinh xắn đó, vị học giả ma pháp đã thản nhiên tháo nó ra kèm theo một bài học lịch sử ngắn gọn.

Tên của viên kim cương bắt nguồn từ một từ có nghĩa là ‘bất khuất’ trong tiếng Orisons - ngôn ngữ cổ của Vương Quốc Phước Lành - và nó mang lại độ bền tương tự cho người đeo. Ở một thời đại xa xưa, độ cứng không gì lay chuyển nổi của nó có nghĩa là không lượng thời gian hay công sức nào có thể mài giũa viên ngọc thành những hình thù hấp dẫn; những viên còn thô ráp thậm chí còn chẳng thèm phát sáng. Suốt một thời gian dài, kim cương hoàn toàn vô giá trị khi so sánh với ngọc hồng lựu hay ngọc lục bảo vốn luôn được sùng bái trong lịch sử.

Tuy nhiên, những tiến bộ về truyền thống và thần thuật đạt được trong vài thế kỷ qua đã gia tăng độ phổ biến của nó. Bằng cách sử dụng các kỹ thuật chuyên biệt, người ta có thể đánh bóng viên đá để nó tỏa sáng rực rỡ như chính ánh mặt trời; giờ đây nó đứng vững trên đỉnh cao của tất cả các loại đá quý.

Rõ ràng là tổ tiên của Agrippina đã mua một dòng sông ở phía Tây Seine từ một phút bốc đồng từ lâu lắm rồi, nơi mà gần đây - không đời nào Elisa lại tin tưởng định nghĩa về sự ‘gần đây’ của một Methuselah - đã sản xuất ra một khối quặng lớn bằng nắm tay. Nó sau đó đã được chế tác thành một chiếc vòng cổ cho sư phụ cô nhằm kỷ niệm màn ra mắt của cô trong giới thượng lưu.

Đối với đôi mắt tiên của Elisa, vẻ lấp lánh không tì vết, không mây che của nó trông hoàn toàn không thể bị vấy bẩn, và sắc thái đó cũng đang tỏa sáng bên trong Cecilia. Thuần khiết và không bị ô nhiễm, cô ấy chỉ có thể bị nhào nặn bởi một kẻ mạnh mẽ ngang ngửa chính mình. Tính cách của cô không phải là sản phẩm của một cuộc sống khép kín, mà đúng hơn là một kết quả được định sẵn từ trước, thứ chắc chắn sẽ xảy ra bất kể môi trường xung quanh cô có ra sao đi nữa.

Elisa thích điều này: nữ tu sĩ không hề mang trong mình thứ đạo đức mỏng manh phụ thuộc vào may mắn, một thứ vốn có số phận định sẵn sẽ bị vấy bẩn ngay lần đầu chạm trán với cái ác. Thế nhưng, chính sức mạnh của Vampire lại là vấn đề; cô ấy hoàn toàn có thể trở thành thứ đá mài sắc bén.

Chỉ có kim cương mới có thể khắc được kim cương, và những viên hoàn hảo nhất luôn được cất giấu bởi các thợ kim hoàn cũng như những nhà sưu tập đá quý. Elisa từng nhìn thấy những ảo ảnh mờ ảo về thứ ánh sáng chói lóa đang nuốt chửng toàn bộ người anh trai thân yêu của mình. Ý nghĩ cho rằng thứ ánh sáng trăng băng giá ấy có thể rút cạn hơi ấm dịu dàng của mặt trời thành một thứ rạng rỡ hoàn toàn vô cảm khiến cô sợ hãi đến mức phải xa lánh Cecilia.

Nhưng giờ đây Elisa đã hiểu: nếu anh trai cô đã chấp nhận Vampire đó, thì sự cự tuyệt của Elisa cũng chẳng thể thay đổi được quyết định của cậu nữa. Nên  lựa chọn duy nhất còn lại của cô là làm mọi thứ trong khả năng để đảm bảo vầng trăng kia không làm vấy bẩn sự ấm áp của mặt trời.

"Bảo trọng nhé, anh. Xin anh, hãy quay về với em."

Với một lời thì thầm vừa nặng trĩu vừa dịu dàng, Changeling đan chặt hai bàn tay vào nhau. Cho đến nay, cô mới chỉ toàn bắt chước bố mẹ tại nhà thờ địa phương của họ, nhưng ngày hôm nay, cô cầu nguyện bằng cả trái tim mình với vị Nữ Thần mà nữ tu sĩ kia phụng sự, với hy vọng rằng Ngài sẽ không cướp mất người anh trai yêu quý.

---

[Mẹo] Do quy trình chế tạo phức tạp và sự khan hiếm trong biên giới Đế chế, kim cương được mệnh danh là vua của các loại đá quý tại Rhine. Dù chúng có nhiều màu sắc khác nhau, những viên đá không màu vẫn được cả người đeo lẫn các pháp sư đánh giá cao nhất. Sự kiên quyết không uốn cong cho đến khi vỡ nát hoàn toàn khiến chúng trở thành một chất xúc tác vô song trong các lớp rào chắn phòng thủ.

---

Mika kéo chiếc mũ trùm xuống thấp nhất có thể và bước đi giữa thành phố chạng vạng trong khi cẩn trọng quan sát tình hình xung quanh. Ngay cả khi mặt trời ngả dần về đường chân trời, những con đường ở Berylin vẫn nhộn nhịp người qua lại. Những người thợ lầm lũi đi bộ về nhà sau một ngày dài làm việc mệt nhọc, các chủng tộc sinh hoạt về đêm dụi đi cơn buồn ngủ trên đường đến ca làm việc gãy, và những gã bợm nhậu trẻ tuổi vai kề vai đi lượn lờ quanh phố, tự thưởng cho bản thân chút hơi men sau nhọc nhằn mưu sinh.

Nhìn bề ngoài, đế đô chính là bức tranh thu nhỏ của sự bình yên. Đó là một sự pha trộn nhộn nhịp của mọi tầng lớp người trong Đế chế, và là khung cảnh hoàn hảo để hòa mình vào đám đông. Vô số bóng người trùm áo choàng khác cũng đang ẩn mình khỏi ánh mặt trời hoặc những tiếng ồn ào ngoài kia.

Những làn sóng người đủ sức nuốt chửng hoàn toàn một tên nhà quê chưa va vấp trôi qua người Mika khi cô khéo léo lách qua đám đông để hướng về cổng Nam. Vào giữa trưa, lối vào thành phố này vốn tấp nập thương nhân và thú cưỡi của họ, nhưng với chỉ vài phút nữa là đến giờ đóng cửa, lượng người qua lại thưa thớt hẳn. Những con đường được lát đá phẳng phiu và khu vực xung quanh tương đối an toàn, nhưng rất ít ai muốn mạo hiểm thực hiện một chuyến đi ra ngoài bức tường thành sau khi mặt trời lặn.

Những con phố đông đúc mà Mika từng dùng để che giấu tung tích nãy giờ không còn có thể bảo vệ cô được nữa. Trên quãng đường đi đến đây, một vài lính gác đã nhìn thấy trang phục ‘nữ tu’ từ phía sau và cố gắng gọi với theo, nhưng chẳng ai theo kịp bước chân lanh lẹ của cô giữa dòng người - nhưng giờ thì khác rồi.

Từ đây trở đi mình phải tự thân vận động rồi,

Tivisco thầm nghĩ khi một cảm giác lạnh sống lưng chạy dọc sống lưng cô. Cục nghẹn trong cổ họng khiến cô cảm thấy nuốt xuống thật khó khăn.

"Nhưng mình đã khoác lác với bạn hiền nhiều thế cơ mà."

Cô lẩm bẩm trong lớp áo choàng.

"Đã đến lúc nói được làm được rồi."

Mika thản nhiên bước vào hàng người ngắn ngủi đang dẫn đến điểm kiểm tra xuất cảnh. Lính canh cẩn trọng soi xét từng tấm thẻ thông hành và khuôn mặt, thậm chí còn sử dụng một loại ma pháp cụ nào đó - có lẽ là một thứ có khả năng phá vỡ mọi lớp ngụy trang ma thuật - khiến cho hàng người di chuyển chậm như rùa bò. Người ta có thể nghe thấy tiếng những kẻ đang đợi trong hàng lầm bầm phàn nàn; đây đã là chuyện thường ngày ở mọi cổng thành trong vài ngày qua, và việc di chuyển giữa các thành phố đã trở nên vô cùng tẻ nhạt.

Mika bận rộn giữ cho đôi tay mình không rảnh rỗi bằng cách mân mê tấm thẻ thông hành bằng gỗ mà Cecilia đã đưa cho cô.

Chắc chắn họ sẽ không để mình cứ thế đi qua đâu nhỉ?

Cô không thể để bị phát hiện một cách cố ý. Việc cô bị lộ phải thật tự nhiên; nó phải là hệ quả của một tai nạn không thể tránh khỏi. Đó là lý do tại sao cô xếp hàng giống như bao người khác - như một kẻ đang cố gắng lặng lẽ chuồn đi mà không gây ra náo động.

Lượt của cô sắp đến. Với chỉ vài người còn đứng phía trước, người lính canh ngay cổng chính đã phát hiện ra Mika và đưa tay lên cằm. Anh ta thản nhiên rút một bản miêu tả từ túi áo ngực ra, nhưng liền ngẩng phắt lên với vẻ hoảng hốt sau khi đọc nó.

Ngay lúc này! Khoảnh khắc đối phương nhận ra, Mika liền lao vút khỏi hàng người.

"Này, chờ đã! Dừng lại ngay!"

"Có chuyện gì thế hả?!"

"Đứa con gái vừa chạy trốn kia khớp với miêu tả! Này, giữ nó lại!"

Một tiếng còi lanh lảnh vang vọng khắp các con phố, thông báo cho tất cả những ai trong tầm nghe biết rằng một đối tượng tình nghi đã được tìm thấy. Lính canh lập tức hành động mà không cần suy nghĩ nhiều để không bỏ lỡ cơ hội bắt giữ kẻ tình nghi đang chạy trốn. Giá như họ dành ra một thoáng suy ngẫm, họ sẽ nhận ra rằng một kẻ đang cố ý tránh né sự lùng sục sẽ chẳng đời nào xuất hiện trước các cổng thành với ngoại hình giống hệt như lúc mới trốn chạy cả.

Nhưng đối với lúc này, thế là quá đủ rồi. Bản năng bám rễ sâu trong trái tim họ gióng lên hồi chuông cảnh báo với bất kỳ ai dám bỏ chạy; điệp khúc còi báo động dồn dập sẽ kéo theo các đồng nghiệp của bọn họ đến hiện trường trong chớp mắt.

Mika lao vụt vào một con hẻm nhỏ, thi triển một phép thuật lên chồng hộp mà người lạ nào đó đã xếp gọn gàng: một vài chiếc vỡ vụn thành từng mảnh và làm tắc nghẽn cả lối đi.

"Hả?!"

"Cái quái gì thế này?! Suýt thì tiêu!"

"Chết tiệt, chúng ta không thể đuổi theo cô ta từ hướng này được! Vòng ra đường khác và gọi viện binh đi!"

Dù cảm thấy tội lỗi vì đã phá hoại tài sản của ai đó, Mika đành tự nhủ rằng họ hãy cứ chịu khó vì một cô gái vô tội, dù cho điều đó chẳng có ý nghĩa mấy đối với nạn nhân. Vừa chạy nước rút qua khu lao động nghèo, cô vừa băng qua con đường mà cô đã vạch sẵn trên đường ra cổng thành mà không giảm tốc độ dù chỉ một giây.

Những con đường cô chọn đều ngoằn ngoèo và chằng chịt lối rẽ, cung cấp các tuyến đường tẩu thoát ngay cả khi có một hoặc hai lối đi bị chặn đứng. Trong số đó, cô đã cẩn thận chọn ra những lối đi có mái hiên che hoặc các khoảng hành lang giữa các tòa nhà để che khuất tầm nhìn từ trên cao, đồng thời tận dụng triệt để những chướng ngại vật dễ vỡ nằm rải rác trên các lối đi ấy.

Những kẻ đang bám đuổi cô chắc hẳn phải cảm thấy vô cùng kỳ lạ: mục tiêu vốn là tiểu thư nhà quý tộc chưa từng phải động tay động chân vào việc gì, nhưng sao lại có thể đập nát toàn bộ những thùng gỗ chắc chắn ấy được cơ chứ?

"Hộc, hộc."

Mika thở dốc.

"Lối này bị chặn rồi; phải đổi hướng thôi."

Dù hiểu biết của kẻ trốn chạy về thành phố là rất rộng, đám người truy đuổi cũng chẳng phải dạng vừa. Công việc của bọn họ là bảo vệ sự bình yên của đế đô, và họ nắm rõ từng ngóc ngách con phố mà mình phụ trách như lòng bàn tay. Nếu một người bản địa Berylin muốn gia nhập lực lượng lính canh, họ phải có khả năng dẫn đường bằng miệng cho giám khảo qua từng quận mà không cần dùng đến bản đồ; dĩ nhiên, họ nhanh chóng đọc được quỹ đạo di chuyển của nàng Tivisco để tìm cách bao vây cô lại.

Khi tiếng còi báo động vang lên ngày một dày đặc hơn, Mika nhận ra họ đang dần thu hẹp khoảng cách. Cô đã lường trước điều này: lực lượng lính canh thành phố có thể lên tới hơn 1000 người, và ngay cả khi phần lớn ở lại vị trí để cố thủ, số lượng có thể điều động để truy đuổi cô cũng phải lên tới hàng trăm. Dù có cố gắng thế nào đi chăng nữa, họ sớm muộn gì cũng sẽ bắt được cô trừ phi cô đột nhiên có được khả năng đi xuyên tường.

"Ôi trời, bọn hô cũng có ở đây này!"

Nữ pháp sư cố gắng vượt qua một con phố lớn để ẩn nấp sang quận khác, nhưng cô có thể nghe thấy tiếng vó ngựa nện rầm rầm dội xuống mặt đường ngay sát miệng hẻm. Ngựa không thể di chuyển nhanh hơn tốc độ đi bộ trong đế đô; trừ khi thú cưỡi của ai đó nổi điên lên, đó chắc chắn là âm thanh của một đơn vị kỵ binh do nhà nước tài trợ.

Sức nặng từ việc lực lượng lính canh thành phố thả rông cả kỵ binh khiến trái tim Mika thắt lại vì sợ hãi, nhưng cô đồng thời cũng thầm biết ơn vì điều đó. Mỗi một tốp lính và ngựa tập trung quanh cô đồng nghĩa với việc sẽ có ít lực lượng làm phiền đến người bạn hiền cùng người bạn mới quen của cô đang tìm cách lẻn ra khỏi học viện hơn.

"Trời ạ, mình thật sự rất mừng vì đã bắt đầu tập thể dục đấy! Phù! Được rồi, chịu khó thêm chút nữa nhé!"

Tận dụng sự am hiểu địa hình cùng ma thuật chính xác đến mức khó chịu của mình, Mika tiếp tục né tránh số lượng lính canh và cấm vệ quân hoàng gia - dù rằng nếu phải đối đầu trực diện trong một trận chiến sòng phẳng, nhóm sau chắc chắn sẽ tóm gọn cô ngay lập tức. Khi cảm giác hưng phấn của người chạy nước rút dâng trào, khóe môi cô cong lên thành một nụ cười rạng rỡ.

Sở thích phiêu lưu và cưỡi ngựa của Erich đã thúc đẩy cô đánh bay cơn buồn ngủ mỗi buổi sáng để chạy bộ quanh Berylin; cuối cùng thì những bài huấn luyện cơ bản ấy cũng đơm hoa kết trái. Trong tinh thần hưng phấn tột độ, Mika tự thề với bản thân rằng cô sẽ không để bất kỳ kẻ nào bắt được mình, dù cô biết rõ con đường cụt đang ở ngay phía trước.

---

[Mẹo] Có ba cách để gia nhập lực lượng lính canh thành phố Berylin: những lính canh kỳ cựu từ các trung tâm đô thị khác có thể được tuyển chọn thủ công hoặc giới thiệu cho vị trí này, và người dân bản địa có thể tòng quân thông qua một chương trình khác. Những quý tộc có sức ảnh hưởng lớn nhất của Đế chế đều tập trung tại một địa điểm trong mùa chính trị và Hoàng đế ngự trị tại thành phố trong phần lớn thời gian trong năm, nên rất nhiều sự chú trọng được đặt vào kỹ năng và thể chất của họ.

Được thúc đẩy bởi mong muốn dẹp hoàn toàn nạn hối lộ và tham nhũng, mức lương của họ cao hơn nhiều so với lính canh hay cảnh vệ khác, nó sánh ngang với bổng lộc của các kỵ sĩ cấp vùng. Kết quả là, dòng người ứng tuyển cho vị trí này không bao giờ dứt, và hầu như tất cả đều bị từ chối. Trải qua quá trình tuyển chọn này chẳng khác nào chui qua lỗ kim là mấy.

---

Đơn vị Jager của Hoàng đế thuộc quân đội hoàng gia lớn lên cùng chính sự hình thành của Đế chế. Vị Hoàng Đế Sáng Thế Richard từng kiên quyết khẳng định rằng kết quả của chiến tranh xoay quanh độ chính xác của thông tin tình báo về quân địch. Vì lẽ đó, ông bắt đầu xây dựng một tổ chức gián điệp và tình báo có bài bản.

Vị Hoàng Đế Sáng Thế chỉ đòi hỏi đúng một thứ duy nhất: không phải lòng trung thành hay công lý, mà là ý chí phải sống sót trở về. Nếu tình huống đòi hỏi, ngài muốn những con người với cơ thể bằng thép rắn rỏi và trái tim lạnh giá như băng, những kẻ sẵn sàng vứt bỏ cả đạo đức lẫn bạn đồng hành để mang về cho ngài thông tin mà ngài cần.

Người ta kể rằng khi ngài nhìn xuống thần dân của mình, ngài nhận ra những thợ săn là chuyên gia về khả năng ẩn mình khi họ được trang bị sự nhanh nhạy cần thiết để đặt mạng sống của họ lên trên hết thảy mọi thứ. Từ đó, ngài bắt đầu chiêu mộ những người tiều phu và thợ săn, biến họ thành trinh sát để dẫn dắt quân đoàn của mình.

Đó là thời điểm trước khi Richard trở thành Hoàng Đế Sáng Thế, thậm chí còn trước cả những ngày tháng ngài được biết đến với danh hiệu Kẻ Chinh Phạt Nhỏ Bé, khi ngài chẳng là gì ngoài một thiếu niên tìm kiếm sự độc lập của riêng mình. Ngài lang thang khắp lãnh thổ của mình, tận dụng chút ít tài sản cỏn con để tập hợp một lực lượng gồm 15 thợ săn kiệt xuất. Họ chính là đôi mắt và đôi tai của ngài, họ mang về những bản báo cáo cần thiết mà không hề sai sót, đồng thời đóng vai trò to lớn trong hành trình vươn lên ngôi vị hoàng đế đầu tiên trên thế giới của ngài.

Chính vì thế, trong thời đại hiện đại, Đế chế Tam quyền vẫn tiếp tục vinh danh những người con ưu tú của mình với danh hiệu Jager; hễ tiếng gọi của nhiệm vụ vang lên, họ thậm chí còn hành quân thẳng ra tiền tuyến để định hình những chiến trường đầy hiểm nguy, không bị ràng buộc bởi các chiến thuật danh dự truyền thống.

Giờ đây, một người quan sát tinh tế có thể sẽ nhận xét rằng chẳng có nhiệm vụ nào được nhắc đến ở trên thực sự đòi hỏi chuyên môn săn bắn cả. Sự đồng thuận hiện đại giữa các sử gia xứ Rhine là Richard lúc bấy giờ đã phải vơ vét bất kỳ và tất cả binh lính nào mà ngài có thể tìm thấy, đồng thời hứa ban lệnh ân xá cho một băng cướp để đổi lấy sự phục vụ; việc gọi họ là ‘Jagers’ hóa ra chỉ là một lớp vỏ bọc để hợp thức hóa khía cạnh pháp lý.

Dù sự thật là gì đi nữa, đó cũng là lịch sử đã chìm sâu dưới năm thế kỷ. Những Jager của ngày nay được ca tụng là trinh sát thành thạo nhất trong toàn Đế chế… Nhưng uy danh đó không giúp ích được gì cho họ khi phải mò mặt xuống tận sâu trong hệ thống cống ngầm.

"Thần linh ơi, độ ẩm này làm mũi tôi chịu hết nổi rồi…"

"Chuẩn luôn. Tôi không tài nào chịu nổi cái mùi này. Sao nhân tộc có thể sống nổi ở cái chỗ này cơ chứ?"

Các Jager luôn làm việc theo cặp, ít nhất là vậy. Cặp đôi Werewolf và Gnoll [note111026] khụt khịt cái mũi nhạy bén đang bị không khí ẩm ướt làm cho quá tải; nhiệm vụ lùng sục một Vampire khó hiểu này đã khơi mào không ít lời phàn nàn.

Trong số mọi chủng tộc, Werewolf và Gnoll tạo nên những trinh sát cừ khôi nhất. Không chỉ sở hữu thể chất ấn tượng, khả năng tiêu thụ thịt sống một cách an toàn còn giúp họ tự túc được nguồn lương thực trong những chuyến thám hiểm hoang dã dài ngày, và cấu trúc cơ thể của họ cho phép di chuyển sát mặt đất với tốc độ chóng mặt trong những khoảng thời gian kéo dài.

Hơn hết thảy, chiếc mũi nhạy cảm cho phép họ nắm bắt các manh mối khứu giác theo những cách mà một Mensch chẳng dám mơ tới. Khả năng phân biệt giữa các mùi hương và ghi nhớ chúng của họ có thể sánh ngang với các học giả ma pháp - chỉ cần nói vậy là đủ hiểu, giống loài của họ chiếm tới một phần ba tổng số lượng cấm vệ quân hoàng gia.

"Mẹ nó, bắt chúng ta chui xuống đây chẳng khác nào một trò đùa ác cả. Chẳng có tiểu thư nhà quý tộc nào lại đi chui vào cái cống ngầm chết tiệt này."

"Nín cái mỏ lại nào. Cậu quên mất bao nhiêu lần bọn đó đã rủa xả bên tai chúng ta trong mấy buổi sàng lọc rằng không bao giờ được phép loại trừ bất cứ khả năng nào à?"

"Ừ, thì thôi được, rõ rồi. Nhưng mà này, thế quái nào lại bắt chúng ta ra đây vì một cơ hội một phần triệu thế này chứ? Đã ba ngày rồi đấy. Tôi cá là cô ta chuồn đi từ đời nào rồi ấy chứ."

Tên Gnoll nhăn mũi cằn nhằn; Werewolf đồng hành liền mắng hắn, dù thực tế là bản thân gã cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Cặp đôi lần theo dấu vết mờ nhạt của mùi hương con người và tiếp tục lang thang trong hệ thống cống ngầm.

Vì những nỗ lực trên mặt đất của họ không đem lại kết quả nào, họ không thể loại trừ khả năng mục tiêu tẩu thoát bằng đường ngầm. Tỷ lệ này thấp đến mức không thể tả, nhưng cấp trên vẫn phải cử người xuống, và hai kẻ này chính là những thành viên kém may mắn trong đội hình đó.

Bọn họ đã lê lết qua những đường ống đầy chất bẩn và lội qua những mùi hôi thối kinh tởm lan tỏa khắp nơi suốt ba ngày ròng rã, nhưng họ vẫn chưa tìm thấy bất cứ thứ gì. Thỉnh thoảng, họ lại bắt được thoang thoảng mùi của con người, nhưng cuối cùng hóa ra lại là đám mạo hiểm giả - dù rất hiếm hoi ở đế đô - tham gia vào cuộc tìm kiếm, hoặc các sinh viên học viện làm thêm giờ để bảo trì các cơ sở hạ tầng.

Chính xác là chỉ có đúng một đơn vị khác lập được công trạng: rõ ràng là họ đã tóm gọn một băng tội phạm ẩn náu dưới cống ngầm. Ngoại trừ việc đó ra, chưa có một Jager nào tìm thấy bất kỳ dấu vết chuyển động hay sinh hoạt nào trong khu vực này - dù rằng đây vốn chẳng phải là nơi chốn sinh sống được.

Độ ẩm khó chịu đến mức làm ướt cả lớp lông kháng nước, và mùi hôi thối thì khỏi phải bàn; nhưng vấn đề thực sự ở chỗ Học Viện Hoàng Gia lại nuôi một đám sinh thể nhầy nhụa sống làm thú cưng. Mấy thứ quái quỷ đó cứ bò lổm ngổm khắp các đường ống để tìm kiếm chất bẩn suốt cả ngày lẫn đêm.

Chạm trán với những con nhỏ có lẽ chỉ gây ra vết bỏng nhẹ, nhưng rơi vào nanh vuốt của con lớn nhất thì chắc chắn sẽ đi gặp thần linh. Ngay cả khi ai đó trốn thoát được trước khi bị thiêu sống, họ chắc chắn cũng sẽ không đủ điều kiện để xuất hiện trước công chúng trong suốt phần đời còn lại; một tấm vé nghỉ hưu sớm đến trại thương binh là điều đã được đảm bảo.

Cặp đôi đã phải hứng chịu mùi hôi thối tấn công cái mũi nhạy cảm của mình trong khi né tránh đám Smile khó ưa đó suốt mấy ngày trời, và họ chẳng thu lại được chút thành quả nào. Ngay cả những người lính trung thành và kiên định nhất cũng khó lòng tránh khỏi việc thốt lên vài lời phàn nàn khi tình hình tồi tệ đến thế này.

Nhưng một kẻ có kỹ năng bị lung lay bởi thứ tầm thường như sở thích cá nhân thì sẽ chẳng bao giờ trở thành một Jager từ đầu. Dù họ cứ càu nhàu qua lại với nhau, những tay lão luyện này vẫn luôn thể hiện phong độ tốt nhất dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào.

Bỗng nhiên, đôi tai của cả hai cùng giật bắn lên khi nó bắt trọn một âm thanh quá đỗi mờ nhạt đối với tai người thường: hai nhịp bước chân đang dội vọng qua các ống dẫn. Đối với những kẻ săn mồi sừng sỏi này, âm lượng phát ra nói lên trọng lượng của người đi, và khoảng cách giữa các bước chân đã tố cáo độ dài sải bước của họ; kết hợp lại, việc phác họa trong đầu hình ảnh về đối phương là chuyện dễ như trở bàn tay.

Cả hai đều đi bằng hai chân, và suy luận ngược từ trọng lượng lẫn sải bước cho thấy đó là một cặp thiếu niên nhân tộc. Tiếng lách cách kim loại nhẹ cho thấy họ có mang theo chút áo giáp, và một trong số họ có bước đi vững vàng, hầu như không thể phát hiện ra của một kẻ được huấn luyện; kẻ còn lại kém chuẩn xác hơn và tỏ ra hoàn toàn mù tịt về cách che giấu sự hiện diện của bản thân. Nhịp điệu và âm sắc khi bàn chân tiếp đất chỉ ra đó là hai đàn ông.

Hai trinh sát hoàng gia liếc nhìn nhau và lập tức lao vút đi. Dù họ có càn nhằn bao nhiêu về việc bộ bờm óng ả của mình bị bám đầy nước ẩm thành một mớ giẻ lau thảm hại đi chăng nữa, họ vẫn là những thợ săn kiêu hãnh của Hoàng đế. Tỷ lệ thành công là vô cùng mong manh, nhưng ngay cả cơ hội nhỏ nhoi nhất cũng đáng để điều tra mà không được phép lơ là dù chỉ một chút. Khi tăng tốc đến cực hạn, họ tựa như những mũi tên được buông dây - nó không thể dừng lại cho đến khi tìm thấy mục tiêu.

Họ băng qua những hành lang chật hẹp, vút lên dốc, rồi nhảy vọt qua một đoạn dốc xuống chỉ trong một nhịp để tìm ra nguồn gốc của âm thanh. Họ nhảy tót qua những dòng nước đang chảy, và ở những nơi không có lối đi, móng vuốt của họ cắm sâu vào tường để duy trì tốc độ tối đa. Dù một người bình thường sẽ phải chật vật lắm mới theo dõi kịp họ bằng mắt thường, điều đó chẳng có gì đáng tự hào đối với họ cả; đó là chuyện hiển nhiên. Nhiêu đây thôi thì vẫn chưa đủ để gọi một người là Jager thay vì chỉ là một trinh sát thông thường.

Mặc dù có mùi hôi thối khắp nơi, mùi của Mensch vẫn sộc thẳng vào mũi họ một cách rõ mồn một; Mensch giấu mùi kém chẳng khác gì cách họ giấu bước chân vậy. Trên thực tế, chủng Mensch thường hay thích thú nghịch ngợm với những mùi hương nồng nặc khiến cho các á nhân có khứu giác nhạy bén phải ôm đầu khó hiểu và bực bội.

Tuy nhiên, khi mùi hương ngày càng đến gần, cả hai nghiêng đầu thắc mắc: cả hai mùi hương đó đều thuộc về các thiếu niên Mensch. Với trái tim đầy nghi ngờ, họ lao vút ra hành lang để kiểm tra cho chắc chắn và quan sát hai kẻ đang có mặt ở đó.

Người đầu tiên là một thiếu niên tóc vàng có mái tóc dài hơn so với tiêu chuẩn của Đế chế, được bện gọn gàng để không bị vướng vào bộ áo giáp da. Trông cậu ta có vẻ như một mạo hiểm giả tập sự, và dù không mang vũ khí - đương nhiên rồi, vì họ đang ở trong phạm vi thành phố - họ vẫn có thể nhận ra từ bước chân và tư thế rằng cậu ta chuyên về kiếm thuật.

Núp phía sau cậu ta là một thiếu niên khác mặc trang phục áo choàng quen thuộc của giới học giả ma pháp: nhìn kiểu gì cũng thấy đây là một học viên. Cậu ta vác trên vai một chiếc túi đầy ống nghiệm chứa những chất lỏng kỳ lạ và tay cầm một bản đồ đường hầm. Đây chắc chắn không phải là lần đầu tiên họ chạm trán với một học viên nghèo khổ được giao nhiệm vụ dọn dẹp cống ngầm đầy éo le y như thế này.

Việc có một cặp Jager từ trên tường nhảy phắt xuống lối đi ngay trước mặt khiến hai cậu bé giật mình thon thót; cậu nhóc mặc giáp lao lên che chở cho người bạn đồng hành, nhưng lập tức đứng nghiêm thu mình lại ngay khi nhìn thấy quân phục của những kẻ vừa xuất hiện.

Với phần cổ áo ngắn, chiếc áo khoác màu đen sẫm và chiếc quần rộng thùng thình cùng màu có thể nhận ra ngay lập tức, thậm chí chẳng cần đến chiếc áo choàng mang huy hiệu của họ. Sẽ chẳng có công dân Berylin nào cần phải nhìn lần thứ hai. Đó là màu đen của lòng trung thành, thứ sắc màu không một loại thuốc nhuộm nào có thể làm phai mờ, và những đường kim mũi chỉ tinh xảo thổi hồn vào bộ đồng phục thoạt nhìn có vẻ tẻ nhạt ấy đã chứng minh họ là ai; họ chính là những người hùng trong lòng bất kỳ cậu thiếu niên nào coi kinh đô là nhà.

"Cấm vệ quan hoàng gai?! Sao các anh lại ở đây cơ chứ?!"

Bọn họ đã quá quen với việc nhận được những ánh mắt lấp lánh sự ngưỡng mộ như thế từ đám thiếu niên. Trong lúc tâm trí của vị học giả ma pháp vẫn chưa kịp định thần lại, cậu kiếm sĩ nhỏ tuổi rõ ràng là một fan cuồng thực thụ.

Lại nhầm nữa rồi,

họ thầm thở dài. Dù sao thì, đây cũng chỉ là một phần của công việc; các Jager nở nụ cười thân thiện nhất và xin hai cậu nhóc chút thời gian.

---

[Mẹo] Lính nghĩa vụ chiếm phần lớn lực lượng quân đội Đế chế, và Đế chế không áp đặt quy định trang phục nghiêm ngặt nào đối với các binh sĩ thông thường của họ. Họ được kỳ vọng sẽ tận dụng trang thiết bị bằng vải hoặc da khi có sẵn, và những người giàu có hơn trong số họ sẽ mua áo giáp xích hoặc mũ sắt trong khi gắn một huy hiệu biểu tượng lên nửa trên cơ thể.

Đương nhiên, cận vệ riêng của Hoàng đế và lính canh của một số thành phố cũng phục vụ cho các vai trò phô trương đòi hỏi một bộ đồng phục chỉnh tề. Kể từ bình minh của nhân loài, con người đã lãng mạn hóa sự đồng bộ dưới quyền chỉ huy. Do đó, các cấm vệ quân hoàng gia khoác lên mình bộ trang phục đặc biệt và diễn tròn vai những người lính hoàn hảo; suy cho cùng, có lẽ họ chính là tấm khiên phù hợp nhất để bảo vệ kinh đô của sự phù phiếm.

Bạn đã đến cuối chương 77.

Không gian đọc của bạn