Chương 76 · 102 chương

Cuối mùa xuân năm thứ 13 II - Phần 4

Cecilia vốn được bảo bọc kỹ lưỡng hết mực, và cô đã dành phần lớn cuộc đời mình để cố thủ trong một tu viện. Cô trải qua những ngày tháng tôn kính Nữ Thần Màn Đêm, cầu nguyện trong thánh địa thanh bình của Ngài, và noi theo ân huệ của Ngài bằng cách phụng sự người dân trên vùng đất này. Dù lối sống ấy thanh bình đến thế, nó lại khá tẻ nhạt và thiếu vắng những bất ngờ.

Những bài thánh vịnh cô cất lên cũng chính là những giai điệu mà cô đã hát hàng trăm nghìn lần trước đó. Những ngày tháng học tập các câu châm ngôn và cứu tế cho tín đồ cùng người nghèo là một quý trình lặp lại vĩnh cửu theo một lịch trình cố định.

Tuy nhiên, cuộc sống tại giáo hội, thứ mà với một số người có thể là hình ảnh thu nhỏ của sự chán ngắt, lại không hề tệ chút nào đối với Cecilia. Ở miền Nam Rhine, cách xa cả đế đô lẫn thủ phủ khu vực, trên đồi Fullbright - dù người ta vẫn hoài nghi liệu ngọn núi cao 2400 mét này có thực sự nên được gọi là một quả ngọn đồi hay không - cô thấy mình đang dẫn dắt một cuộc đời mà chính cô đã chọn để sống.

Đúng, cô đã đặt chân đến đó theo lệnh của bố mẹ mình, nhưng theo thời gian, những khao khát của chính cô đã chuyển dịch để hòa hợp với điều đó. Một cuộc đời cầu nguyện thành khẩn và đức tin trọn vẹn dành cho Nữ Thần hóa ra lại là một cuộc đời tốt đẹp biết bao. Không từ ngữ nào có thể diễn tả được sự mãn nguyện êm dịu đã bao trùm lấy cô trong những khoảnh khắc cô thực sự cảm nhận được vòng tay ấm áp và dịu dàng của Mẫu Thần.

Cảm giác này là một thứ mà tất cả ngoại trừ những Vampire thuần huyết không thể nào thấu hiểu nổi, nó là một sự thỏa mãn và tĩnh lặng chỉ giới hạn ở những kẻ sinh ra với tội lỗi nguyên thủy, những kẻ bị cái chết từ chối. Đôi khi, tử thần chính là sự giải thoát; ngài chính là sự tha thứ. Than ôi, không lời giải thích nào có thể đủ cho trí óc của người phàm, cũng giống như việc những kẻ bất tử không bao giờ có thể hiểu được nỗi sợ hãi tột cùng trước sự già đi của các giống loài kém cỏi hơn.

Cô không đời nào có thể coi một cuộc đời tràn đầy sự bình yên, thứ vốn vắng bóng trong những thành phố trần thế, là một cuộc sống tồi tệ cả. Dù những người khác thương hại cho sự sa sút của cô khi chuyển từ sự xa hoa hưởng lạc xuống những bộ trang phục và bữa ăn đạm bạc, Cecilia vẫn trân trọng trạng thái bình yên này hơn bất kỳ cọc tiền vàng nào.

Dù vậy, cuộc sống của cô sau khi đến đế đô và được triệu gọi đến bên cạnh bố mình lại là một chuỗi những điều ngạc nhiên không dứt và ngập tràn sự phấn khích.

Không phải là cô nghĩ điều này tốt hơn điều kia. Nhưng trong ba ngày ngắn ngủi kể từ khi lén nghe được những lời thì thầm của các hầu gái và trốn khỏi nhà, hai người bạn của cô đã mang lại cho cô nhiều điều kỳ diệu và kịch tính hơn tất cả những năm tháng của cô trong giáo hội cộng lại.

Cô đã chạy trên những mái nhà để trốn tránh kẻ truy đuổi; cô đã lẻn vào cống ngầm, để rồi chứng kiến trận chiến sinh tử đầu tiên của mình; cô đã hóa trang và ẩn mình trong Hành Lang Pháp Sư, thậm chí còn đặt chân đến Học Viện Hoàng Gia - một nơi mà cô trước đây chỉ được nghe kể qua lời người khác. Mọi thứ đều hoàn toàn mới mẻ đối với cô, và dòng thông tin chưa qua sàng lọc ấy đã thắp lại sự tò mò vốn đã ngủ quên trong cô từ lâu.

Ngay cả lúc này, cô vẫn muốn đứng dậy và khám phá bất kỳ nơi nào mà đôi chân có thể đưa cô tới. Lý do duy nhất khiến cô không làm vậy là vì lời thỉnh cầu từ cậu thiếu niên chế tác quân cờ đã cứu mạng cô, cậu ấy bảo cô hãy ở yên một chỗ, trao cho cô một cuốn sách giải đố Ehrengarde và xếp cô ngồi trong phòng của em gái cậu với đôi mắt rưng rưng.

Và tất nhiên, làm sao chúng ta có thể quên được cậu thiếu niên ấy chứ? Nếu không nhờ có cậu ấy, Cecilia đã bị kéo lê về dinh thự từ đời nào rồi. Cô đã ngã xuống con hẻm bị ánh hoàng hôn nhuộm cam ấy, và đầu cô hẳn đã nổ tung như một quả sung chín ép. Việc bị chặt đầu không mang lại sự diệt vong cho Vampire, nhưng cả Mặt Trời và Mặt Trăng lúc bấy giờ đang tranh giành quyền kiểm soát bầu trời; quá trình tái sinh của cô sẽ diễn ra rất lâu. Ngay cả một kẻ thuần huyết như cô cũng sẽ bị tóm gọn trước khi kịp lấy lại ý thức.

Cecilia đã suýt chết lần đầu tiên trong một thành phố xa lạ, suýt kết thúc cuộc đời mình cùng với tận cùng của sự sống.

Nhưng sự thật không phải vậy. Đỡ lấy cô trong vòng tay dịu dàng, hai con người ấy đã xuất hiện.

Đó chính là cậu thiếu niên mà cô đã từng đấu trí qua bàn cờ không biết bao nhiêu lần. Dù sở hữu mái tóc đẹp cùng đôi mắt mèo con, cậu ấy lại là một kẻ ngỗ ngược ranh mãnh trong các trò chơi của họ, và cô thường xuyên lui tới sạp hàng của cậu với quyết tâm đánh bại cậu cho bằng được đối phương.

Cậu thiếu niên ấy vô cùng tốt bụng. Cậu là một quý ông vượt ngoài sức tưởng tượng từ những trò đùa của mình, thậm chí còn đi xa đến mức bảo vệ cô trong khi cả hai chẳng có bất kỳ mối liên hệ nào - tất cả đều không mảy may suy nghĩ về số phận có thể đang chờ đợi một thường dân cả gan xen vào chính trị của giới quý tộc để sửa chữa sai lầm của một cuộc hôn nhân không mong muốn. Không dừng lại ở đó, cậu thậm chí còn gánh vác cả sự nguy hiểm khi che chở cho cô trong chính dinh cơ của sư phụ mình mà không hề có một chút do dự nào.

Đi cùng với cậu ấy là vị pháp sư có mái tóc đen nhánh. Xuất thân từ một chủng tộc độc đáo không kém gì Cecilia, họ đã chấp nhận cô như một người bạn. Ma thuật của họ không chỉ che chở cho cô, mà họ còn tạo ra một con đường dẫn đến nơi an toàn khi tưởng như chẳng còn lối thoát nào khác.

Chắc chắn rồi, ấn tượng đầu tiên mà cô để lại không thể gọi là tốt đẹp gì. Nếu không có Cecilia, cả Mika và Erich hẳn đã có thể vui vẻ tận hưởng những ngày tháng của mình sau khi ngâm mình thoải mái trong một nhà tắm công cộng. Nếu muốn, họ thậm chí có thể ngăn cản người bạn của mình dấn thân vào con đường nguy hiểm; cô đã ngay lập tức nhận ra rằng mối liên kết giữa bộ đôi này là thứ mà một cô gái vừa rớt từ trên trời xuống không thể nào lay chuyển nổi.

Thế nhưng, họ đã không làm thế. Sắc đen tuyền không hề chối bỏ những hành động của sắc vàng lấp lánh; thay vào đó, họ chọn cách bảo vệ bóng tối thẫm sâu của màn đêm.

Dù đôi bên thiếu vắng áo giáp và những con chiến mã của các kỵ sĩ trong truyền thuyết, nhưng khi họ kéo cô đi về phía trước, Cecilia nghĩ rằng họ chính là những người hùng mà các thi sĩ vẫn thường ca tụng. Việc vứt bỏ tất cả vì một kẻ đang hoạn nạn, vì một cô gái đơn độc gặp rắc rối chính xác là những chất liệu làm nên các sử thi ấy.

Vị tha và nhân hậu, họ tự nguyện dấn thân để giúp cô vượt qua nghịch cảnh. Họ từ chối bỏ rơi cô sau khi biết về nguồn gốc của cô; họ vẫn ở lại dù cô thuộc về một giống loài mà càng tìm hiểu người ta lại càng dễ chê ghét.

Cecilia là một Vampire, hậu duệ của một Mensch có câu chuyện được lưu truyền trong một ngụ ngôn tai tiếng, Kẻ Đã Lừa Dối Mặt Trời. Sau khi lừa Thần Mặt Trời ban cho mình sự bất tử, vị Vampire nguyên thủy đã hứng chịu cơn thịnh nộ của người bố thần thánh, phải mang theo lời nguyền khiến dân tộc của hắn phải cháy bỏng và phồng rộp dưới ánh sáng của Ngài mãi mãi về sau. Không có sự bảo vệ của bóng râm, lời nguyền của Ngài sẽ làm tan chảy da thịt và xương cốt, và cuối cùng thậm chí sẽ biến cả linh hồn họ thành tro bụi.

Thành thật mà nói, lời nguyền này vẫn có thể chịu đựng được. Trên thực tế, Nữ Thần Màn Đêm mà Cecilia tôn thờ đã quở trách nửa kia của Ngài và tuyên bố rằng kẻ bị lừa cũng có một phần lỗi. Khi Ngài xuất hiện trên bầu trời, lời nguyền sẽ suy yếu đi; khi Thần Mặt Trời nhường lại quyền cai trị hàng ngày của mình, Vampire hoàn toàn lấy lại được bản chất bất tử của họ.

Nhưng lời nguyền còn lại mới thực sự là thứ đau đớn tột cùng.

Hình phạt của vị thần bảo hộ được tuyên thế này: hãy uống trực tiếp từ những dòng suối ấm áp chứa mật ngọt đẫm máu mà Ngài đã tạo ra, bằng không sẽ phải chịu đựng cơn khát vĩnh hằng.

Một số người ban đầu có thể cho rằng đây là một sai lầm; tại sao lại không làm ngược lại và tước đi quyền tiếp cận các tạo vật của Ngài? Tuy nhiên, bất chấp những xu hướng bốc đồng của Thần Mặt Trời, Ngài không hề ngu ngốc; Ngài biết rằng bằng cách buộc sự cứu rỗi duy nhất khỏi cơn khô hạn của họ với xung đột, Ngài có thể kìm hãm quyền lực của dân tộc bị nguyền rủa. Sự hạn chế này chính là lý do tối thượng khiến Vampire không thể vươn lên thống trị bá quyền, mà bị bó buộc vào một số phận cai trị hợp lý với tư cách là những nhà chính trị của các quốc gia hòa bình.

Không có những dân cư đông đúc để làm nguồn thức ăn, họ sẽ phải đối mặt với sự diệt vong cùng con mồi của mình. Nếu họ khuất phục trước những bản năng thấp hém nhất, khối ma lực thuần túy nằm cạnh trái tim đang đập sẽ làm vấy bẩn linh hồn và biến họ thành những con dã thú; cứ làm vậy, họ sẽ trở thành kẻ thù của tất cả loài người, bị giáng cấp từ con người thành những con quái vật cần phải bị đuổi tận giết tuyệt dưới ánh mặt trời.

Lời nguyền bám rễ sâu vào bản năng của Vampire, bẻ cong sở thích và ham muốn tội lỗi của họ theo những cách mà không sinh thể nào khác có thể trải nghiệm được. Cơn khát thật khủng khiếp - họ không thể chết. Dù có khô cạn hay chết đói đến thế nào đi nữa, Thần Mặt Trời vẫn từ chối thu hồi món quà bất tử của Ngài; rốt cuộc thì, họ sẽ phải chịu đựng nhiều hơn theo cách này.

Khoảng thời gian trước khi một Vampire bất kỳ bắt đầu thấy đói có sự khác nhau, và lòng sùng kính của Cecilia dành cho Mẫu Thần đã được đền đáp bằng một khoảng thời gian tĩnh dưỡng đặc biệt dài. Nếu những kẻ khác phải ăn một lần mỗi tháng, cô có thể dễ dàng duy trì nửa năm; nếu cô quyết tâm nhịn ăn, cô có thể chịu đựng vài năm mà không bị mất đi lý trí.

Đáng tiếc thay, tình hình lúc bấy giờ không còn như vậy. Đã khá lâu kể từ lần cuối cô nhận sự bố thí từ một giáo dân, và đáng lẽ cô đã được thưởng thức bữa tiệc thịnh soạn được tổ chức tại biệt thự của bố mình. Việc trốn chạy đã tước đi cơ hội tham dự của cô, và sự kiệt sức gần đây đồng nghĩa với việc cơn thèm khát của cô đã tăng vọt vào thời điểm cô bị giấu đi.

Đó là một sự tra tấn. Trong khi tất cả mọi người sinh ra đều hiểu được nỗi đau của sự đói khát, thì cơn đói của chủng Mensch không thể nào sánh bằng sự kinh hoàng từ cơn khát của Vampire. Một Mensch có thể đói tới mức da bọc xương, có thể điên cuồng đến mức cắm phập răng vào chính đứa con mới sinh của mình, nhưng họ vẫn sẽ không thể thấu hiểu được nỗi đau ấy. Đó chính là cội nguồn của việc phân loại Vampire như những sinh vật ma quỷ; tất cả sự điên loạn của họ đều xoay quanh vấn đề sinh tồn và thức ăn.

Dù cho Cecilia đã cố gắng tỏ ra kiên cường đến đâu, cậu thiếu niên tinh tế ấy vẫn nhận ra cô ngay tức khắc. Cậu rất am hiểu về những hoàn cảnh ngặt nghèo độc đáo của vô số chủng tộc trên thế giới này, có lẽ là nhờ vị trí gần gũi với học viện, và chắc hẳn đã chắp nối được mọi chuyện sau khi quan sát thấy sự vật lộn của cô.

Khi tỉnh dậy vào lần tiếp theo, cô rời khỏi chiếc ghế dài mà mình đang mượn để tìm thấy một ly rượu đầy ắp máu tươi. Cô không lãng phí thời gian cho những câu hỏi ngớ ngẩn như đó là máu của ai. Chỉ có hai nguồn mật ngọt ấm áp hiện diện, và thậm chí chỉ cần khoảng thời gian ngắn ngủi bên nhau cũng đủ để cô biết rằng người anh trai cưng chiều em gái đến mù quáng ấy sẽ không bao giờ làm đổ dù chỉ một giọt máu của chính em mình.

Việc cậu không nói gì và vờ như không biết đã nói lên vô số điều không lời về tính cách của cậu cũng như của những người đã nuôi dưỡng cậu. Cậu biết rằng Vampire Đế chế coi hành động hút hoặc uống máu là một điều vô cùng bất lịch sự: chỉ trong các bữa tối với bạn bè thân thiết và gia đình, hoặc trong sự thoải mái của một căn phòng kín đáo, họ mới dám dùng đến, và phải trốn tránh trong những bóng râm khuất tầm mắt. Văn hóa ẩm thực của Vampire Đế chế vốn là một vấn đề hoàn toàn tẻ nhạt.

Tất nhiên là họ cũng có thể ăn các loại thực phẩm thông thường, và họ có thể để cơn say ru ngủ mình. Tuy nhiên, thứ duy nhất có thể làm dịu đi cơn đói khát nguyên thủy nhất chính là sắc đỏ đang lơ lửng trong chiếc cốc này.

Hiểu rõ gánh nặng của giống loài cô, cậu thiếu niên đã chọn cách tiến thêm một bước vượt ra ngoài việc chỉ đơn thuần là cứu vớt tương lai của Cecilia: cậu ban ơn cho cô bằng chính nguồn huyết mạch của bản thân.

Đối với một pháp sư, máu là thứ vô giá. Nó đóng vai trò là chất lưu thông ma lực bên trong cơ thể và là chất xúc tác cho các phép thuật; rất ít kẻ chịu đem nó đi cho dưới bất kỳ hoàn cảnh nào. Càng nghiên cứu nhiều về ma pháp, người ta càng nhận thức rõ hơn về cái giá và sự nguy hiểm khi giao phó nó cho người khác.

Nhưng cô lại đang ở đây, cầm trên tay một cốc đầy ắp thứ đó - một lượng không hề nhỏ theo bất kỳ tiêu chuẩn nào. Cô thậm chí còn chưa hề mở lời xin xỏ, vậy mà nó lại xuất hiện ở đây chẳng mảy may nhắc đến một lời cảm ơn được mong đợi.

Dòng máu vừa đậm đà lại vừa ngon tuyệt. Thường phản ánh những gì đã được dung nạp vào cơ thể một người, cho dù đó là thức ăn, đồ uống hay chính bầu không khí họ hít thở, đường dẫn truyền ma lực dạng lỏng ấy đã tiết lộ nhiều điều hơn cả sổ hộ tịch tại giáo hội.

Lưỡi của Cecilia tê dại đi, và cô giật mình co giật trong sự thích thú. Nó còn trẻ trung, khỏe mạnh, và tràn ngập năng lượng ma thuật; nó mang lại một sự kích thích không giống bất kỳ trải nghiệm nào khác mà cô từng có. Hương vị vừa dịu dàng lại vừa bùng nổ, khiêu vũ trên đầu lưỡi cô theo cách mà chỉ máu của Mensch mới có được. Khi trôi xuống cổ họng, nó để lại một dư vị phong phú và bừng sáng.

Khi nghĩ đến việc thứ bên trong chiếc ly xuất hiện từ cơ thể của một cậu thiếu niên, nó có vẻ quá mức, nhưng cô đã uống cạn nó chỉ trong chớp mắt. Gạt bỏ sự khiêm nhường và đức hạnh nghèo khó mà Nữ Thần Màn Đêm ủng hộ, cô tham lam liếm láp những giọt còn sót lại bám trên thành cốc với cặp nanh hở ra một cách táo bạo.

Cecilia sẽ không bao giờ có thể quên được nỗi nhục này. Việc đánh mất bản thân đến mức đặt sự tham ăn lên trên phép tắc không phải là chuyện của một người tu hành hay quý tộc; cô khó lòng mà tự coi mình là một Vampire nữa. Việc ngước nhìn chiếc ly rượu hoàn toàn sạch bóng sau đó với ánh mắt luyến tiếc là một sự hổ thẹn không gì sánh bằng. Cứ đà này, cô sẽ hoàn toàn xứng đáng với cái tên miệt thị được dùng ở nước ngoài: cô chẳng khác nào một kẻ hút máu.

Cô ném mình vào một câu đố Ehrengarde cực kỳ phức tạp và xốc lại tinh thần. Đẩy chiếc ly cạn mà cô không nỡ rời mắt sang một bên, cô tự vực dậy bản thân để chào đón cậu trở về với tư cách là một nữ tu sĩ thực thụ.

Cậu thiếu niên sẽ về đến nhà sau khi mua sắm bất cứ lúc nào. Cecilia sẽ phải giải thích về cách cô dự định trốn thoát, nên cô cần phải dọn sạch tâm trí, giữ cho bản thân thật điềm đạm, và đảm bảo không có suy nghĩ đáng xấu hổ nào…

“Bọn tớ về rồi đây! Trời ơi, trời bắt đầu nóng lên rồi đấy.”

Quân cờ hoàng hậu trên tay cô rơi xuống bàn, hất văng vị cận vệ trung thành và hiệp sĩ đang chờ sẵn phía dưới, đồng thời làm đổ sụp cả một lâu đài vững chắc trong tích tắc. Thảm họa trên bàn cờ phản ánh hoàn hảo trạng thái bấn loạn của cô.

Kết thúc mùa xuân là thời tiết ấm áp; thời tiết ấm áp đi kèm với chiếc cổ áo hé mở; và chiếc cổ áo hé mở lại để lộ phần cổ của cậu thiếu niên, một thứ gợi cảm đến mức khó cưỡng.

---

[Mẹo] Ở Đế chế Tam Quyền, việc dùng nanh cắn trực tiếp để hút máu từ con mồi bị coi là bất lịch sự; thay vào đó, Vampire uống máu được rót ra từ ly. Truyền thống này xuất hiện như một phương tiện làm dịu đi những nỗi sợ hãi ban đầu của đế quốc về bản chất săn mồi của họ.

Tuy nhiên, có một ngoại lệ dành cho ‘người thương’ - một đối tác đặc biệt cho phép Vampire cắm nanh vào da thịt mà không gặp trở ngại nào.

---

Mika và tôi quay trở lại phòng thí nghiệm và thấy nữ Vampire của chúng tôi đang trong trạng thái hoảng hốt. Vẫn còn hơi sớm để cô ấy thức dậy, nhưng có lẽ môi trường lạ lẫm khiến cô ấy cũng khó chợp mắt. Trông có vẻ như cô ấy đang bận rộn với cuốn sách giải đố Ehrengarde trung cấp mà tôi mang theo để giết thời gian, và đánh rơi quân cờ trong tay ngay khi nhìn thấy tôi.

Hả? Trông mình buồn cười lắm à?

Tôi đã cẩn thận lau qua người để không xuất hiện trước một tiểu thư dòng dõi quyền quý mà lại ướt đẫm mồ hôi, và tôi cũng đã dùng phép Dọn Dẹp cho quần áo của mình để chắc chắn rằng bản thân không có mùi kỳ lạ. Có lẽ đã đến lúc tôi nên bắt đầu sử dụng một số phụ gia cho phép thuật này để tự ướp cho mình một thứ nước hoa dễ chịu sau đó rồi.

“Ừm.”

Tôi thận trọng lên tiếng.

“Có chuyện gì không ổn à?”

“K-Không! Không có gì đâu! Chào mừng hai cậu về nhà!”

Tôi đã nghĩ rằng tốt nhất là nên dò hỏi về những lỗi lầm của mình để làm bài học cho tương lai; đáp lại, tiểu thư Celia dùng cuốn sách giải đố đập thẳng vào mặt nhanh đến mức để lại cả ảnh ảo.

Cũng phải thôi, tôi đoán vậy: chỉ ra khuyết điểm của ai đó quả thực rất ngượng ngùng.

“Miễn không phải chuyện gì quan trọng…”

Tôi thừa biết đó chắc chắn là chuyện quan trọng, nhưng tôi đành lờ đi và bắt đầu dỡ hành lý. Khi quay người lại, tôi có thể cảm thấy một ánh mắt sắc lẹm đang xoáy sâu vào đầu và lưng trên của mình.

Thấy lạ, tôi dùng Ban Tay Vô Hình khua khoác xung quanh… nhưng chẳng tìm thấy thứ kỳ quặc nào bám vào người cả. Có giây lát, tôi đã nghĩ mình dính phải trò chơi khăm ‘đá tôi đi’ kinh điển. Dù tôi đoán Mika chắc chắn sẽ nhận ra một trò đùa như vậy - giả sử cô ấy không phải là thủ phạm, tất nhiên rồi.

Trong trường hợp đó, tôi hoàn toàn mù tịt lý do vì sao tiểu thư Celia lại cứ nhìn chằm chằm vào mình như thế. Tôi đăm chiêu suy nghĩ trong lúc phất tay cho hơi nóng bay bớt khỏi áo thì bỗng nhiên cảm nhận được một sự hiện diện ở phía sau.

Anh thừa biết em đang cố trốn rồi đấy, nhưng đừng hòng qua mặt anh dễ dàng thế. Em nghĩ anh đã phải mất bao nhiêu năm để né tránh Margit hả?

“Chào mừng anh về nhà!”

Nhưng đương nhiên là tôi sẽ không đời nào né tránh cô em gái bé bỏng đáng yêu của mình rồi. Elisa lướt xuyên qua cánh cửa tủ quần áo và chồm tới ôm lấy tôi; tôi cố tình để cô bé đánh lừa. Tôi đỡ lấy cơ thể nhẹ bẫng khi cô bé vòng tay ôm lấy cổ tôi và tựa cằm lên vai tôi. Sống đúng với kỳ vọng của em gái chính là một phần công việc của một người anh trai tốt.

“Ồ, em làm anh giật mình đấy!”

tôi nói.

“Nào, Elisa, nguy hiểm lắm đấy. Lỡ em ngã thì sao?”

“Nhưng em biết kiểu gì anh cũng sẽ đỡ được em mà!”

Ngày xưa, Margit từng bảo tôi rằng việc nhảy bổ vào người khác đòi hỏi một lượng lớn dũng khí: họ có thể theo phản xạ gạt phăng bạn đi, hoặc họ có thể mất thăng bằng và kéo cả hai ngã lăn ra. Việc bám lấy cổ áo ai đó và vùi mặt vào ngực hoặc lưng họ chỉ có thể làm được với một người thực sự đáng tin cậy.

Nụ cười hồn nhiên, vui sướng của Elisa chứng minh rằng cô bé đặt trọn vẹn niềm tin tuyệt đối vào tôi. Dù nó có làm gì đi nữa, nó vẫn chắc chắn rằng tôi sẽ luôn ở đó để đỡ cho mình. Tôi cảm thấy như mình sắp dùng hết sạch số nghiệp tốt trong đời; cô công chúa nhỏ của gia đình đúng là một thiên thần mà. Tôi chắc chắn phải cảnh giác với bất kỳ vị thần nào định đến bồng cô bé đi làm cô dâu mất.

“Điều đó không có nghĩa là em muốn nhảy chồm vào ai thì nhảy mà không báo trước đâu, Elisa.”

“Ồ, chào chị nhé, Mika!”

Tôi quá cưng chiều cô bé nên chẳng thể mắng mỏ nó ra trò, nhưng may thay, Mika đã giúp tôi đưa ra một lời nhắc nhở dịu dàng. Điều khiến tôi vô cùng thích thú là việc trải qua khoảng thời gian dài bị nhốt chung đã khiến cả hai cảm thấy thoải mái với tên của nhau hơn rất nhiều.

“Hơn nữa, Elisa…”

Mika tiếp tục.

“Em là một tiểu thư đàng hoàng cơ mà. Em không thể cứ trốn trong tủ quần áo thế được đâu. Em đã ở trong đó bao lâu rồi thế?”

“Umm, từ lúc hai người đi ạ.”

“Buwha?”

Một âm thanh kỳ quái phát ra từ miệng tôi. Tôi đã dừng lại làm vài việc vặt trên đường đi gặp Mika, nên tôi đã ra ngoài được vài tiếng; chẳng lẽ cô bé đã ở lì trong đó suốt khoảng thời gian này ư? Tôi hỏi cô bé tại sao lại làm thế, và cô em gái nhỏ liền bĩu môi quay mặt đi.

Hừ, hóa ra là vậy. Cô bé vẫn chưa cảm thấy thoải mái khi ở cạnh tiểu thư Celia.

Tôi mắng yêu cô bé vì tội hư hỏng và bóp cho xẹp cái má phồng đang phúng phính của nó, nhưng điều đó chỉ khiến cô bé khúc khích cười và siết chặt lấy cổ tôi hơn. Dù biết rằng điều tốt nhất nên làm với tư cách là một người lớn đối với cô bé là phải nghiêm khắc răn đe, nhưng tôi thực sự không tài nào tỏ ra cứng rắn nổi khi cô bé đang làm nũng thế này.

“Em không nên cứ phớt lờ khách của chúng ta như thế chứ, phải không Elisa?”

Mika hùa theo tôi, đồng thời nhẹ nhàng chọc vào má cô bé.

“Cậu ấy đã chuẩn bị rất nhiều câu chuyện để kể cho em nghe đấy, biết chưa.”

Mika liền chỉ tay về phía chiếc bàn nhỏ bên cạnh chiếc giường tạm của tiểu thư Celia - thực ra là một chiếc ghế dài. Cô ấy đã kiên quyết từ chối sử dụng giường với nguyên tắc không xâm phạm khu vực nghỉ ngơi của chủ nhân căn phòng; tôi đành miễn cưỡng để cô ấy ngủ trên chiếc ghế dài, dù biết rằng bất kỳ chiếc nệm nào tôi có thể kiếm được cũng sẽ thoải mái hơn thế nhiều.

Dù sao đi nữa, chiếc bàn đang chất đầy những cuốn sách liên quan đến Nữ Thần Màn Đêm mà Mika đã mượn từ thư viện học viện. Có sách điền tích, thánh vịnh, và thậm chí cả sách tranh dành cho thiếu nhi, nhưng chúng hoàn toàn không có dấu hiệu nào cho thấy đã được mở ra cả; Elisa thực sự đã trốn tiệt trong đó suốt khoảng thời gian qua.

Nghĩ đến việc tiểu thư Celia thành kính đến mức có thể sử dụng cả phép màu, tôi hoàn toàn không nghi ngờ gì việc cô ấy đã thuộc nằm lòng kinh thư tín ngưỡng của mình. Tôi không khỏi cảm thấy có lỗi: cô ấy đã cất công đi xin những thứ này chỉ vì Elisa, vậy mà lại chẳng có cơ hội để dùng đến chúng.

“Không sao đâu, Mika.”

Vị nữ tu sĩ cất lời.

“Trẻ em ở độ tuổi của cô bé dễ có những cảm xúc như vậy lắm. Vấn đề hòa hợp đôi khi không thể ép buộc được đâu.”

Ngay cả lời khiển trách của cô bạn thân cũng không thể khiến Elisa chịu đối mặt với Vampire, nhưng nạn nhân bị phớt lờ lại chính là người lên tiếng bảo vệ cô bé.

Tiểu thư Celia nói rất đúng khi cho rằng thái độ này là điều phổ biến ở trẻ nhỏ. Việc một đứa trẻ có quý mến ai hay không có thể bị chi phối bởi những thứ nổi nhất, và việc chưa tuân thủ các chuẩn mực xã hội là một phần của quá trình trưởng thành. Dù nguyên nhân sâu xa là sự rụt rè hay một ấn tượng đầu tiên không tốt, nó thường là quá sức để một tâm hồn non nớt có thể diễn đạt bằng lời; đa số mọi chuyện chỉ đơn giản là qua đi và chờ đợi thời gian cùng sự khôn lớn giải quyết vấn đề.

Vị nữ tu sĩ nhân hậu từng khẳng định cô rất có kinh nghiệm với trẻ nhỏ, và đây chính là bằng chứng: cô không chỉ thấu hiểu chúng một cách lý trí, mà còn có lòng bao dung vị tha để bỏ qua sự trẻ con ấy.

“Cậu hiền quá đấy, Celia…”

“Tớ xin lỗi nhé, Mika. Nhưng thực sự thì tớ không bận tâm đâu.”

Nữ Vampire mỉm cười tao nhã trên chiếc ghế dài trong khi Tivisco khoác tay với một cái cau mày đầy bận lòng; tôi ngồi bên lề tận hưởng cuộc trao đổi thân thiện giữa hai mỹ nhân tóc đen với cô bé đáng yêu nhất thế giới đang vắt vẻo trên cổ mình. Thật là một nơi phước lành làm sao. Tôi không khỏi cảm thấy áy náy vì một thằng dực rựa như tôi đã làm ô uế cả căn phòng đến mức chỉ muốn biến thành cái chậu cây ở góc phòng cho rồi.

“Khoan đã, anh! Đây là cái gì thế?!”

“Hả? Ồ, đúng rồi, đó là quà đấy. Nhìn này, kem đá!”

“Yay!”

Tuy nhiên, cô công chúa nhỏ của gia đình chúng tôi đã chú ý đến món quà mà chúng tôi dành cho cô bé, nên tốt nhất là để cô bé thưởng thức ngay lập tức. Nó được bảo quản bằng ma pháp giữ nhiệt mà tôi đã thiết kế cho hỗn hợp nhiệt nhôm ma thuật của mình, nên tôi không lo việc nó bị tan chảy; tôi chỉ không muốn bắt cô em gái có đôi mắt long lanh của mình phải đợi lâu hơn mức cần thiết.

“Được rồi.”

Tôi nở nụ cười tươi tắn nhất với hy vọng rằng tất cả chúng tôi đều có thể tận hưởng một bầu không khí thật ấm cúng.

“Chúng ta cùng thưởng thức chút trà nhé?”

---

[Mẹo] Do sở hữu dân số đa văn hóa, mùi hương chiếm một phần không nhỏ trong thẩm mỹ của Đế chế. Cả mùi cơ thể quá nồng lẫn nước hoa đều được coi là hành vi xúc phạm đối với các chủng tộc có khứu giác nhạy bén. Tuy nhiên, nghệ thuật lựa chọn mùi hương lại là một điều rất tinh tế: dù có rất nhiều lựa chọn sai lầm, hầu như chẳng bao giờ có một đáp án chính xác mang tính phổ quát.

Lựa chọn an toàn nhất thường là sử dụng một loại xà phòng hoặc hoa có hương thơm nhẹ nhàng để che đi mùi mồ hôi, với mùi khói bám sát phía sau như một ứng cử viên ít gây khó chịu nhất. Mùi cam chanh khó ứng dụng hơn cho việc sử dụng hằng ngày, vì các nhóm dân tộc mang đặc tính chó hoặc mèo thường thấy mùi chua đó quá nồng gắt.

---

Các điều răn mà thần linh ban hành cho con người tại Đế chế Tam quyền Rhine không quá nặng nề khi so sánh với các vị thần ở những vùng đất khác. Đàn chiên - ngoại trừ những kẻ sùng bái Thần Mặt Trời, đấng tối cao dẫn dắt họ - chủ yếu đề cao các đức tính khắc khổ và trinh bạch, nhưng không ai mong đợi người bình thường phải cứng nhắc tuân thủ từng quy tắc một. Ngay cả các linh mục tận tụy trong giáo phái cũng không bị ràng buộc bởi một tiêu chuẩn quá khắt khe.

Sự tham ăn không kiểm soát, ngoại tình, hoặc ham muốn nhục dục bùng nổ là những lý do để khiển trách bất kể vị thẩm phán là thần linh hay người phàm; sự khoan dung của chư thần Rhine dễ dàng nhận thấy qua việc các linh mục của họ được phép kết hôn, theo đuổi xác thịt, hay nhấm nháp dòng mật ngọt của đồ uống miễn là ở mức độ điều độ.

Tuy nhiên, vẫn có một ngoại lệ: những ai noi theo Nữ Thần Màn Đêm nhân từ đều sống theo một nguyên tắc tự kỷ luật. Nữ thần mẫu mực đầy khoan dung khẳng định rằng lòng trắc ẩn đích thực không phải là sản phẩm của sự dư dả; lòng nhân ái không phải là công cụ để kẻ giàu có trao đổi những biên độ lợi nhuận rộng lớn lấy sự mãn nguyện với bản thân.

Đôi khi, tình yêu rất nặng nề; nó đau đớn; nó khắc nghiệt. Sự đồng cảm bắt nguồn từ ý tưởng hy sinh một phần của bản thân vì người khác.

Điều này không chỉ có ở mỗi cộng đồng thờ phụng Nữ Thần Màn Đêm, nhưng giáo hội của Ngài bao gồm nhiều phe phái khác nhau. Tuy nhiên, nó khác với các tôn giáo trên Trái Đất: nơi các tôn giáo đôi khi sở hữu nghi lễ hoàn toàn khác nhau hoặc thậm chí tôn thờ các thực thể khác nhau, tất cả đều do những cách giải thích bất đồng về cùng một bộ kinh thánh. Ở trong Đế chế, các vòng tròn thuộc cùng một giáo phái vẫn tuyên thệ lòng sùng kính đối với cùng một vị thần, đọc phúc âm của họ theo cùng một cách, và nói một cách nghiêm ngặt, họ là một phần của cùng một cộng đồng.

Cơ mà các tín đồ luôn dễ dàng tìm kiếm thêm nhiều cách để thể hiện lòng sùng kính của mình. Những suy ngẫm thần học về khía cạnh nào của vị thần họ chọn là thiêng liêng nhất, hoặc điều gì sẽ đại diện tốt nhất cho ý chí của Ngài, đã là khởi đầu cho những sự rẽ nhánh này.

Các vị thần có thể trìu mến dõi theo thần dân của mình, nhưng những kẻ cai trị Rhine từ những vị trí cao chót vót trên thiên đường có một quy tắc bất thành văn là không can thiệp vào hành trình tâm linh của bầy chiên. Cả hình phạt của thần linh lẫn lời sấm truyền đều được sử dụng một cách tiết chế miễn là sự giải thích đó không phải là sự báng bổ vị kỷ đối với danh tính của họ. Như là hệ quả trực tiếp, người dân bên dưới đã thành lập ra các vòng tròn khác nhau nhằm mài giũa môn thể thao nhận thức về sự cầu nguyện thành một thứ lớn lao hơn.

Khi lần đầu tiên biết điều này, một cậu thiếu niên tóc vàng nào đó từng nghĩ thối rằng các vị thần ở đây giống như những tác giả không bận tâm đối với những độc giả bước qua nguyên tác cốt truyện của mình, thậm chí cảm thấy vui mừng vì mọi người bận tâm đến việc tương tác với tác phẩm của họ một cách sâu sắc đến thế - đây có lẽ là một phép ẩn dụ khá vô nghĩa.

Dù sao đi nữa, vấn đề cốt lõi ở đây là sự sùng bái có nhiều hình thức khác nhau. Lấy ví dụ như vị Phụ Thần ngự trị trên đỉnh của chư thần. Vòng Tròn Rực Rỡ chọn cách dốc sạch ví của họ nhân danh Ngài mà trang hoàng cho đền thờ và các nghi lễ của mình thật xa hoa. Mặt khác, những người thuộc Vòng Tròn Phồn Vinh lại biết ơn đón nhận ánh sáng của Ngài và sử dụng nó để cần mẫn nuôi dưỡng hoa màu mà Ngài ban sự sống. Thậm chí có những kẻ tự bắt mình chịu đựng những hình phạt đau đớn đến mức khiến những tín đồ của Thần Chiến Tranh phải chùn bước, đơn cử là những người thuộc Vòng Tròn Khắc Khổ. Mặc dù họ đứng dưới cùng một lá cờ, nhưng biểu hiện đức tin của họ lại vô cùng khác biệt.

Trong trường hợp của Nữ Thần Màn Đêm, có hai nhánh lớn trong bầy chiên của Ngài: Khoan Dung và Vô Nhiễm. Cecilia đã chọn gia nhập nhánh thứ hai.

Trong khi Vòng Tròn Khoan Dung dấn thân vào các hoạt động từ thiện để giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh đúng như tấm lòng nhân từ của Nữ Thần, thì những tín đồ thuộc Vòng Tròn Vô Nhiễm lại tôn sùng sự nghèo khó vinh quang, giúp đỡ người khác không phải bằng toàn bộ gia tài, mà bằng chút ít tài sản còn sót lại sau khi đã tự từ bỏ những vật chất trần thế. Người ta có thể nói rằng nhóm này vốn không phù hợp với một quý tộc Vampire, và cũng khó mà bác bỏ điều đó; dù vậy, triết lý này lại rất hợp với tính cách của Cecilia.

Sự tuân thủ đức tính tiết độ này thường được nhắc đến như một chủ nghĩa khắc kỷ không lay chuyển. Thậm chí còn tự ép mình vào những cuộc tuyệt thực, Vòng Tròn Vô Nhiễm cùng lòng nhiệt thành cực đoan của họ đã khiến ngay cả những vị linh mục sùng đạo của các phe phái khác cũng phải kinh ngạc.

Như đã được chứng minh qua việc sử dụng phép màu, Cecilia không nằm ngoài kỷ luật khắc nghiệt đó. Cô từng trải qua những đợt tuyệt thực mà đến cả nước bọt cũng không dám nuốt xuống cho đến khi Mặt Trăng trỗi dậy từ giấc ngủ của Ngài; cô từng từ bỏ cả giấc ngủ chỉ để đọc và chép lại kinh văn. Nữ tu sĩ đã quen với việc sống qua ngày với rất ít hoặc chẳng có gì trong tay, dành quá nhiều thời gian trong một lối sống đạm bạc đến mức có thể khiến người khác phát điên, để rồi cuối cùng cô coi đó là chuyện hiển nhiên của cuộc sống.

Thế nhưng, chính cô gái ấy giờ đây lại thấy bản thân không thể kiểm soát nổi những cảm xúc của chính mình.

Xin nhắc lại, đây không phải là hệ quả từ việc sự hiện diện của Elisa đã che khuất đi đường nét tuyệt mỹ trên cổ của Erich, nơi được tô điểm bởi sắc màu quyến rũ của làn da để trần; điều này không hề khiến cô thất vọng.

Cô đời nào lại cảm thấy chán nản chỉ vì không còn được nhìn thấy những thớ cơ săn chắc cuồn cuộn nằm bên dưới lớp da vẫn giữ được vẻ trắng trẻo dẫu đã phải hứng chịu ánh nắng mặt trời. Cũng chẳng có gì đáng tiếc khi phần xương quai xanh của cậu - thứ vừa nãy còn lấp ló trêu ngươi bên cổ áo - giờ đã khuất tầm mắt.

Tất nhiên, một lượng nước bọt bỗng chốc trào dâng đe dọa làm phồng hai má cô với đầy dịch vị, nhưng đó hoàn toàn, tuyệt đối không phải là tất cả những gì đang diễn ra.

Dù là cố ý hay không, Cecilia vẫn cảm thấy bối rối trước cô bé đã che giấu chiếc cổ ấy - chính là Elisa. Trong ba ngày qua, cô đã cố gắng cởi mở với Changeling này trong nhiều dịp, nhưng đều vô ích. Mọi nỗ lực bắt chuyện đều vấp phải bức tường; mọi lời mời chơi một ván Ehrengarde đều bị từ chối với lý do không biết luật; những câu hỏi của cô về việc cô bé đang làm thì chỉ nhận lại câu trả lời: “Bài tập sư phụ giao cho em.” chẳng để lại chút không gian nào để tiếp tục câu chuyện.

Cecilia đơn giản là không thể hiểu nổi Elisa.

Nàng Vampire không cho rằng mình không có thiện cảm với trẻ con… thực ra, cô rất quý mến chúng. Tu viện của cô thường xuyên tiếp nhận những đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa, và cô đã trải qua không biết bao nhiêu ngày tháng đi đến các thị trấn hay tổng lân cận để phục vụ những đứa trẻ ở các nhà tế bần tại đó.

Sự tự tin của Cecilia trong việc chăm sóc trẻ em không phải là sự kiêu ngạo; bọn trẻ thực sự rất quý mến cô. Cô dịu dàng, năng động và sở hữu một kho tàng kiến thức phong phú để chia sẻ. Trên thực tế, cô từng nổi tiếng đến mức rất khó để có thể đáp ứng hết tất cả những cậu bé cô bé muốn chơi đùa cùng mình.

Tuy nhiên, một số đứa trẻ từng trải qua những năm tháng khắc nghiệt, hoặc rơi vào những chuỗi suy nghĩ trẻ con khiến chúng không thích cô cũng không phải là không có. Cô không kiêu ngạo đến mức tin rằng tất cả trẻ em đều phải bày tỏ tình cảm với mình hay những thứ đại loại thế. Dù là thiếu kinh nghiệm hay mang trong mình cái tôi chưa chín muồi, Cecilia tin rằng mọi cá nhân đều cần phải được tôn trọng như một thực thể độc lập; nhiều nhất là cô chỉ cầu nguyện rằng một ngày nào đó, họ có thể trở thành bạn bè.

Nhưng Elisa thì khác. Thỉnh thoảng, khi cô bé trừng mắt nhìn cô, Cecilia lại cảm thấy điều gì đó vô cùng xa lạ ẩn chứa trong đôi mắt nâu to tròn ấy; đó không phải là ánh mắt của một đứa trẻ mới trải qua thập kỷ đầu đời. Nữ tu sĩ không thể diễn tả thành lời, nhưng nếu phải dùng một từ để gọi tên, cô cảm thấy ánh nhìn đó chỉ có thể xuất hiện ở một kẻ mang tâm hồn ‘trưởng thành’ hơn rất nhiều.

Do sống trong tu viện quá lâu, Cecilia không quen thuộc với ánh mắt đó và không thể xác định nó ngụ ý điều gì. Khi lục lọi trong ký ức, cô thấy màu sắc ánh mắt ấy tương tự với những người mà cô từng gặp tại một trong các biệt thự của gia đình, được giới thiệu là ‘những người bạn của bố cô’ hoặc ‘phu nhân của gia tộc này gia tộc nọ’. Dù thế nào đi nữa, cô chắc chắn rằng đôi mắt ấy, thứ dễ dàng chuyển đổi sắc độ từ nâu sang hổ phách rồi vàng rực dưới ánh sáng, đang che giấu một điều gì đó vô cùng phi thường.

Nhìn kìa,

Cecilia thầm nghĩ.

Ngay cả lúc này, khi chúng ta đang trò chuyện bên tách trà, mình vẫn cảm nhận được nó ở phía bên kia chiếc bàn…

Nữ tu sĩ nhấp một ngụm trà thơm và cắn một miếng kem ngọt để xua tan cảm giác khó chịu kỳ lạ khỏi ý thức, rồi hắng giọng chuẩn bị chuyển sang vấn đề nghiêm túc trước mắt. Cuối cùng cũng đến lúc cô lật bài ngửa - để tiết lộ cách cô dự định né tránh những con đường đầy hiểm trở và đặt chân đến Lipzi.

“Nhân tiện, Elisa, Mika vừa kể cho anh nghe một tin đồn thú vị lắm đấy.”

“Tin đồn á?”

Chìm đắm trong ý nghĩ trẻ con rằng mình phải đợi đến khi cuộc trò chuyện lắng xuống để tạo ra hiệu ứng bất ngờ lớn nhất, Cecilia chờ đợi hai anh em hoàn thành khoảnh khắc gia đình đáng yêu của họ. Đứa em gái đã tự nhiên yên vị trên đùi anh trai và vui vẻ chờ đợi được đút cho ăn. Hơn thế nữa, cô bé còn đang thưởng thức một ly kem trọn vẹn hai hương vị, y hệt như Mika vậy. Cecilia cũng đã được mời hai hương vị kem đá, nhưng Mika thừa biết rằng Erich chắc chắn chỉ dùng vỏ bọc đối xử công bằng để cưng chiều em gái, dù bản thân cậu chỉ ăn có mỗi một que kem đơn độc.

“Nào, kể cho em ấy nghe đi, Mika.”

“Hm? Ồ, được rồi, được rồi. Nghe cho kỹ vào nhé Elisa, bởi vì hôm nay, một con tàu có thể bay xuyên qua bầu trời đang đến đế đô đấy!”

“Cái gì cơ?!”

Hai giọng nói đồng thanh vang lên trong ngạc nhiên. Cecilia thét lên đầy tiếc nuối khi bất ngờ lớn của cô bị bóp nghẹt từ trong trứng nước.

Ba người còn lại giật mình lùi lại khi vị Vampire vùng dậy. Làm sao họ có thể không hoảng hốt cho được? Một vị thánh nữ dịu dàng luôn giữ gìn phép tắc, che miệng mỗi khi mỉm cười nhẹ nhàng, nay lại bật dậy với một tiếng kêu kinh hoàng.

“Ưm… Có chuyện gì thế ạ?”

Câu hỏi được cất lên với vẻ dè dặt của Erich ngay lập tức vấp phải một phản ứng tạo ra thêm một đợt kinh ngạc đến hoa cả mắt.

“Sao các cậu lại biết được?!”

---

[Mẹo] Trên Trái Đất, sự chia rẽ tôn giáo thường xuất phát từ việc các nhóm tín đồ cùng thờ phụng một vị thần nhưng lại tuân theo những cách thức khác nhau, hoặc có những cách lý giải khác nhau về các điền tích. Dù thần linh có thể đã ban cho nhân loại những điều răn và kinh thánh, nhưng các chi tiết cụ thể trong nghi thức thờ phụng lại tùy thuộc vào sự diễn giải của chính người tín đồ. Vì lẽ đó, việc thực hiện nghi thức thờ phụng theo hình thức mà một cá nhân coi là thiêng liêng nhất sẽ mang lại kết quả thể hiện lòng thành kính sâu sắc nhất.

---

Nếu có bất kỳ ai khác có mặt ở đó, họ hẳn đã hét lên “Cậu là trẻ con chắc?!” trước khi kịp khựng lại và nhận ra rằng vị Vampire thực ra… đúng là một đứa trẻ thật. Tuy nhiên, ba con người đang có mặt lúc đó lại chết lặng trong sự bàng hoàng. Cecilia đã giấu kín phương thức di chuyển dự kiến của mình với một trái tim đầy hân hoan, nhưng không ai ngờ rằng nó lại trùng khớp hoàn toàn với chiếc chiến hạm hàng không đang râm ran truyền tai nhau khắp đế đô.

Những kẻ không liên quan đến quá trình chế tạo chỉ biết đến nó như một con tàu có thể vút bay qua bầu trời, nhưng những tin đồn đó là sự thật: ‘phi thuyền’ này chính là thứ vũ khí tối tân của hoàng gia nhằm khoét một con đường xuyên qua biên giới không có cảng biển của Đế chế. Dù sở hữu lãnh thổ rộng lớn, quốc gia này vẫn chưa thể chiếm được dù chỉ một vùng biển ấm. Con rồng ba đầu không thể gánh vác thêm bất kỳ gánh nặng nào nữa: Đế chế không đủ khả năng để thâu tóm thêm lãnh thổ nhằm chạm tay tới đại dương mênh mông.

Tất nhiên, các vùng phía Bắc kết thúc bằng những đường bờ biển, nhưng những vách đá dựng đứng cùng mùa đông băng giá khiến việc chèo lái trở nên vô cùng khắc nghiệt, nếu như những đại dương lạnh giá ấy cho phép thực hiện các chuyến hải trình ngay từ đầu. Tất cả các cảng biển ở phía Bắc đều là những thị trấn nhỏ chuyên về đánh bắt cá.

Có một lối đi ở phía Tây Bắc: Bán đảo Howaldtswerke giống như một khối u mọc ra từ lục địa, và cảng Schleswig ở mũi của nó có thể cho tàu bè hạ thủy ra vùng hải phận quốc tế. Thế nhưng, vành đai các hòn đảo chặn đứng con đường đi về phía Bắc và phía Tây đồng nghĩa với việc một con tàu Đế chế sẽ phải thực hiện một cú vòng khổng lồ để tiếp cận những vùng biển ôn hòa và thịnh vượng ở phía bên kia. Rõ ràng là nó chẳng lọt nổi vào mắt xanh của hoàng gia, Đế chế không coi đó là một khoản đầu tư đáng giá.

Đã từ lâu, họ thậm chí từng cân nhắc việc đào một con kênh hướng Tây để nối biển của chính họ với đại dương mênh mông, nhưng những con sóng dữ dội ở phía Bắc ẩn chứa địa long và quái vật biển sẽ biến quá trình đó thành một nhiệm vụ vô cùng gian khổ. Các ước tính của Đế chế thời bấy giờ đã dự đoán rằng sẽ mất hơn bảy thế hệ để hoàn thành, và vì thế, dự án chết yểu từ trong trứng nước; giờ đây nó chỉ còn đóng vai trò như một ‘giá như’ đầy cám dỗ cứ vẩn vơ trong tâm trí các vị Hoàng đế.

Hiện tại, Đế chế đành xoay sở bằng cách trao cho các chư hầu phía Nam các đặc quyền thương mại và quyền áp thuế để có thể sử dụng các cảng của họ như thể chúng là tài sản của Đế chế. Không phải là Rhine thiếu phương tiện để buôn bán đường biển, nhưng việc hoàn toàn có khả năng những biến cố bất ngờ có thể tước đi quyền tiếp cận của họ bất cứ lúc nào; do đó, những kẻ nắm quyền luôn khao khát tìm kiếm các tuyến đường thay thế.

Điều này đã khiến quốc gia cân nhắc mọi ý tưởng tưởng chừng như bất khả thi: Kênh đào Bắc Đại Dương, một kế hoạch mở rộng con sông mang tên họ thành một tuyến đường thủy cho tàu bè đi lại, và nỗ lực mang tính cách mạng nhằm phát triển ngành du lịch hàng không đang dần đi đến hồi hoàn thiện.

Là một tác phẩm công nghệ sẽ quyết định vận mệnh của một cường quốc như Rhine, dự án này liên quan đến vô số con người, và chiếc tàu khổng lồ ấy chẳng dễ gì để che giấu; việc những lời bàn tán lọt vào thế giới tin đồn là một điều hiển nhiên. Dù Đế chế rất muốn giữ kín mọi thứ thật cẩn mật cho đến trước màn ra mắt hoành tráng của họ, nhưng miệng lưỡi con người chẳng bao giờ chịu được việc bị niêm phong; những mẩu tin nhỏ rò rỉ từ khắp mọi ngóc ngách.

Cụt hứng vì bất ngờ của mình bị tước mất, Cecilia giải thích các chi tiết với vẻ uể oải đầy chán nản. Cô bé Elisa nhỏ nhắn chỉ hiểu rằng cô ấy đang nói về một điều gì đó vô cùng kinh ngạc, nhưng hai người còn lại thì đã cứng đờ với đôi môi mím chặt.

“Đêm nay…”

Cecilia tiếp tục.

“Phi thuyền sẽ đến Berylin và thả neo ở vùng ngoại ô thành phố… nơi Hoàng đế sẽ ngự giá lên tàu. Sau đó, những người có liên quan sẽ đi vòng quanh mọi bang trong Đế chế trên chính con tàu đó.”

“Và cậu muốn lẻn lên đó á? Lên chiếc phi thuyền này luôn?”

“Thật là một kế hoạch vĩ đại…”

Cả cậu thiếu niên lẫn cô thiếu nữ đều rùng mình trước ý định thực hiện một kỳ tích táo bạo và nhìn trân trân nữ tu sĩ với vẻ hoài nghi tột độ. Đây là một dự án quốc gia được bảo trợ bởi ngai vàng, và đêm nay sẽ là chuyến hành trình đầu tiên của nó. Việc quá giang trên chính con thuyền riêng của Hoàng đế không chỉ đơn thuần là vượt qua ranh giới của sự liều lĩnh: đó là bước chân bằng cả hai chân vào vương quốc của sự ngạo mạn.

Trước hết, đây là loại bí mật phải đi kèm với cụm từ ‘tối cao’, và an ninh xung quanh nó chắc chắn sẽ vô cùng cẩn mật. Với sự hiện diện của Hoàng đế, chính quyền rõ ràng sẽ tung ra mọi nguồn lực và cắt cử một đội cấm vệ quân hoàng gia để bảo vệ khu vực. Đừng nói đến việc để một chú mèo con lọt qua mà không bị chất vấn, họ thậm chí còn chẳng thèm để đám bọ chét trên lưng nó lẻn qua nổi ấy chứ.

“Nhưng tất nhiên, tớ không có ý định xông vào boong tàu như một tên cướp thông thường. Tớ có một chỗ dựa.”

Nữ tu sĩ chần chừ trong chốc lát khi cảm nhận trải nghiệm xa lạ khi phải vạch ra một mưu kế.

“Sự thật là, giáo hội cũng đã tham gia vào quá trình chế tạo phi thuyền.”

Cho đến tận bây giờ, thiết kế kỹ thuật và việc chế tạo các tàu bay hoàn toàn do các thành viên của Học Viện Hoàng Gia dẫn dắt. Lần thử nghiệm này cũng không ngoại lệ, giới học giả ma pháp đã phác thảo các thông số kỹ thuật và giám sát quá trình xây dựng đến khi hoàn thành, nhưng bước sang lần thử thứ ba, giới chức trách tôn giáo cuối cùng cũng đã gánh vác bớt một phần công việc.

Điều đó thực chất có nghĩa là họ đã dành thời gian của hai lần thử nghiệm đầu tiên để tranh cãi về những điều vô ngh… Họ đã tranh cãi về những thứ không quan tr… Cuối cùng thì sau một cuộc thảo luận uyên bác có sự tham gia của chính các vị thần - được truyền tải thông qua những lời sấm truyền mơ hồ, như mọi khi - về việc những vị thần nào có liên quan đến chuyến bay đã đi đến hồi kết.

Quả thực, chiếc phi thuyền của Đế chế cũng khơi gợi sự quan tâm của chư thần.

Ban đầu, Thần Gió và Mây đã làm ầm lên rằng bất cứ thứ gì bay lượn qua bầu trời đều thuộc lãnh địa của Ngài; sau đó Thần Biển Cả phản đối và lớn tiếng rằng mọi thứ có chữ ‘tàu’ trong tên gọi phải thuộc quyền sở hữu của Ngài; chỉ để Thần Thủ Công chen chân vào và nói rằng kỹ thuật thủ công liên quan chỉ có thể được thực hiện dưới danh nghĩa của Ngài. Trong chớp mắt, mọi vị thần có lý do để can thiệp đều tuyên bố dự án này là thuộc thẩm quyền của riêng họ.

Mặc dù một người quan sát vô tư sẽ muốn bảo họ hãy hòa thuận với nhau giống như cách người ta nói với những đứa trẻ đang cãi nhau trong giờ sinh hoạt lớp, nhưng đối với những đấng tối cao cư ngụ trên cao, đây lại là vấn đề sinh tử. Thần tính là trạng thái mà sức mạnh của một người được rút ra từ lòng tin; chỉ cần nhìn vào cách Nữ Thần Thu Hoạch xoay sở để trở thành một trong năm trụ cột chính của chư thần, người ta sẽ hiểu rõ lý do tại sao tất cả bọn họ lại cuồng nhiệt đến thế. Giống như mạng xã hội, tầm ảnh hưởng của họ mở rộng theo từng tín đồ.

Chính vì thế, các vị thần theo dõi việc này sát sao không kém gì người phàm. Bất cứ ai giành được quyền kiểm soát bước ngoặt lịch sử này chắc chắn sẽ thu về sự tung hô vĩ đại từ người phàm bên dưới. Không giống như những vị thần có thể trông cậy vào tín đồ của mình chừng nào con người còn đi lại trên mặt đất, các vị thần kém tiếng tăm hơn với mức độ nổi tiếng trồi sụt theo từng thế hệ lại càng đặc biệt tuyệt vọng.

Cuộc tranh luận thần học này chẳng khác nào một buổi sinh hoạt lớp không có giáo viên - vâng, và đã có rất nhiều trận ẩu đả diễn ra - và kéo dài suốt vài thập kỷ trước khi nó cuối cùng đã đi đến hồi kết.

Hồi kết ấy lại gây ra nhiều hỗn loạn hơn. Thỏa hiệp đạt được là con tàu sẽ bao gồm một ngôi đền được ban phước ở bên trong… nhưng họ lại không tài nào quyết định được đó sẽ là đền của ai.

Trong quá trình chế tạo, Thần Thủ Công đã ban cho nó sự bảo hộ của Ngài; khi nó chuẩn bị khởi hành, Thần Biển Cả ban phước lành cho sự may mắn trong hàng hải và những chuyến hàng được vận chuyển suôn sẻ; một khi nó đã bay lên bầu trời, Thần Gió và Mây sẽ phải chăm sóc nó trong bầu trời của Ngài. Sắp xếp đó thực sự khiến người ta không tài nào hiểu nổi. Chắc chắn là vẫn có sự hợp tác tương tự đối với các tàu bè hàng hải, nhưng Thần Biển Cả vẫn là người có tiếng nói quyết định trong trường hợp đó. Tình huống ở đây lại có nhiều lỗ hổng hơn rất nhiều: suy cho cùng, chẳng ai biết ai mới thực sự là kẻ chịu trách nhiệm cho cái thứ chết tiệt đó.

Một nhà vật lý đáng kính từng nói rằng mọi thứ nên được làm đơn giản nhất có thể, nhưng không đơn giản hơn thế, và ông ấy mới đúng làm sao. Không chỉ các bác học điên của học viện đang vắt óc suy nghĩ cho mọi thứ họ có, mà các giáo hội cùng chư thần của họ giờ đây còn so đo từng chi tiết nhỏ nhặt. Chiến hạm hàng không thực sự là đỉnh cao của toàn bộ văn hóa Đế chế, dù theo chiều hướng tốt hay xấu.

“Ưm, và vì con tàu dự định thực hiện các chuyến hải trình ban đêm…”

“Nữ Thần Màn Đêm đã nhúng tay vào.”

“Chà… ra là vậy.”

Sau khi trình bày bối cảnh phức tạp, Cecilia giải thích rằng tín đồ Nữ Thần Màn Đêm, người sẽ bước lên tàu chính là một người bạn thân thiết của cô. Hóa ra cô ấy từng là một đồng đạo tại Fullbright, và người đó sẽ không bao giờ nhẫn tâm quay lưng trước một người đang hoạn nạn; miễn là nàng Vampire này có thể giải thích rõ hoàn cảnh của mình, cô ấy hoàn toàn có thể trông cậy vào sự hỗ trợ đó.

“Tớ chắc chắn cô ấy sẽ đưa tớ đi cùng với tư cách là tùy viên nếu tớ ngỏ lời. Nữ Thần không nhúng tay quá sâu vào con tàu, điều đó có nghĩa là số lượng tín đồ của chúng tớ sẽ bị giới hạn. Nếu tớ có thể tìm cách lên được boong tàu, tôi nghi ngờ rằng lính gác sẽ để ý đến chúng tớ nhiều đâu.”

“Tớ hiểu rồi. Vậy nếu chúng ta có thể đưa cậu đến đó…”

“Vâng. Từ đó, tớ sẽ có thể trốn lên tàu, và sau đó lẻn xuống ở điểm dừng chân đầu tiên của hành trình. Một khi đến Lipzi, tớ sẽ nằm dưới sự bảo vệ của cô mình.”

Nhìn chung, kế hoạch này là một câu chuyện kinh điển về một kẻ trốn vé; nó có chút thô sơ ở các chi tiết bề ngoài, nhưng vẫn là phương án khả thi nhất hiện có. Cố gắng đến được một điểm an toàn hiệu quả để có thể vượt qua phần còn lại của hành trình trong sự bình yên tương đối chắc chắn mang lại tỷ lệ thành công cao hơn là đi bộ xuyên qua những vùng quê hẻo lánh kém phát triển của Đế chế suốt hàng trăm ki-lô-mét. Đây cũng là một kế hoạch thông minh hơn rất nhiều so với việc đột kích qua hàng rào an ninh để thử sức với vụ cướp máy bay đầu tiên của thế giới này.

“Đã rõ. Trong trường hợp đó, chúng ta hãy hướng tới quận thánh nào.”

Erich dừng lại suy nghĩ và lầm bầm.

“Nhưng bằng cách nào đây?”

Vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết, nhưng vấn đề tối quan trọng là: vô số kẻ truy đuổi vẫn đang lảng vảng khắp đế đô. Bọn chúng không dán cáo thị truy nã với mô tả về cô ấy, nhưng điều đó thực sự có lẽ lại dễ đối phó hơn.

Suốt cả ngày hôm đó, cậu thiếu niên đã theo dõi sát sao lực lượng lính canh quanh thị trấn, và cậu đã phát hiện ra một điều khủng khiếp. Cảnh sát mặc trang phục tiêu chuẩn chỉ mang theo dùi cui không hề hoạt động đơn độc: họ đi cùng với những gã đàn ông mặc quân phục màu đen tuyền đáng sợ.

Tránh né đôi mắt soi mói của lính canh thành phố là một chuyện; chơi trò mèo vờn chuột với những thợ săn chuyên nghiệp tạo nên đơn vị Jagers của Hoàng đế lại là một thử thách không giống bất kỳ điều gì khác.

---

[Mẹo] Đơn vị Jager của Đế chế là một nhóm trinh sát quân sự bao gồm những trinh thám và thợ săn cừ khôi nhất trong quốc gia. Những bậc thầy bóng tối này lùng sục các địa điểm thuận lợi cho những trận chiến quyết định, thám thính hậu cần của kẻ thù, và lên kế hoạch phản gián trong lãnh thổ đế quốc. Họ đã đóng vai trò chủ chốt trong các cuộc chiến thay đổi vận mệnh của Đế chế trong suốt chiều dài lịch sử của nó, họ là một trong những nhóm được kính trọng nhất trong nước.

Dù các nhà thơ không ca tụng sử thi nào mang tên họ và các thợ thủ công không tạc tượng cho họ, nhưng đối với họ, đó lại là vinh dự ở mức cao nhất.

Bạn đã đến cuối chương 76.

Không gian đọc của bạn