Tôi không khỏi sốc trước khoảng cách đó đến mức đứng đờ người ra trong giây lát. Ngay cả Mika, người vốn không rành lắm về địa lý quanh vùng này, cũng phải nhíu mày lo lắng.
Sự hiểu biết của tôi về địa hình nơi đây bắt nguồn từ chuyến hành trình dài ba tháng trời cùng tiểu thư Agrippina. Nghĩ rằng nó sẽ có ích cho tương lai, tôi đã học thuộc lòng một tấm bản đồ quốc gia - một bản phác thảo thô bao gồm mọi lãnh thổ trong Đế chế - nhờ đó mà tôi nắm được khá rõ ràng về khoảng cách tương đối. Sự hiểu biết đó chính là lý do tại sao tôi lại tuyệt vọng đến vậy.
140 cây số nghe có vẻ đơn giản; nó xấp xỉ khoảng cách từ Osaka đến Nagoya. Nhận thức thời hiện đại sẽ thu gọn hành trình đó lại thành khoảng một bữa ăn kèm một cây kem trên một chuyến tàu cao tốc, hoặc một chuyến đi ô tô kéo dài từ hai đến ba tiếng có ghé trạm dừng chân trên đường cao tốc để dã ngoại… nhưng đó lại là một khoảng cách khổng lồ đối với chúng tôi.
Đó là một chặng hành trình quá sức đối với đôi chân trần của chúng tôi, chưa kể 140 cây số đó chỉ là khoảng cách đường chim bay giữa hai điểm trên bản đồ. Việc di chuyển thực tế sẽ đòi hỏi chúng tôi phải vượt qua quãng đường dài gấp nhiều lần con số đó.
Nếu điều đó chưa đủ rõ ràng, thì Đế chế vốn nổi tiếng với núi non, sông ngòi và những ngọn đồi thoai thoải, đó chỉ là một vài trong số những rắc rối về mặt địa hình. Quốc gia này không được tạo ra từ một người chơi nửa mùa trong một tựa game mô phỏng xây dựng thành phố, nơi có thể tùy ý vẽ ra những con đường thẳng tắp nối liền các địa điểm trọng yếu chỉ bằng một cái búng tay.
Nằm giữa Berylin và Lipzi là một dãy núi sừng sững được biết đến với cái tên Thanh Kiếm Phương Nam. Dù không khắc nghiệt khó vượt qua như Đỉnh Núi Tinh Linh Băng Giá mà chủng Giant gọi là nhà, thì trang bị du hành thông thường cũng sẽ khiến một lữ khách chết cóng hoặc thiệt mạng chỉ trong nửa ngày. Hiển nhiên là chẳng có con đường nào đâm xuyên qua chúng cả; mặc dù một con đường đi thẳng về phía Nam sẽ là một khoản đầu tư toàn diện giúp tiết kiệm cả thời gian lẫn tiền bạc, nhưng các Oikodomurge đâu phải là những vị thần toàn năng.
Lý tưởng nhất là họ sẽ đào một đường hầm xuyên qua núi để tạo ra một lối đi thẳng tắp, nhưng đó vẫn chỉ là ý tưởng ở hiện tại. Chắc chắn điều đó chỉ xảy ra trong một tương lai xa xôi, khi những tiến bộ về công nghệ kiến trúc ban cho nhà nước những cỗ máy hạng nặng và vật liệu kiên cố cần thiết cho một nỗ lực quy mô như vậy.
Đế chế Tam quyền vẫn vượt xa bất kỳ quốc gia nào khác, và viên ngọc quý của hệ thống giao thông vĩ đại này chính là xa lộ huyết mạch, một chuỗi các con đường được lát đá kết nối tất cả các thủ phủ của vùng quan trọng nhất. Tuy nhiên, hệ thống này không ưu tiên việc tạo ra những con đường ngắn nhất; chúng không chỉ uốn lượn để tránh chướng ngại vật, mà còn tính toán đến hiệu quả thi công, nghĩa là các giao lộ được thiết kế để kết nối ba hoặc bốn con đường khác nhau cùng lúc. Hoàn toàn không có cách nào thu ngắn nó lại để khớp với đường thẳng được.
Chưa kể là chúng tôi còn chẳng may mắn đến mức được sử dụng những con đường đó.
Hệ thống xa lộ đáng tự hào của Đế chế đặt nền móng trên lớp đá nền vững chắc, được hoàn thiện với hệ thống thoát nước và đủ khe rãnh cho nhiều làn xe lưu thông song song, đồng thời thảm thực vật hai bên đường được dọn sạch để bọn cướp đường không có chỗ mai phục. Các Oikodomurge đã mài giũa thứ vốn chẳng khác nào một con đường cao tốc thời trung cổ tới mức tinh xảo hơn cả một tấm gương sáng bóng. Những con đường nhỏ hơn phân nhánh từ mạch máu trung tâm của quốc gia này như những mao mạch, kết nối các thị trấn và tổng với Đế chế.
Tất cả những điều này đều vì mục đích an ninh quốc gia và sự thịnh vượng kinh tế. Trải qua hơn năm thế kỷ lịch sử, Đế chế đã xây dựng và bảo trì những con đường mới với một sự nhiệt tình không khác gì cuồng tín. Khác với thời Trung Cổ mà tôi từng quen thuộc, nhà nước ở đây không hề coi những con đường cao tốc lớn như một lối đi cho kẻ địch tiến vào các thành trì trọng yếu của chúng tôi; ngược lại, chúng được xem là phương tiện để nhanh chóng triển khai quân đội của chính chúng tôi đến bất kỳ vị trí nào ở tiền tuyến tùy theo tình hình thực tế.
Ngược lại, điều đó đồng nghĩa với việc những con đường nhỏ sẽ không được chăm sóc kỹ lưỡng. Ngân sách và nhân lực của một quốc gia là có hạn, và cỗ máy khổng lồ sừng sững tồn tại suốt năm thế kỷ ấy cũng không ngoại lệ. Các lãnh chúa địa phương thường duy trì các tuyến phố nằm trong phạm vi ảnh hưởng của họ, nhưng chỉ chừng nào điều đó phục vụ cho lợi ích riêng của họ; chứ họ chẳng đời nào phục vụ nhu cầu đi lại tự do của dân quèn cả.
Ngay cả những vùng viễn xa xôi nhất trong tiền kiếp của tôi cũng đã được thiết kế gọn gàng để uốn lượn theo đường xe hơi, nhưng điều tương tự lại không thể xảy ra ở thế giới này. Lẽ thường tình cho thấy rằng một nỗ lực di chuyển mà không dùng đường chính là quyết định của cá nhân, và do đó, việc xoay sở ra sao hoàn toàn là chuyện của riêng người đó.
Đối với chúng tôi, điều đó thực sự cực kỳ bất hạnh. Dĩ nhiên, những nơi đầu tiên mà bất kỳ ai cũng sẽ kiểm tra chính là các tuyến đường di chuyển thuận lợi; việc cắt đứt mọi tuyến đường trốn thoát là bước đầu tiên để tóm gọn một tên tội phạm trong một bán kính tìm kiếm rộng lớn. Giống như cách cảnh sát ở Trái Đất thiết lập các trạm kiểm soát trên đường cao tốc, tiến hành lục soát tại các nhà ga trung tâm và đóng cửa các cổng lên máy bay ở sân bay, những kẻ truy đuổi chúng tôi chắc chắn sẽ canh chừng mọi ngả đường rời khỏi Berylin. Sẽ có lính canh ở mọi cổng thành kiểm tra hành lý, họ sẽ cấm che mặt, và việc kiểm tra để vào thành phố sẽ ít nới lỏng hơn rất nhiều so với trước đây. Tôi không mảy may nghi ngờ việc họ sẽ giăng ra một tấm lưới khít đến mức ngay cả một con mèo con cũng không thể lọt qua mà không bị tra hỏi.
Chúng tôi cần phải né tránh chính quyền cùng đám truy đuổi và đi bộ vượt qua vài trăm ki-lô-mét núi non chưa được thám hiểm trong khi đang dắt theo một thiếu nữ…
Chẳng khác nào tự sát.
Nếu chúng tôi có những con đường đàng hoàng để đi, tôi đã có thể xoay sở được. Tôi có thể tiến được khoảng 30 ki-lô-mét mỗi ngày khi đi bộ - ngay cả với đôi chân trẻ con ngắn ngủn của mình - trong khi vẫn dừng chân ở các quán trọ rải rác khắp vùng đất, và tôi có thể dễ dàng tăng gấp đôi con số đó nếu cưỡi trên lưng Castor hoặc Polydeukes. Dù có một cô nàng thiếu kinh nghiệm và quen được bảo bọc đi cùng, tôi dám thề là mình vẫn có thể đạt được tốc độ tương tự nếu kiếm được một chiếc xe ngựa; có vô số thương đoàn thường xuyên di chuyển giữa đế đô và các thủ phủ khu vực, nên việc tìm một chuyến cho chúng tôi ké xe chỉ là chuyện nhỏ.
Nhưng cái lưới đang vây bọc lấy chúng tôi sẽ ngày càng thu hẹp lại, và cuối cùng, việc trốn tránh những đôi mắt cảnh giác của đội tuần tra sẽ trở thành bất khả thi. Tôi không nghĩ đối phương là đám đần độn, nên chắc chắn chúng sẽ phong tỏa con đường dẫn đến Lipzi nhanh nhất có thể để ngăn cản chúng tôi tìm kiếm sự giúp đỡ.
Ơ… Bộ chúng ta tiêu đời rồi sao?
Nếu chỉ có tôi và Mika, chúng tôi hoàn toàn có thể dũng cảm đối mặt với hành trình hiểm trở ấy với một bức thư riêng gửi đến cô của tiểu thư Celia trong tay. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, chúng tôi lại phải bận tâm xem phải làm gì với vị tiểu thư đang gặp nạn này trong lúc chúng tôi vắng nhà. Khi chủ nhân của ngôi nhà vắng mặt, chúng tôi có thể nhét cô ấy vào xưởng thí nghiệm của tiểu thư Agrippina, nhưng tôi không thể cứ thế bỏ mặc cô ấy lại một mình với Elisa khi cô ấy có thể quay về bất cứ lúc nào.
Dù tiểu thư Agrippina không hoàn toàn vô tình, nhưng cô ấy có mức độ dung thứ bằng không đối với bất kỳ thứ gì mà cô cho là phiền toái. Nếu cô ấy trở về nhà và phát hiện ra tôi mang về một cục nợ di động mà cô chẳng có nghĩa vụ phải chăm sóc, cô ấy sẽ tống cổ tiểu thư Celia ra đường ngay lập tức. Tệ hơn nữa, tôi sẽ vô tình kéo chủ nhân mình vào một rắc rối có thể ảnh hưởng đến vị thế của cô ấy trong giới thượng lưu; tôi chắc chắn sẽ phải mặc cô ấy định đoạt sau khi cô ấy tự tay dọn dẹp mớ hỗn độn này theo cách cô ấy thấy hợp lý.
Và làm sao tôi có thể oán trách khi đây là quyết định do một tay tôi gây ra? Chẳng khác nào việc vứt một món đồ ở không gian sinh hoạt chung rồi lại nổi giận khi có kẻ khác đem vứt nó đi vậy.
Giá như tôi làm chủ được phép thuật bẻ cong không gian từ trước. Giá mà tôi thuần thục được kỹ năng đó, tôi đã có thể búng tay một cái và giải quyết mọi rắc rối của tiểu thư Celia dễ dàng như một bà tiên đỡ đầu vẫy đũa thần triệu hồi cỗ xe bí ngô cùng đôi giày thủy tinh vậy.
Tôi đoán lý do phép dịch chuyển lại vô hiệu hóa quá nhiều kịch bản thế này chính là vì nó bị khóa sau những yêu cầu kinh nghiệm cực kỳ đắt đỏ. Nếu tôi sở hữu kỹ năng của chủ nhân tôi, toàn bộ mớ bòng bong này sẽ được dọn sạch trong chưa đầy năm ngày: không chỉ giúp chúng tôi cắt đuôi hoàn toàn cơn ác mộng dưới cống ngầm bằng cách gửi thẳng tiểu thư Celia về nhà trọ của tôi, mà tôi còn có thể dịch chuyển đến một điểm ngẫu nhiên nào đó từng ghé qua trong chuyến hành trình ba tháng đến đế đô để tạo ra một lợi thế khổng lồ hướng về Lipzi. Từ đó, tôi chỉ việc cắm cổ chạy thẳng đến đích và hoàn thành nhiệm vụ!
Hừm… Đây đúng là kiểu cốt truyện phản cao trào khiến một người chơi phải tức điên mắng mỏ GM vì tội không chuẩn bị trước những trò lố của họ, và cũng là kiểu tình huống khiến GM phải hét lên rằng đáng lẽ họ nên kiềm chế lại.
"Ưm, nhưng mà không cần phải lo lắng thế đâu ạ! Tớ có phương tiện di chuyển mà! Tớ thừa hiểu là khoảng cách đó quá xa để có thể đi bộ tới nơi!"
"Phương tiện di chuyển?"
Hẳn tiểu thư Celia đã nhận ra sự bất an của chúng tôi, bởi cô ấy bắt đầu vội vã lên tiếng. Rõ ràng là cô ấy có cách nào đó để đi từ Berylin đến Lipzi mà không bị tóm.
"Tớ chưa thể tiết lộ chi tiết ngay lúc này được."
Cô nói tiếp.
"Nhưng nó sẽ đến vào ba ngày nữa. Nếu mọi thứ suôn sẻ, tớ sẽ có mặt ở Lipzi chỉ một ngày sau đó."
"Một ngày ư?! Thật khó mà tin nổi…"
"Ngay cả kỵ sĩ rồng cũng phải mất nhiều thời gian hơn thế. Cậu chắc là chỉ mất đúng một ngày thôi chứ?"
Sự kinh ngạc tột độ của tôi đi kèm với cái cái nghiêng đầu đầy vẻ tò mò thận trọng của Mika. Trong điều kiện bình thường, một con ngựa cũng phải mất vài ngày, và một sứ giả đi bộ phải mất từ hai đến ba tuần; việc thực hiện chuyến hành trình đó chỉ trong một ngày là điều vô cùng hoang đường. Địa long có thể vút bay qua bầu trời theo đường thẳng, nhưng chúng chỉ có thể được điều khiển bởi những tay nài dày dạn kinh nghiệm - với điều kiện là người ta có thể đánh cắp một trong những thứ vũ khí sống này ngay dưới mí mắt của nhá nước.
"Vâng, đúng một ngày! Các cậu cứ chờ mà xem, nhưng theo những gì tớ nghe được, chắc chắn nó sẽ chỉ mất một ngày thôi."
Tiểu thư Celia phồng ngực lên đầy tự tin, nhưng thái độ từ chối giải thích thêm của cô lại khiến tôi lo lắng. Hơn hết thảy, đôi mắt lấp lánh của cô mang theo một điềm báo nguy hiểm: bất kể phương thức trốn khỏi thành phố mà cô ấy đang có là gì, đó chắc chắn là một thứ mà vị tiểu thư tò mò này coi là trò vui. Chính thứ niềm vui đó là lý do khiến cô ấy vui vẻ bảo chúng tôi cứ chờ xem; dù biết rằng cô ấy làm thế chỉ với mong muốn mang lại niềm vui cho chúng tôi như những người bạn khiến tôi chẳng thể cằn nhằn được gì, nhưng thực sự thì cô ấy chẳng mảy may hiểu được mức độ nghiêm trọng trong tình cảnh ngặt nghèo của chúng tôi chút nào cả.
Thôi được rồi. Dù sao thì thế vẫn còn hơn là liều mạng đi bộ.
"Được thôi."
Tôi nói.
"Vậy chúng ta chỉ cần câu giờ trong ba ngày, đúng chứ?"
"Đúng vậy."
Cô đáp.
"Nhưng tớ e rằng việc cứ trốn ở đây…"
"Sẽ chỉ cho chúng ta khoảng một ngày là cùng."
Việc vạch ra một mục tiêu cụ thể khiến chiến thắng có vẻ nằm trong tầm tay, nhưng mọi thứ không hề dễ dàng như bề ngoài. Nghe thì có vẻ chúng tôi có thể né tránh sự phát hiện trong ba ngày nếu cố thủ một chỗ, nhưng điều đó hoàn toàn bất khả thi khi mà ở đây lại có sẵn một phương pháp vừa tiện lợi lại vừa mang tính ma thuật để truy lùng các đối tượng cần chú ý.
Tiểu thư Leizniz và tiểu thư Agrippina thường gửi những con hạc và bướm giấy đến chỗ tôi mà không lo làm lạc mất thông điệp nhờ vào hệ thống định vị tương tự như ma pháp tìm kiếm. Việc vị trí của tiểu thư Celia chưa bị lộ cho đến lúc này hoàn toàn có thể là do những kẻ truy đuổi cô không thuê pháp sư. Tôi nghi rằng bọn họ vẫn đinh ninh cô ấy chỉ là một tiểu thư được bảo bọc đang lang thang vô định khắp đế đô, và kết quả là họ vẫn chưa thực sự nghiêm túc; cô ấy đã suýt bị bắt khi chúng tôi chạm mặt, nên tôi đoán họ không muốn đẩy mạnh nỗ lực truy tìm hơn mức hiện tại nữa.
Nếu một pháp sư được đào tạo bài bản - giả sử như học trò của một học giả ma pháp chính thức - bắt đầu dò tìm một cách nghiêm túc, chúng tôi sớm muộn gì cũng bị tóm. Chúng tôi đã bị dồn vào chân tường dưới cống ngầm từ lâu trước khi kịp ngồi nhấp trà ở chiếc bàn này nếu như bọn chúng có sẵn một pháp sư ngay từ đầu.
"Một học giả ma pháp kỳ cựu có thể tóm lấy mục tiêu của họ giữa hàng chục nghìn người ở thành phố này trong chớp mắt."
Tôi giải thích.
"Một sợi tóc hay một mảnh móng tay cũng quá đủ để họ đánh dấu cậu rồi."
Ma pháp tìm kiếm lùng sục khắp các tấm vải của thực tại để tìm ra những dấu vết khớp với bất kỳ truy vấn nào được đưa ra. Bản chất chúng là những nếp nhăn hoặc vết bẩn để lại trên sợi dọc và sợi ngang của thực tại, và việc trốn trong góc tối nhất, sâu thẳm nhất mà người ta có thể tìm thấy cũng chẳng thể xóa bỏ được những bằng chứng đó. Những căn phòng bí mật được thiết kế để che chở cho các linh mục bị đàn áp hay những hầm mộ được xây dựng sâu trong lòng đất chẳng thể ngăn nổi một quy trình vốn vận hành trong các cõi siêu hình.
Tuy nhiên, nó cũng có những nhược điểm riêng. Việc tìm kiếm chỉ thực sự chuẩn xác khi được cung cấp một vật phẩm có mối liên hệ nào đó với mục tiêu.
Tôi không biết chắc chắn chúng tôi còn bao nhiêu thời gian trước khi họ dùng tới ma thuật, nhưng tính toán cả những bước chuẩn bị cần thiết, chúng tôi có nhiều nhất là một ngày; nếu họ đã bắt đầu thiết lập kết giới, họ sẽ ra tay vào đâu đó vào tối nay thôi… và những học giả ma pháp đủ khả năng phục vụ các gia tộc quý tộc thì ở ngay trong đế đô này. Tôi đã chẳng phải lo lắng về ba ngày chạy trốn nếu đối thủ của chúng tôi chỉ là cái loại gia tộc bần hàn chẳng có chút dính líu nào với học viện.
Điều đó có nghĩa là chúng ta không có thời gian để thong thả đâu.
"Đừng sợ."
Tôi nói.
"Tớ tin rằng mình cũng biết chút ít về cách đối phó với ma thuật đấy."
Tôi chỉ là một người hầu, chứ không phải một học giả ma pháp, nhưng cốt lõi của tôi vẫn là một tên ‘munchkin’ chuyên tính toán chỉ số để tối ưu hóa nhân vật. Tôi hiểu rõ hơn ai hết rằng những chiến thuật mà tôi không muốn phải đối mặt cũng chính là những chiến thuật khiến đối thủ của tôi cảm thấy khó chịu nhất; tôi luôn chuẩn bị sẵn các phương án dự phòng để khắc chế những thứ khiến tôi đau đầu.
Rốt cuộc thì, làm những gì mình muốn trong khi ngăn cản kẻ địch làm điều tương tự là một trong những chiến lược mạnh mẽ nhất trong bất kỳ trò chơi nào, dù đó là Ehrengarde, một trò chơi TRPG, hay trò chơi cuộc đời bao la sử dụng con người làm những quân cờ.
---
[Mẹo] Ma pháp tìm kiếm đề cập đến sự kết hợp giữa ma thuật thực thụ và thuật pháp, được dùng để truy lùng những dấu chân ma thuật do mục tiêu để lại, và nó có nhiều hình thức triển khai khác nhau. Các câu thần chú đơn giản nhất chỉ đơn thuần làm nổi bật các hạt mang mùi hương trùng khớp, nhưng hầu hết chúng đều hoặc tìm kiếm một mục tiêu được định trước, hoặc sử dụng một chất xúc tác để tìm ra ‘chủ nhân’ của chất xúc tác đó.
Tuy nhiên, những bậc thầy về ma pháp tìm kiếm lại đảo ngược kỹ thuật để xác định vị trí của mục tiêu bằng cách bắt đầu từ bằng chứng cho thấy mục tiêu từng thực sự tồn tại về mặt thể chất. Từ đó, họ tạo ra các mối liên kết ngữ nghĩa để tiếp cận điểm đến của mình một cách chắc chắn mà không phương pháp thông thường nào sánh kịp.
---
Dù thành phố này có là một nơi không bao giờ ngủ, phần lớn cư dân của đế đô vẫn đã cuộn mình chìm vào giấc ngủ khi Mẫu Thần lướt đi trên cung đường dịu dàng dọc bầu trời. Trong một căn phòng mờ ảo, ảm đạm, một người đàn ông phát ra một tiếng thở dài nặng nề. Ông ta mặc một chiếc áo choàng trùm đầu dày và màu tối, thể hiện rõ với thế giới rằng ông là một học giả ma pháp.
"…Thất bại rồi sao?"
Người phụ nữ đối diện ông cũng chính là kẻ đã truy đuổi Cecilia trên mái nhà hồi nãy. Cô ấy đã thay một chiếc quần ôm sát cùng áo trắng, khoác hờ chiếc áo khoác ngắn trên vai trái để tránh gây mất lòng bất kỳ vị quý tộc nào mà cô có thể diện kiến. Mái tóc cắt quá ngắn so với sở thích của phần lớn mọi người đã được chải ngược ra sau thật gọn gàng bằng một ít dầu dưỡng.
"E là vậy."
Trên chiếc bàn trước mặt người đàn ông bày ra tấm bản đồ chi tiết và mới nhất của Berylin. Nó không bỏ sót bất kỳ chi tiết nào, thậm chí cả những bí mật quân sự tối cao nhất; không một người bình thường nào có thể hy vọng chạm tay vào một thứ có chất lượng thế này.
Một con lắc lủng lẳng phía trên bản đồ, phần quả lắc là một khối kim tự tháp tam giác được cắt gọt từ đá hoàng ngọc xanh. Tên của loại đá quý này có nghĩa là ‘thứ được tìm kiếm’ trong các ngôn ngữ phương Nam được dùng ở các vùng duyên hải, và những công thức ma pháp được khắc trên các mặt đã củng cố thêm cho các thuộc tính vốn có của nó.
Vị học giả ma pháp đã cố gắng định vị cô gái thông qua thuật cảm xạ [note110931], một hình thức bói toán ban đầu vốn dùng để tìm kiếm nguồn nước và quặng chôn giấu dưới lòng đất. Trong thời gian gần đây, ý niệm mạo phạm vào lãnh địa của các vị thần cai quản mặt đất đã khiến người ta phải tạm gác lại công dụng ban đầu của nó - thậm chí đến cả giới học giả ma pháp cũng không muốn chọc giận các vị thần quá nhiều - nhưng nó vẫn được sử dụng phổ biến để tìm kiếm đồ vật hoặc người thất lạc.
"Chất xúc tác tôi mang theo quá yếu?"
Người phụ nữ hỏi.
"Đáng lẽ tôi phải biết một nhúm tóc đơn lẻ là chưa đủ…"
"Không, như thế là đủ dùng rồi. Thường thì tôi chẳng cần bất kỳ chất xúc tác nào để tìm kiếm một ai đó. Chẳng hạn như… cô có tình cờ biết ai trong đế đô này mà cô có thể xác định chính xác vị trí hiện tại của họ không?"
Nữ hiệp sĩ trầm ngâm suy nghĩ câu hỏi của vị học giả ma pháp trong giây lát, rồi nêu ra ba cái tên thuộc về những người đàn ông đã đi cùng cô trong ngày. Cô đã cho phép họ nghỉ ngơi vào ban đêm do cuộc tìm kiếm quá sức mệt nhọc, nên tất cả bọn họ đều có thể được tìm thấy ở khu vực dành cho người hầu trong dinh thự của chủ nhân cô.
"Karl đang ở đây, và Lars cũng vậy…"
Người đàn ông nhấc con lắc lên trên tấm bản đồ, và nó uốn lượn theo một cách thách thức trọng lực để chỉ thẳng vào tòa nhà mà người phụ nữ vừa mường tượng ra là nơi các thuộc hạ của cô đang ngủ.
"À, nhưng có vẻ như ngài Luitpold lại đang ở khu ổ chuột… gần mấy quán rượu, nếu tôi nhớ không nhầm. Bản thân tôi thời trẻ cũng từng ghé qua những cái động chuyên bán đồ có cồn đó."
Tên đần đó,
người phụ nữ nghĩ thầm trong khi cố kìm nén tiếng tặc lưỡi.
Sự thay đổi đột ngột trong góc độ của con lắc đã hướng sự chú ý của họ đến những quán rượu bình dân mà vị học giả ma pháp vừa nhắc đến, kèm theo cả một khu đèn đỏ nằm ngay gần đó.
Kỹ năng của người đàn ông là điều không phải bàn. Dĩ nhiên, bất kỳ ai biết rõ cô phục vụ cho gia tộc nào cũng có thể phỏng đoán ra - chủ nhân của cô vốn nổi tiếng đến mức đó. Bất cứ ai chưa từng nghe danh ông ta chắc chắn là một kẻ nhà quê chưa từng bước chân ra khỏi làng.
Tuy nhiên, cô rất rõ tính cách của tên thuộc hạ tài năng nhưng liều lĩnh đó, và hắn ta là một kẻ mê mẩn rượu chè cùng phụ nữ đến mức cuồng nhiệt. Thật dễ dàng để hình dung ra cảnh hắn phớt lờ mệnh lệnh đi nghỉ ngơi của cô; hắn từng ép một cậu bé từ một gia tộc nhánh lẻn ra ngoài đến khu đèn đỏ cùng mình để đỡ tốn tiền. Nhìn một kẻ ngốc như thế lén lút đi uống rượu để xoa dịu cơ thể nhức mỏi cũng chắc chắn như tiếng gà gáy vào buổi sáng vậy.
Khắc ghi trong đầu rằng cô sẽ bắt hắn viết bản kiểm điểm và chạy 50 vòng quanh Berylin vào lần gặp tới, sự chú ý của người phụ nữ lại hướng về con lắc đang dao động.
"Nhưng đây…."
Vị học giả ma pháp cất lời.
"…chính là vị tiểu thư mà chúng ta đang nhắc tới."
"Cái quái gì thế này?"
Cho đến lúc này, sợi chỉ vẫn luôn căng phẳng và chỉ thẳng vào một địa điểm duy nhất; giờ thì nó bắt đầu giật cục không mục đích về mọi hướng. Cứ sau vài giây, nó lại dừng lại tại chỗ một lát trước khi vút bay đến một vị trí hoàn toàn mới. Những nơi nó chỉ đến chẳng hề có chút logic hay quy luật nào: nó ra bên ngoài tường thành trong vài dịp, và có lúc thậm chí còn dừng lại ngay trên hoàng cung.
"Thông thường, ngay cả một nỗ lực thất bại cũng không mang lại những kết quả thất thường đến thế. Với kỹ năng của tôi, tôi có thể nói rằng… tệ nhất thì điểm đánh dấu cũng chỉ giới hạn trong một quận duy nhất. Xét việc tôi đang cầm tóc của cô ấy, tôi đã rất tự tin rằng mình có thể định vị chính xác tòa nhà mà cô ấy đang ở cơ đấy."
"Thế đây là cái gì?"
"Dù có phải nhắc lại lần nữa, tôi xin phép được hỏi liệu vị tiểu thư đó có rành rẽ về nghệ thuật ma pháp hay không?"
"Thật vô lý."
Người phụ nữ kinh ngạc đến mức để lọt ra một lời bất cẩn, nhưng vị học giả ma pháp hoàn toàn không có bất kỳ phản ứng nào. Thay vào đó, ông tiếp tục câu hỏi của mình bằng cách gặng hỏi xem liệu Nữ Thần Màn Đêm có ban phát bất kỳ phép màu nào có thể cản trở câu thần chú của ông hay không.
Lần này, cô không thể chắc chắn được nữa. Mọi thành viên trong gia đình mà cô ta phục vụ đều bày tỏ lòng thành kính với Mẫu Thần - dù mức độ đức tin của mỗi người là khác nhau - và các hầu cận của họ đều đã cải đạo như một lẽ tất yếu. Thế nhưng, bản thân cô lại biết rất ít về các phép màu: đó là những sủng ái từ thần linh ban cho người sùng đạo nhằm bảo vệ các tín đồ, và các tín đồ của mỗi tôn giáo đều che giấu những phần thưởng vô song đó khỏi tầm mắt của công chúng. Các giáo hội hiện đại đặt rất nhiều trọng tâm vào văn bản ghi chép, nhưng sự bảo mật bao quanh các phép màu lại khiến chúng chỉ được truyền miệng.
Do đó, những kẻ không có liên hệ gì với giáo hội chẳng có cách nào để tìm hiểu về các phép màu của họ. Dù hầu hết mọi người đều có hiểu biết chung về việc vị thần nào nắm giữ quyền năng trong lĩnh vực nào, nhưng các chi tiết vẫn là một vùng mờ ảo. Người phụ nữ không biết liệu các nhà lãnh đạo tôn giáo ngày xưa muốn tránh bị các chính khách lợi dụng quyền năng của họ, hay chính các thần linh đã buộc họ phải giữ bí mật, nhưng dù thế nào đi nữa, cô cũng chỉ là một giáo dân thông thường và không có cách nào để tìm ra.
Nữ Thần Màn Đêm được cho là ban phát sức mạnh của Ngài chủ yếu dưới danh nghĩa chữa lành, bảo vệ và che chở; thật khó để nói xem việc che giấu tung tích có thuộc về những loại đó hay không. Dù màn đêm buông xuống chắc chắn sẽ giúp che giấu những kẻ ẩn mình trong bóng tối, nhưng bản chất thực tế của Ngài lại chính là ánh trăng mang lại sự xoa dịu giữa không gian tối tăm ấy.
Bị kẹt ở thế bí, người phụ nữ không còn cách nào khác ngoài việc trả lời rằng cô không biết; vị học giả ma pháp liền tuyên bố rằng dù sao thì điều đó cũng khó xảy ra.
"Trong trường hợp đó…"
Ông ta tiếp tục.
"Cô có vô tình biết bất kỳ mối quan hệ hùng mạnh nào mà cô ấy có thể có trong đế đô này không? Cụ thể là một pháp sư, học giả ma pháp, hoặc ai đó có liên quan?"
"Điều đó cũng khó xảy ra lắm. Tiểu thư dành gần như toàn bộ thời gian để cầu nguyện trên đồi Fullbright, và những người bạn duy nhất của cô ấy trong thành phố chắc chỉ có vài chức sắc tôn giáo mà thôi."
Đồi Fullbright nằm ở vùng cực Nam của Đế chế, gần ngọn Đỉnh Núi Tinh Linh Băng Giá kỳ bí. Thật ra thì ‘đồi’ là một cách gọi sai sự thật: nó thực chất là một ngọn núi. Tên gọi của nó bắt nguồn từ sườn dốc thoải kéo dài dặm này qua dặm khác, nhưng đỉnh núi lại là ngọn núi cao nhất trong số tất cả các ngọn núi thánh của quốc gia.
Truyền thuyết kể rằng ánh trăng trên đỉnh núi chiếu sáng rực rỡ hơn bất kỳ nơi nào khác trong nước, đó là lý do tại sao các tín đồ của Nữ Thần Màn Đêm đã lập ngôi đền chính của họ ở đó. Những người tìm kiếm sự bảo vệ từ Ngài hoặc từ các tín đồ của Ngài sau đó bắt đầu tụ tập dưới chân núi, làm nảy sinh các nhà thờ và thị trấn ở vùng xung quanh.
Cơ hội để một tu sĩ tận tụy rời khỏi một nơi như thế là rất hạn chế. Không phải là họ không bao giờ thực hiện các chuyến truyền giáo, nhưng cô gái mà họ đang tìm kiếm chưa bao giờ được chọn để tham gia một chuyến đi như vậy. Ngoại trừ các tín đồ đồng đạo, cô ấy hoàn toàn không có cách nào để quen biết ai ở đế đô, chứ đừng nói đến bạn bè.
Người phụ nữ hỏi mục đích trong những câu hỏi của vị học giả ma pháp. Tóm lấy con lắc đang dao động, ông ta đáp rằng kết quả này không có gì là tự nhiên cả.
"Giả sử nhé, tôi niệm chú tìm kiếm này ở một quận hoàn toàn sai lầm, hoặc cố gắng tìm thứ gì đó không tồn tại. Con lắc sẽ chẳng mảy may nhúc nhích. Ngược lại, ngay cả khi được giao nhiệm vụ tìm kiếm một người mà tôi chưa từng gặp, một người mà tôi chỉ biết tên qua lời đồn, và có khuôn mặt không thể tưởng tượng nổi đối với tôi, thì con lắc vẫn sẽ chỉ đến một nơi nào đó, miễn là có đủ ma lực và kỹ năng."
"Nhưng đó không phải là những gì đã xảy ra. Có nghĩa là…?"
"Chúng ta đang bị cuộn vào một cuộc chiến tranh phản phép."
Bối rối trước cụm từ lạ lẫm, người phụ nữ yêu cầu vị học giả ma pháp giải thích, nên ông nói thêg.
"Chúng tôi, tầng lớp học giả ma pháp, thường có thói quen chiến đấu bằng ma thuật của riêng mình."
Về bản chất, ý ông là cô gái có một pháp sư hoặc học giả ma pháp đang hỗ trợ cô ấy trốn chạy.
"Thật nực cười! Tiểu thư không đời nào quen biết ai như thế! Cô ấy chẳng có gì ngoài bộ đồ trên người, thậm chí còn không có cả túi tiền khi trốn thoát!"
"Điều đó khiến khả năng cô ấy thuê một pháp sư là rất thấp… Xin lỗi đã mạn phép hỏi, nhưng vị tiểu thư đó… ừm, tôi nên nói thế nào nhỉ? Cô ấy có được ban phước về ngoại hình không?"
"Tôi… Dù đây là ý kiến từ tình cảm cá nhân với tư cách là một cận vệ trung thành, nhưng tôi tin rằng tiểu thư vô cùng xinh đẹp."
"Vậy thì tôi nghi ngờ rằng có một cậu thiếu niên rắc rối nào đó đã phải lòng cô ấy ngay từ cái nhìn đầu tiên. Cô thấy đấy, bất kỳ cậu con trai nào cũng từng mơ ước được giải cứu một thiếu nữ xinh đẹp đang gặp nạn vào một thời điểm nào đó trong đời."
Vị học giả ma pháp tháo chiếc nhẫn được nối với con lắc ra cùng một tiếng thở dài rồi cuộn tấm bản đồ lại. Lục lọi trong một ngăn kéo ở bàn làm việc, ông ta lấy ra thứ gì đó đang lấp lánh dưới ánh nến.
"Phản ứng hiện tại cho thấy sự hiện diện của tiểu thư đang phân tán khắp toàn bộ thị trấn."
Ngay khi nghe từ ‘phân tán’, cô gái liền tái mét mặt mày. Ý nghĩ duy nhất hiện lên trong đầu cô là tiểu thư của mình đã bị phanh thây và giấu xác ở khắp mọi ngóc ngách trong thành phố.
Vì những lý do không được tiết lộ, tiểu thư của cô có khả năng tái sinh rất cao, nhưng cô ấy vẫn có thể bị hủy hoại về mặt thể xác, và khả năng tái sinh tự nhiên của cô ấy có thể bị kéo dài thời gian. Phương pháp tàn bạo và kinh hoàng nhất để làm điều đó chính là phanh thây cô ấy ra và mang từng mảnh đi giấu ở những nơi khác nhau.
"Hãy yên tâm, ý tôi không phải theo nghĩa đen đâu. Đúng hơn là, câu thần chú sẽ chẳng đưa ra bất kỳ phản hồi nào nếu cô ấy đã bị giết."
"Th-Thật… nghe thật nhẹ nhõm. Nếu có chuyện gì xảy ra với cô ấy, chắc máu trong người tôi đông đặc lại mất."
Trong khi ra hiệu cho người đồng hành đang tái mặt của mình bình tĩnh lại, vị học giả ma pháp tháo nắp chiếc lư hương bằng bạc sáng bóng mà ông ta vừa lấy ra từ trong ngăn kéo. Trong suốt thời gian đó, tâm trí ông ta mỉa mai tự hỏi liệu phản ứng của người phụ nữ là do lòng trung thành hay chỉ vì muốn tự bảo vệ mình.
"Nếu phải diễn giải việc truy lùng ma pháp bằng những thuật ngữ đơn giản, thì đó chính là nghệ thuật quét qua sợi dây mà chúng ta gọi là thực tại để tìm kiếm một vết bẩn cứng đầu - đó chính là con người. ‘Đôi mắt’ của chúng ta bị thu hút về phía những vết nhơ nổi bật nhất, nhưng một loạt các vết lem có màu sắc tương tự sẽ khiến sự chú ý của chúng ta bị phân tán."
"Ý ông là sao? Ý ông là việc một nhóm các thành viên trong gia đình tụ tập đông đúc có thể khiến quá trình này trở nên khó khăn hơn sao?"
"Đó là một khả năng. Nhưng thông thường hơn, các phép thuật tìm kiếm sẽ bắt được những dấu vết do chính bản thân mục tiêu để lại: tóc rụng hoặc những món đồ dùng lâu ngày, vân vân."
"Thế thì dùng ma thuật để làm gì chứ khi mà…!"
"Tất nhiên, đây là vấn đề chỉ gặp phải ở những kẻ tay ngang. Dù chẳng đáng là bao, tôi tự coi mình là một chuyên gia trong lĩnh vực này, và các công thức của tôi sẽ loại bỏ những tiếng ồn mà các phép thuật kém cỏi hơn có thể vướng phải. Tuy nhiên, độ chính xác trong phương pháp của tôi chắc chắn sẽ giảm đi khi gặp phải những mồi nhử được chế tác tốt."
"Mồi nhử?"
Đáp lại câu hỏi của cô, vị học giả ma pháp giơ tay lên và bắt đầu liệt kê các ví dụ: một thứ đẫm trong máu, dấu vết ma pháp mạnh mẽ nhất trong số tất cả; một đồ vật được mang theo bên mình mọi lúc mọi nơi; một chiếc răng rụng, hoặc bất kỳ bộ phận cơ thể nào có tầm quan trọng lớn hơn một sợi tóc đơn lẻ; hay một kẻ đóng thế được chế tạo đặc biệt để đứng ra đóng thế cho nhân vật chính.
"Một kẻ đóng thế?"
Người phụ nữ lặp lại với vẻ kinh ngạc.
"Chúng được sử dụng bởi quý tộc nhiều hơn người ta tưởng. Suy cho cùng, việc để lộ vị trí của mình thường dẫn đến rất nhiều rắc rối."
Vị học giả ma pháp với tay ngược lại vào trong bàn làm việc để lấy ra một chiếc cối và chày. Ông nhúm một ít tro từ lư hương bỏ vào bát, sau đó mở một chiếc hộp nhỏ, ném cả nhúm tóc tìm thấy bên trong vào đó.
Nữ chiến binh đã lấy được thứ đó từ trên giường và chiếc lược của tiểu thư mình. Dù cô gái vốn dĩ rất ít khi tạo ra rác thải do quá trình trao đổi chất hiệu quả của chủng tộc cô, nhưng không có khả năng làm sạch cẩn thận nào có thể xóa bỏ hoàn toàn dấu vết của cô ấy. Dù người phụ nữ coi hành động của mình là một sự vị phạm tồi tệ, cô vẫn vội vã thu thập nhiều nhất có thể khi vị học giả ma pháp thông báo cho cô biết công dụng của nó.
"‘Kẻ đóng thế’ chỉ là những bùa chú đơn giản."
Vị học giả ma pháp giải thích.
"Lấy một mảnh giấy có khắc công thức ma pháp, bảo người đó viết tên mình lên đó, và làm ướt nó bằng vài giọt máu. Thế là đủ để hút đi phần lớn sự chú ý mang tính ma pháp ra khỏi mục tiêu. Không chỉ dễ dàng chế tạo, chúng còn rất tiện mang theo bên mình. Tôi đoán là có rất nhiều người đã chọn sử dụng chúng - tất nhiên là chúng chẳng thể cản trở được một người có kỹ năng như tôi đâu."
Người đàn ông nghiền nát phần tóc và tro lại với nhau. Dù tóc thường không phải là thứ dễ dàng bị phá vỡ, nhưng búi tóc lập tức vụn thành bột, kết hợp với tro để tạo ra một loại bột màu đen mịn.
"Các vật thay thế bằng giấy sau đó thường được giao cho các kẻ đóng thế theo kiểu truyền thống để tăng thêm độ tin cậy cho lớp ngụy trang của họ. Chúng vượt qua cả mức độ phổ biến trong công việc này, nhưng vẫn có một phương án thay thế vượt trội hơn hẳn về khả năng đánh lừa."
Vừa gõ nhẹ vào chiếc bát để gom toàn bộ bột vào một chỗ, vị học giả ma pháp vừa đặt nó xuống và lấy một chiếc tẩu thuốc từ trong túi áo ngực ra. Ông tao nhã mở hộp thuốc lá trên bàn làm việc và nhặt ra vài chiếc lá từ vô số chủng loại được nhồi bên trong. Sau khi nhồi chúng vào tẩu, ông rít một hơi và chúng tự động lóe đỏ lên mà chẳng cần đến một ngọn lửa nào trong tầm mắt.
"…Thứ đó là gì?"
Người phụ nữ hỏi.
"Một con búp bê."
Ông ta thở ra một làn khói mặc kệ cái nhíu mày của người phụ nữ, rồi ném những chiếc lá vào lư hương sau khi kết thúc hơi thuốc đầu tiên. Tàn hồng dần lan rộng thành một ngọn lửa bao trùm cả căn phòng, tỏa ra làn khói mang hương thơm kỳ lạ. Cuối cùng, ông đổ chỗ bột màu đen từ trong cối ra lư hương, khiến một cột lửa lớn bùng lên bắn thẳng lên trần nhà.
Không ngờ tới luồng sáng bất ngờ ấy, người phụ nữ đưa tay che mặt và theo bản năng với lấy con dao găm; ngay khoảnh khắc tiếp theo, cô nhận ra cái nóng đã tan biến. Cô ngẩng đầu lên và thấy cột lửa đã được thay thế bằng một đám mây khói đen lơ lửng một chỗ. Đám mây bắt đầu cuộn xoáy phía trên lư hương, rồi dần kéo giãn thành một hình thù mới: hình dáng của một con quạ.
Con chim vẫy đôi cánh khói to lớn của nó và đáp xuống bàn; thật khó tin, nó bắt đầu rỉa lông rỉa cánh như thật.
"Đi đi."
Theo lệnh của chủ nhân, con quạ bay vụt đi với dáng vẻ sống động đến kỳ lạ. Dù nó biến mất ngay khi đâm đầu thẳng vào cánh cửa, nhưng nó không hề tan biến; thay vào đó, nó lách qua những khe hở trên khung cửa.
"Với thứ này, chúng ta sẽ tìm ra cô ấy chỉ trong chốc lát nữa thôi. Cô có muốn dùng chút trà trong lúc chờ đợi không?"
Đặt chiếc tẩu xuống, vị học giả ma pháp bước về phía chiếc tủ ở góc phòng, lấy ra một bộ tách và thong thả bắt đầu pha trà. Vẫn còn ngỡ ngàng trước màn trình diễn huyễn bí vừa rồi, người phụ nữ phải tự trấn định lại để lịch sự nhận lấy lời đề nghị của đối phương.
Thay vì trà đỏ thông thường, ông đưa cho cô một loại trà thảo mộc pha từ những chiếc lá khô ngâm nước. Hương thơm dịu nhẹ giúp người phụ nữ thư thái sau một ngày dài bận rộn ngược xuôi; sự tỉ mỉ của ông ngay cả trong những chi tiết nhỏ nhặt đã nâng cao thêm đánh giá của cô về ông ấy - quả thực rất đáng công khi đã đuổi khéo tên học trò đi để tìm kiếm một chuyên gia thực thụ.
Sau khi uống được nửa tách, người phụ nữ ngẩng lên hỏi vị học giả ma pháp rằng quá trình này sẽ kéo dài bao lâu. Thế nhưng, mắt cô chợt hướng lên và thấy ông ta đang chết trân, tay vẫn cầm tách trà, với biểu cảm vô cùng nghiêm trọng.
Hơi thở của người đàn ông trở nên nông hơn, và ông ho sặc sụa như thể một nỗi đau khủng khiếp nào đó vừa giáng xuống thân xác. Người phụ nữ không sao mở miệng cất lời gọi ông được, nhưng sự bất thường trong phong thái của ông đã kéo cô thoát khỏi trạng thái thư giãn mà cô vừa mới đạt được.
Ngay khi cô kịp lấy lại tinh thần để lao đến bên cạnh, ông rít lên vì đau đớn và hất văng chiếc tách xuống sàn. Bộ đồ trà rõ ràng là đắt tiền và được dùng rất kỹ, tấm thảm của ông cũng sang trọng không kém, nhưng ông chẳng mảy may bận tâm - ông không thể làm thế được nữa. Vị học giả ma pháp đang bận túm chặt lấy lồng ngực mình trong một nỗ lực tuyệt vọng để giành giật từng ngụm không khí.
"Này! Ông không sao chứ?! Chuyện gì đã xảy ra vậy?!"
"Agh! Aurgh! Hrgh…gah!"
Cô lao đến ôm lấy khi ông ta oằn mình trong đau đớn, nhưng cơ thể ông co giật dữ dội đến mức hất văng cả một nữ chiến binh được huấn luyện bài bản ngã nhào vào ghế. Ông lảo đảo va đập, dẫm nát chiếc tách trà dưới chân và đá văng những mảnh vỡ đi khắp mọi hướng. Nhưng tất cả sự quằn quại ấy chẳng hề giúp xoa dịu cơn đau, và ông bắt đầu sùi bọt mép… đúng lúc đó, một tiếng động đinh tai nhức óc phát ra từ bên trong ngăn bàn làm việc của ông.
"Grah?! Hah… Hah…"
Âm thanh đó báo hiệu sự giải thoát cho người đàn ông khỏi cơn đau; ông quỵ xuống sàn với hơi thở dốc nhọc nhằn. Bàn tay phải của ông vẫn bấu chặt lấy ngực áo, trong khi tay trái bám lấy mép bàn để giữ thăng bằng.
"Ông có sao không?! Rốt cuộc chuyện quái gì đã xảy ra vậy?!"
"Ugh… Đây là… phản chấn?"
Với sự hỗ trợ từ người phụ nữ đang vỗ lưng, vị học giả ma pháp lảo đảo tiến về phía bàn làm việc trong khi chật vật chống chọi với cơn ho suốt dọc đường. Ông mở một ngăn kéo để kéo ra một khúc gỗ từ sâu bên trong: một khúc gỗ từng là một con búp bê có tạo hình giống hệt ông.
"Phản chấn? Phản chấn từ cái gì cơ?!"
"Bên trong ma thuật… phòng thủ."
Ông thở dốc.
"Tồn tại… một tập hợp con gồm các lời nguyền… Ugh… Tấn công bất kỳ ai… dám cố gắng dò dẫm vào một địa điểm…"
Con búp bê đó từng đóng vai trò thế thân cho vị học giả ma pháp. Nó được tạo mẫu bám sát theo ngoại hình của ông và khắc tên ông lên đó, đồng thời ông đã mang nó theo bên mình trong một khoảng thời gian khá dài để đảm bảo nó trở thành một vật thay thế mang tính ma pháp có sức nặng. Trên thực tế, nó mang sự tương đồng về mặt ý nghĩa lớn đến mức bản thân nó cũng tiềm ẩn rủi ro riêng: những tổn hại giáng lên nó có thể phản ngược lại và gây tổn thương cho chính ông. Nhưng sự nghiệp dài lâu chuyên đi lùng sục những kẻ thất lạc và những thứ không muốn bị tìm thấy đã thuyết phục ông rằng những nguy hiểm đó hoàn toàn đáng đánh đổi.
Và đêm nay, đánh giá đó đã cứu mạng ông. Nếu con búp bê này không phát nổ thay, cơ thể ông sẽ phải gánh chịu toàn bộ đòn tấn công chí mạng ấy.
Ông suy đoán rằng phép tìm kiếm của mình đã vướng phải thứ gì đó, hoặc chọc giận kẻ đang trú ngụ tại địa điểm đó. Ông đã ngay lập tức phải hứng chịu một lời nguyền chết chóc đến mức nó chẳng thèm phát ra một lời cảnh báo - mục đích duy nhất của nó là tước đoạt mạng sống. Lời nguyền này gần như chạm ngưỡng giới hạn tối đa mà khả năng của con người có thể chống chịu. Đây là vấn đề dành cho những tồn tại xuất chúng nhất trong số những người xuất chúng, là mảnh đất chỉ dành cho những ai đã đặt một chân ra khỏi ranh giới của sự sống và cái chết: các giáo sư của học viện.
"Tôi xin lỗi. Thật là một sự thất vọng cùng cực và thậm chí là nỗi ô nhục lớn hơn khi phải thừa nhận điều này… nhưng yêu cầu của cô vượt quá khả năng chịu đựng của tôi rồi."
"Tôi… tôi hiểu rồi."
Người phụ nữ nói.
"Và ông chắc là mình sẽ ổn chứ?"
"Đừng lo lắng. Tôi sẽ không chết vì chuyện này đâu… nhưng tôi xin được phép nghỉ ngơi trong đêm nay."
Mặc dù sứ mệnh của cô cấp bách tột độ, cô không thể ép vị học giả ma pháp tiếp tục làm việc sau khi chứng kiến tình trạng của ông ta; ông ta đang cố hết sức để tỏ ra khỏe mạnh, nhưng chỉ cần nhìn qua sắc diện của ông ta là đủ hiểu ông ta chỉ còn cách cái chết trong gang tấc.
"T-Tất nhiên rồi."
Cô nói.
"Xin hãy nghỉ ngơi và tự chăm sóc bản thân nhé."
"Cảm ơn lòng tốt của cô rất nhiều… Xin hãy tha thứ cho tôi, và tôi sẽ viết thư cho chủ nhân của cô vào sáng mai."
Sau khi được tiễn ra khỏi xưởng thí nghiệm của vị học giả ma pháp chân đi không vững, người phụ nữ bước vào chiếc thang máy của học viện và bắt đầu vò đầu bứt tai vì bực bội. Ông ta là học giả ma pháp giỏi nhất mà cô từng quen biết. Việc tìm kiếm một người vượt trội hơn ông ta đồng nghĩa với việc phải thông qua một trung gian trong gia tộc, nhưng những nhân vật có thế lực nhất đều đang ở dinh thự riêng của họ để chuẩn bị cho vụ thu hoạch sắp tới vào mùa thu. Mùa này quá xa mùa chính trị, nên chẳng có nhân vật nổi bật nào ở lại đế đô cả.
Những người ở lại cũng chẳng khá khẩm hơn cô là bao, và chắc chắn không ai có chuyên môn cao bằng vị học giả ma pháp vừa gục ngã kia. Dĩ nhiên, điều đó không tính đến chủ nhân của cô, người lẽ ra sẽ là sự giúp đỡ đáng tin cậy nhất mà cô từng có thể cầu xin… nếu như ông ấy không bận chìm đắm trong sở thích yêu thích của mình. Dù cô có cử bao nhiêu sứ giả đi tìm, người đàn ông đó vẫn kiên quyết không thèm đáp lời.
Ôi, sẽ thật sung sướng đến không thể tưởng tượng nổi nếu cô có thể buông xuôi tất cả và thốt lên rằng
Tôi đã cố gắng hết sức rồi!
và ngã ngửa ra một chiếc giường êm ái. Đáng buồn thay, điều đó không thành hiện thực. Dù không vui khi thấy tiểu thư của mình bị đẩy vào một tình thế không mong muốn, cô không thể phớt lờ các kế hoạch của gia tộc chính. Rất ít người có thể sinh tồn mà không có mối quan hệ họ hàng trong thời đại này.
Dù mệt mỏi đến đâu đi chăng nữa, người cận vệ vẫn không thể bỏ cuộc. Hơn hết thảy, cô đơn giản là không thể chịu nổi ý nghĩ chủ nhân của mình phải lang thang một mình ở những vùng đất xa lạ; sự xuất hiện của một pháp sư vô danh càng làm gia tăng thêm nỗi sợ hãi và bối rối trong lòng cô.
"Tiểu thư."
Cô thì thầm.
"Mechthild của ngài đang tới đây. Xin ngài hãy bình an vô sự."
Lên, phải, trái, rồi xuống; những chuyển động lắc lư dữ dội của chiếc thang máy theo những hướng không tưởng khiến Mechthild hoa mắt chóng mặt, nhưng cô vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh khi thò tay vào túi ngực và lấy ra một lọ thuốc nhỏ. Cô xé toạc lớp niêm phong - bao gồm cả nhãn cảnh báo ghi rõ chỉ được dùng một liều mỗi ngày.
Chỉ một ngụm của loại dược chất bí ẩn đó là đủ để xua tan cơn buồn ngủ, nhưng cô nốc cạn toàn bộ chai chỉ trong một hơi. Đây là lọ thứ ba trong ngày của cô, và cô vẫn còn hai lọ nữa; không còn nghi ngờ gì nữa, chúng cũng sẽ bay sạch trước khi bình minh ló dạng, nhưng chứng mất ngủ, tê liệt nhẹ và những lời phàn nàn từ vị pháp sư đã kê đơn chính là cái giá mà cô sẵn sàng đánh đổi để đổi lấy sự bình an trở lại của người mình bảo vệ.
Ngay khi chiếc thang máy phát ra tiếng leng keng, Mechthild lách người qua cánh cổng đang từ từ mở ra và lao vụt ra ngoài. Cùng lúc đó, chiếc thang máy bên cạnh cô bắt đầu chuyển động.
Dù thật kỳ lạ khi có ai đó quanh quẩn vào giờ này, cô phớt lờ nó và lao qua những hành lang vắng lặng của Krahenschanze để phá cửa xông ra cổng chính rồi ra lệnh cho gã lính gác đêm chuẩn bị cho cô một con ngựa.
Công việc đầu tiên của cô là trở lại cung điện và lắng nghe báo cáo của lực lượng cấm vệ quân hoàng gia. Từ đó, cô sẽ cần đến thăm chỉ huy đội lính canh thành phố; sau đó cô sẽ trở lại dinh thự để triệu tập người của mình, và… danh sách công việc cứ thế kéo dài mãi.
Tự vực dậy tinh thần cho một đêm dài đằng đẵng, người phụ nữ ngước nhìn bầu trời. Thực thể được chủ nhân cô tôn sùng đã đi được hơn nửa chặng đường, và cô thầm dâng lên mặt trăng một lời cầu nguyện lặng lẽ.
Cầu mong cho vị tiểu thư dũng cảm của mình được bình an.
Việc Nữ Thần ở trên cao có biết đến người hầu đang cầu nguyện hay vị chủ nhân đang trốn chạy kia hay không chẳng hề quan trọng; Ngài vẫn lặng thầm ngự trị, tắm mình trong ánh trang thanh khiết của màn đêm buông xuống trần gian.
---
[Mẹo] Việc niệm chú thành công không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc kích hoạt thành công hiệu ứng của ma pháp đó. Đốt một ngọn lửa dưới nước hiển nhiên sẽ dẫn đến việc nó bị dập tắt ngay lập tức. Một câu thần chú cũng coi như chưa được tung ra nếu mục tiêu kháng cự lại hiệu ứng của nó; điều tương tự cũng xảy ra nếu bản thân quá trình kích hoạt bị gây nhiễu.
---
Tôi thoáng nhớ lại việc các máy bay quân sự hiện đại được trang bị mồi nhử Chaff và pháo sáng như một biện pháp đối phó với tên lửa. Chaff đánh lạc hướng tên lửa dẫn đường bằng ra-đa bằng cách rải hàng loạt mục tiêu giả có thể nhìn thấy qua sóng điện từ, trong khi pháo sáng tạo ra lượng nhiệt lớn để lệnh cho tên lửa tầm nhiệt hướng sự chú ý ra xa khỏi máy bay.
Theo nghĩa đó, tôi cho rằng những lời dạy của các đại pháp sư từ ngàn xưa suy cho cùng có thể đúc kết lại thành thế này: Chaff và pháo sáng mang tính ma pháp chính là những thứ tạo nên các đòn phản phép tuyệt vời.
"Ôi… Thật kỳ diệu làm sao!"
"Anh khéo tay thật đấy, anh Erich!"
Hai đứa trẻ đăm đăm nhìn vào bàn tay tôi khi tôi đang sử dụng một loạt các Bàn Tay Vô Hình để gọt giũa một khối gỗ. Nhìn thấy khối vật chất thô kệch vô tri đổi dạng qua từng khoảnh khắc, để rồi được khoác lên mình một lớp sơn và kim loại tỉ mỉ chắc hẳn phải là một khung cảnh vô cùng cuốn hút.
Với sự có mặt của hai con người tương đương với hai học sinh tiểu học trong một chuyến dã ngoại đang há hốc mồm chiêm ngưỡng công sức của tôi, tôi đã hoàn thiện xong món đồ đầu tiên trong chuỗi rất nhiều mồi nhử. Phải thú thật là tôi làm khá ấn tượng đấy chứ: tôi đã dùng đống nguyên liệu chế tác quân cờ của mình để tạo ra một thứ trông giống hệt như những mô hình tỉ lệ 1/8.
Và vâng, về mặt kỹ thuật thì chúng không chỉ trông giống - chúng thực sự là những bức tượng nhỏ được làm theo tỉ lệ một-trên-tám… của tiểu thư Celia.
Chỉ số Khéo Léo của tôi đang gõ cửa mức Thần Ân, và kỹ năng Đẽo Gọt Gỗ của tôi đã đạt đến Thang VI. Kết hợp với việc tôi lỡ tay vung tiền mua đặc tính Mắt Tinh Tường, tôi có thể tái tạo lại mô hình của mình với độ chính xác đến giật mình. Những trận đấu Ehrengarde nảy lửa với tiểu thư Celia đã mang lại cho tôi một lượng điểm kinh nghiệm kha khá, nên tôi chẳng mảy may tiếc nuối khi đầu tư một ít.
Hơn nữa, giống như cách Thấu Thị nâng cao thị lực của tôi trong chiến đấu, Mắt Tinh Tường cũng sẽ làm điều tương tự trong cuộc sống thường ngày. Nó cho phép tôi nắm bắt các chi tiết tinh tế mà với không hề sai sót, đồng thời nó giúp tôi nhạy bén hơn với những thứ bất thường - tôi nghi ngờ Margit đã sở hữu đặc tính này từ lâu rồi, vì các ví dụ đi kèm bao gồm một nhành cây bị gãy do sức nặng hay một vết chân để lại trong lớp bụi - nên tôi chắc chắn nó sẽ vẫn tiếp tục hữu ích trong tương lai.
Được hậu thuẫn bởi sự đầu tư của bản thân, những bức tượng gỗ nhỏ bé của tôi suýt nữa đã khiến tôi chìm nghỉm trong sự tự mãn vì chúng quá đẹp. Bức tượng nhỏ tiểu thư Celia đang nhắm nghiền mắt, chắp tay cầu nguyện, khoác trên mình bộ lễ phục thánh thiện trông như được đúc ra từ nguyên bản; tôi chắc chắn bất kỳ ai quen biết cô ấy cũng sẽ có thể gọi đúng tên cô ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Từ đó, Mika bồi thêm một lớp lá kim loại mỏng để giúp nó cứng cáp hơn rồi tiến hành tô màu. Sản phẩm cuối cùng hoàn toàn đủ tiêu chuẩn mang ra cửa hàng bày bán.
"Cậu đúng là một kẻ cầu toàn."
Mika thở dài.
"Cậu biết là mình không cần phải làm nó đẹp đến thế này mà, đúng không?"
"Đừng nói thế chứ, bạn hiền. Cậu thì khác gì cơ chứ. Nhìn xem cậu đã đầu tư bao nhiêu chi tiết vào phần phấn má hồng trên da cô ấy kìa."
"Đó là vì cậu cứ soi mói từng chút mỗi khi tớ tô màu mấy quân cờ ehrengarde đấy chứ. [Không, phần đùi phải có sắc độ quyến rũ hơn của.], chẳng phải câu bảo thế sao?"
"Được rồi, Mika! Cậu câm miệng ngay cho tớ! Hơn nữa, cậu cũng đồng lõa như tớ thôi! Tớ thấy cậu dùng cọ tô vẽ hăng hái lắm đấy nhé!"
Tôi dùng một bàn tay thật của mình bịt chặt miệng đứa bạn trước khi chúng kịp buông thêm lời châm chọc nào về nhân cách của tôi, tiện tay với lấy thành phẩm chúng vừa đưa và giấu ra sau lưng.
Bây giờ là thời điểm thích hợp để làm rõ rằng bức tượng Cecilia tỉ lệ một-trên-tám này ra đời không phải vì vẻ đẹp của tiểu thư Celia bất chợt lọt vào mắt xanh của tôi; chúng tôi đang có một mục tiêu đàng hoàng cần giải quyết. Bản thân nó chỉ là một món đồ sưu tầm được chế tác tỉ mỉ có giá bán lẻ khoảng 29.800 Yên ở một cửa hàng mô hình, nên tôi đã khéo léo lồng ghép vào đó một vài ý nghĩa mang tính ma pháp.
Mỗi con búp bê đều có một ngăn nhỏ để chứa một mảnh giấy mà tiểu thư Celia đã viết tên mình bằng máu. Hiệu ứng mang lại là mỗi bức tượng chạm khắc đều trông giống cô ấy, mang cái tên Cecilia, và chứa một phần nhỏ cơ thể cô bên trong nó. Điều này biến những món đồ trang trí bằng gỗ này thành những vật phẩm ma thuật có thể chính là cô ấy. Một thuật toán ma thuật đang dò tìm vị trí của cô sẽ phải bối rối mà tự hỏi:
Đây có phải là cô ấy không? Cảm giác cứ như thật ấy nhỉ…
Dù cho một người bình thường có thể nhận ra ngay chúng là đồ giả chỉ bằng cái nhìn đầu tiên. Giống như một quả pháo sáng chất lượng cao đánh lừa thiết bị dẫn đường của tên lửa, điều quan trọng là những vật thay thế này có thể qua mặt được một câu thần chú vốn chẳng hề có tri giác.
"Đây."
Tôi thì thầm.
"Tôi đặt niềm tin vào các cô đấy nhé."
Triệu hồi một Bàn Tay Vô Hình, tôi nhấc bức tượng nhỏ mà tôi vừa vội vã giật lấy khỏi tay Mika vòng ra sau một góc tường. Tôi vờ như đang giấu chúng bằng chính ma thuật của mình, nhưng sự thật là tôi đang gửi yêu cầu đến những người bạn vô hình của mình thông qua tính năng Truyền Âm.
"Được rồi, được rồi, rất sẵn lòng. Một yêu cầu từ Người Được Yêu Thương của chúng tôi là một yêu cầu rất đáng được tôn trọng, và tôi đoán là việc hoàn thành những gì mình đã bắt đầu cũng là điều phải lẽ. Cứ bắt chúng tôi chạy loanh quanh tùy thích đi."
"Ú oà! Hừm, không biết Lottie nên đặt con tiếp theo ở đâu đây nhỉ…"
Bộ đôi tiên nhận lấy món đồ và biến mất đến một nơi nào đó không ai hay biết. Những món đồ giả mạo sẽ chẳng có tác dụng gì nếu chúng bị gom lại một chỗ. Nếu đối phương nắm được vị trí chung của chúng tôi, những kẻ truy đuổi có thể dùng quyền lực để ra lệnh lục soát từng ngôi nhà trong quận của chúng tôi. Ngược lại, nếu chúng bị rải rác khắp mọi ngóc ngách trong thành phố mà chẳng theo bất kỳ quy luật nào, những phát hiện của chúng sẽ chẳng thể hé lộ vị trí thực sự của chúng tôi.
Việc tự tay đi rải rác đống đồ thủ công bằng gỗ này còn hơn cả một sự phiền phức, nên nhiệm vụ vác chúng đến những nơi quái gở - và tất nhiên là cả một vài địa điểm đáng tin hơn - đã được giao cho Alf từng ban cho tôi đôi môi mang sức mạnh ma pháp.
Biểu cảm của Ursula thể hiện rõ rằng cô nàng chẳng mấy mặn mà gì với việc phải làm việc tăng ca sau khi vừa bò ra khỏi cống ngầm, nhưng Lottie lại có vẻ rất tận hưởng công việc này như một trò đùa tinh quái của loài tiên; dù thế nào đi nữa, nỗ lực của họ cũng cực kỳ hữu ích. Tôi chắc chắn rằng bây giờ bọn họ đang lén lút nhét những món đồ đó vào đủ loại ngóc ngách có thể khiến một học gia ma pháp phải đau đầu đến phát điên.
Dù vậy, tôi không muốn họ đi quá đà. Sự giống nhau đến ngạc nhiên của những bức tượng nhỏ đồng nghĩa với việc chúng có thể bị lợi dụng để yểm ma thuật nếu rơi vào tay kẻ xấu - dù việc thiếu đi mối liên hệ cá nhân với tiểu thư Celia khiến đây không phải là vấn đề quá lớn - nên chúng tôi vẫn phải thu hồi chúng sau này. Tôi đã nói rõ rằng họ phải ghi nhớ vị trí đã giấu tất cả, nhưng ngoại trừ Ursula ra, tôi vẫn thấy lo khi không biết Lottie có để tai lời cảnh báo của tôi không.
Tôi đoán tệ lắm thì mình cũng có thể dùng kẹo bánh và vài phút cho phép họ nghịch tóc tôi để dụ họ đi tìm lại mấy bức tượng bị thiếu. Dù vậy, tôi vẫn không sao vượt qua được nỗi sợ về việc rải rác những thứ mang tính cá nhân hơn cả thông tin cá nhân ra khắp thành phố. Tôi chỉ cầu nguyện rằng không có gã biến thái nào vô tình vồ được một con rồi mang về nhà riêng mà thôi.
"Ma thuật thật kỳ diệu làm sao."
Tiểu thư Celia lên tiếng.
"Nghĩ đến việc cậu có thể tạo ra những tác phẩm điêu khắc bằng gỗ thế này thật sự rất đáng kinh ngạc."
"Sức mạnh của ma thuật là nó có thể làm bất cứ điều gì miễn là người thi triển có đủ phương tiện để tìm hiểu cách thức."
Nữ tu sĩ vui vẻ dõi theo từng nhát dao và đục của tôi, trong khi em gái tôi lại thẫn thờ nhìn vào khoảng không - cô bé đang tập trung quan sát cấu trúc của chính câu thần chú nhiều hơn. Tôi từng phàn nàn về việc thu hút quá nhiều sự chú ý, nhưng những lời khen ngợi thuần khiết lại là một chuyện hoàn toàn khác.
Với việc này, chúng tôi đã được an toàn trước bất kỳ học giả ma pháp nào đang cố gắng dò tìm vị trí của mình… dù tôi rất tiếc phải bổ sung thêm cụm từ ‘tạm thời’.
Chúng tôi vẫn còn ba ngày nữa phải đối mặt; tôi chỉ có thể hy vọng rằng bất kể kế hoạch của tiểu thư Celia là gì, nó đều xứng đáng với tất cả nỗ lực này.
"Đến lúc đi rồi."
Tôi nói.
"Đi ư?"
Nàng Vampire lặp lại.
"Cậu định đi đâu à?"
Tôi đã cặm cụi làm việc này suốt mấy tiếng đồng hồ và đã cho ra lò hơn chục mô hình hành động hình tiểu thư Celia; thế này chắc là đủ rồi. Làm thêm nữa cũng chỉ khiến hiệu quả giảm dần mà thôi. Dù chúng tôi vẫn phải đối mặt với rủi ro hiệu quả của chúng bị giảm sút khi đám truy đuổi thu gom chúng lại, nhưng tôi hoàn toàn có thể làm thêm trong tương lai.
Giờ thì khi chúng tôi đã làm suy yếu hiệu quả của ma pháp tìm kiếm từ phía kẻ địch, đã đến lúc rời khỏi căn trọ ở khu ổ chuột này để đến một nơi mà không ai dám bén mảng tới: chúng tôi sẽ tiến thẳng đến Krahenschanze.
"Chúng ta có thể an toàn trước ma thuật."
Tôi giải thích.
"Nhưng chúng ta sẽ chẳng có nơi nào để trốn nếu chính quyền đến gõ cửa. Bọn chúng sẽ chẳng ngần ngại để phá cửa xông vào nhà của một tên đầy tớ mọn đâu."
Hơn thế nữa, tôi vừa cảm nhận được Tiểu Thư Tro Xám đang nổi cơn thịnh nộ ở trên lầu cách đây vài phút. Sự hiện diện của chúng tôi đã biến ngôi nhà thành mục tiêu cho các phép thuật tìm kiếm, điều đó đã chọc giận đến nàng Silkie. Với tư cách là người canh giữ căn nhà này, những vị khách không mời mà đến chắc chắn sẽ khiến cô ấy phật lòng. Cá nhân tôi thấy mình chỉ là một người thuê trọ đơn thuần nhờ vào lòng tốt của cô ấy; tốt nhất là nên né tránh nơi này trong lúc sóng gió. Thêm vào đó, một Silkie canh giữ lãnh địa của mình thì gần như bất khả chiến bại. Loài Alf sở hữu sức mạnh áp đảo hoàn toàn khi hoạt động trong lãnh địa của họ, và tôi sẽ rất áy náy nếu có một vị pháp sư tội nghiệp nào đó không biết gì lại phải gánh chịu cơn thịnh nộ của cô ấy chỉ vì vô tình xâm phạm.
"Tớ biết một nơi mà sẽ chẳng có ai dám bén mảng bước chân tới nếu không được mời."
"Khoan đã."
Mika cắt ngang.
"Cậu có chắc về chuyện này không, Erich?"
"Sẽ ổn thôi. Cô ấy sẽ chẳng phàn nàn gì về việc ta chỉ mời một vị khách đến chơi đâu."
Hơn nữa,
tôi thầm nghĩ,
mình vẫn giấu sẵn vài cái cớ trong tay cơ mà.
---
[Mẹo] Một cuộc chiến phản phép là cuộc đối đầu giữa các pháp sư được tiến hành thông qua ma thuật. Dù một số chỉ đơn thuần là những đợt trao đổi các phép thuật mang tính hủy diệt, nhiều cuộc chiến lại diễn ra hoàn toàn trong lĩnh vực gián điệp hoặc mưu lược. Giống như cách các cuộc chiến tranh truyền thống được diễn ra cả trên chiến trường lẫn hậu phương, chiến tranh phản phép bao gồm một phạm vi vô cùng rộng lớn các bối cảnh tiềm năng.
Ngoài ra, thuật ngữ này thường được sử dụng ngay cả khi một bên sử dụng các thánh thuật thay vì ma thuật.


