Phải mất một lúc chửi thề cái kiểu viết lách theo thủ tục cung đình thì tôi và Mika mới xả hết được cục tức để bình tĩnh lại. Tôi thực sự hoài nghi không biết có nổi một người nào trong toàn bộ Đế chế này được hưởng lợi từ sự tồn tại của thứ ngôn ngữ này không; nếu giới quý tộc Đế chế phải vượt qua chừng ấy chuyện chỉ để gửi một bức thư, thì có lẽ tước hiệu của họ giống như một hình phạt hơn là đặc quyền.
Dù sao đi nữa, chúng tôi bắt đầu sàng lọc những bức thư trang trọng ra khỏi những lá thư dễ đọc, và hai chiếc phong bì nhỏ xuất hiện từ giữa các trang giấy. Chúng đã được lồng vào phong bì lớn như một cặp búp bê Nga lồng nhau.
"[Gửi đến vị kiếm sĩ trẻ tuổi và dũng cảm]?"
Tôi đọc lớn lên.
"Cái này ghi là, [Gửi đến vị pháp sư đầy tham vọng và sáng giá.]"
Mika nói.
Mỗi người chúng tôi do dự cầm lấy chiếc phù hợp nhất với mình - nếu tôi được phép đính chính, tôi bị thúc đẩy bởi nỗi sợ chết thuần túy và sự dũng cảm là thứ xa vời nhất trong đầu tôi - và mở niêm phong ra. Tôi kéo phần nội dung bên trong ra: một dải giấy đơn con có đóng một loại con dấu nào đó trên đó.
"Cái khỉ gì thế này?"
Tôi hỏi.
Nhìn vào chất liệu, tôi thừa nhận thứ này không thể chỉ là một mẩu ghi chú hay thông điệp đơn thuần. Giấy da cừu dày thế này rất đắt đỏ, và nó chỉ được dùng cho các tài liệu quan trọng cần phải được bảo quản lâu dài.
"Tớ nghĩ đây là một tờ séc."
Mika chậm rãi nói.
"Tớ từng thấy những loại giấy tờ thế này khi chạy việc vặt cho các giáo sư của mình. Ồ, và nó ghi ở đây là do công hội thợ thủ công của thương nhân phát hành, nên chúng ta sẽ không phải lo bị lừa đảo đâu."
À, hóa ra nó cơ bản là một tờ séc.
Các dịch vụ cho phép những kẻ nắm giữ tiền tài gửi gắm tài sản thanh khoản dành cho bên thứ ba vốn có tuổi đời ngang ngửa với chính giới tư bản. Dải giấy này đại diện cho các chứng khoán nhằm mục đích thanh toán, đó là lý do tại sao vật liệu dùng để tạo ra nó lại có chất lượng tốt như vậy. Người nhận - tức là chúng tôi - chỉ cần mang thứ này đến công hội thương nhân để đổi lấy tiền tệ có thể sử dụng được. Sau đó, công hội sẽ xử lý công việc thu hồi các khoản phí từ Ngài Feige, hoặc bằng cách đến gặp trực tiếp ông ấy hoặc trừ số tiền tương ứng vào số dư tiền gửi ngân hàng.
Tiền mặt của Đế chế hầu hết đều bằng kim loại, điều đó khiến chúng trở thành một nỗi đau đầu tột cùng khi sử dụng trong các giao dịch quy mô lớn. Tiền xu nặng, cồng kềnh, và rất khó chứng minh là của mình ngay khoảnh khắc chúng bị đánh cắp. Tiền tệ thực thụ chỉ được dành riêng cho việc sử dụng cá nhân; những tờ giấy đại diện cho hàng chục ngàn đồng tiền vàng là thứ không thể thiếu trong một thời đại không có sự đảm bảo an toàn khi di chuyển trên đường. Ngay cả Đế chế Tam quyền với tất cả lực lượng tuần tra nhiệt thành của mình cũng không thể dẹp bỏ nạn cướp bóc dọc các con đường, nên phát minh ra séc là một điều hiển nhiên không cần phải bàn cãi.
Nói tóm lại, Ngài Feige đang cho chúng tôi tiền tiêu vặt. Quả là một người hào phóng.
Giới nhà giàu đúng là ở một đẳng cấp hoàn toàn khác biệt so với chúng tôi.
"Để xem nào, bao nhiêu thế này…"
Hử? Tôi nhìn thấy một từ kỳ lạ trên tờ giấy.
"Này, bạn hiền?"
"Cho tớ xin một giây nào. Tớ đang bận tự hỏi liệu mình có nên ra xin thầy thuốc vài giọt thuốc nhỏ mắt không đây."
Đúng là một sự trùng hợp.
Mình đoán những người bạn tốt lúc nào cũng có chung một tần số.
Đùa chút thôi, chứ tôi thực sự nghĩ rằng con số được viết trên đó chắc chắn phải là một sự nhầm lẫn. Văn bản không hề đề cập đến assarii, cũng chẳng nói đến librae. Không, nếu tôi không nhìn nhầm, tấm séc này thanh toán bằng đồng drachmae.
Drachmae - đồng tiền vàng ấy! Drachmae là loại tiền tệ có giá trị cao nhất trong quốc gia của chúng tôi, và không giống như cái sạp hội chợ nơi tôi từng bị lừa đảo thời thơ ấu, lần này chẳng có trò mèo ‘mười đồng tiền vàng’ giả nào cả; không, tờ séc ghi rõ ràng rành mạch là mười đồng drachmae!
Nhưng khoản tiền khổng lồ ấy chẳng mang lại chút phấn khích nào… mà chỉ toàn là sự kinh hãi.
Hãy thử nghĩ mà xem: gia đình tôi vốn dĩ tương đối khá giả, nhưng số tiền này đáng giá bằng tận hai năm thu nhập của chúng tôi. Thế này chẳng khác nào nhét vào tay một nhân viên văn phòng bình thường khoảng 40.000 đến 80.000 đô-la cả.
Tôi chẳng đời nào phàn nàn vì được cho nhiều tiền tiêu vặt hơn đâu, nhưng bất kỳ ai cũng sẽ phải hoảng loạn nếu đột nhiên tìm thấy cả một sấp tiền giấu trong phong bao lì xì của mình. Tôi biết mấy ông lão thường hay chiều chuộng trẻ con, nhưng thế này thì hơi quá đà rồi. Tôi nghi ngờ liệu mình có bao giờ kiếm được một khoản thu nhập kếch xù như thế này nữa hay không, kể cả trong những chuyến phiêu lưu sau này với tư cách là một mạo hiểm giả chuyên nghiệp. Bộ tôi phải đi hạ gục một con rồng đất - không, là một con rồng chính hiệu bằng xương bằng thịt - để bù đắp vào phần chênh lệch chắc?
"C-Cái này là… đây không phải là mơ đúng không? Tớ có thể mua… ồ, tớ có thể mua một cuốn sổ tay mới… không, một chiếc áo choàng… Tớ cũng có thể gửi tiền về nhà, và tớ có thể trả hết các khoản tiền học phí của mình, và, và…"
Bản thân cũng là một con đỗ khỉ nghèo, con số choáng váng ấy đã giáng thẳng vào đầu Mika và khiến cô ấy phải ôm lấy đầu trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm kìm nén sự bấn loạn của mình. Đầu cô ấy nghiêng sang một bên với một góc độ đáng lo ngại, chiếc cổ xoắn lại theo nhịp với những sợi suy nghĩ rối bời đang nảy số trong đầu.
"B-B-Bình tĩnh nào, Mika. N-Nào, ừm, chúng ta hãy bình tĩnh và, ơ… chúng ta cần phải bình tĩnh lại rồi đi hỏi lại các con số cho chính xác xem nào."
Nỗ lực khôi phục lại sự điềm tĩnh của tôi mang theo đầy những tiếng lắp bắp đến buồn cười, và bàn tay đang cầm tờ giấy da cừu bắt đầu tê rần đi.
"T-Tớ á? Không, cậu mới là người phải bình tĩnh lại đấy, Erich. Nhìn này, n-nhìn kìa! Không đời nào một người có n-nét chữ đẹp thế này lại có thể làm ra, ừm, một sai lầm ngớ ngẩn như thế… phải không? Phải không cơ chứ?! Tớ không bị điên vì quá phấn khích đúng không?!"
Sự hoảng loạn của Mika chẳng kém cạnh gì, và cô ấy bám chặt lấy tôi để xác nhận qua bờ vai tôi rằng chúng tôi không hề đọc nhầm cái gì cả. Nếu đây là một cuốn truyện tranh, chắc chắn đôi mắt ngấn nước của chúng tôi sẽ được vẽ thành những hình xoắn ốc quay cuồng vì mất phương hướng.
Cứ gọi chúng tôi là thảm hại đi, nhưng hai đứa chúng tôi chỉ là những đứa trẻ xuất thân từ tầng lớp lao động. Tôi chỉ là một tên người hầu phải chật vật kiếm từng xu mỗi ngày, còn cô ấy là kiểu sinh viên phải tự thưởng cho mình một bồn nước nóng để xả hơi. Làm sao chúng tôi có thể giữ được sự bình tĩnh khi một khoản tiền tương đương với hàng chục nghìn đô-la bỗng dưng rơi trúng đầu cơ chứ? Lần cuối cùng tôi được nhìn thấy một đồng tiền vàng bằng da bằng thịt là trong cái sự kiện hội chợ cách đây nhiều năm về trước, và đồng drachmae mà tiểu thư Agrippina hứa cho tôi khi đến Wustrow vốn chỉ được chia nhỏ thành tiền sinh hoạt phí và tiết kiệm. Nhưng giờ thì tôi đang có tận mười đồng á?
Cái đầu vừa mới được chữa lành của tôi lại bắt đầu quay cuồng. Kẻ bình thường nào lại đi giao số tiền này cho một kẻ vừa mới tỉnh dậy sau sáu ngày hôn mê chứ? Dù vui mừng đến mấy, sự choáng váng vẫn chiếm ưu thế; tôi không thể xử lý cảm xúc của mình đủ nhanh để theo kịp tình hình.
"Thôi."
Tôi nói.
"Đi ngủ thôi."
"…Ừm, đi chợp mắt cái đã."
Mika và tôi quyết định trốn chạy khỏi thực tại trước khi bộ não của chúng tôi quá nhiệt và tự thiêu rụi chính mình. Tôi cần phải ở một trạng thái tinh thần tốt hơn để mọi chuyện có thể ngấm vào đầu - cả những bức thư và mọi thứ. Một khi làm được điều đó, tôi sẽ cất đi một đồng drachmae cho tương lai và đổ toàn bộ số tiền còn lại vào học phí của Elisa. Hoàn toàn kiệt sức, cả hai chúng tôi bò lên chiếc giường mình đang ngồi và lăn ra ngủ thiếp đi. Sau đó, tôi sẽ thức dậy và tự mình đọc qua những bức thư, để rồi lại suýt ngất thêm lần nữa.
Ngài Feige đã quyết định không giao cuốn sách đó cho khách hàng của tôi. Không, làm thế thì dễ dàng quá. Ông ấy quyết định trao quyền sở hữu cuốn sách bị nguyền rủa đó cho tôi.
---
[Mẹo] Khoảng cách giàu nghèo trong thời kỳ này thực sự vô cùng khổng lồ so với Trái Đất hiện đại. Mỗi bản chép tay của Feige trị giá từ hàng chục đến hàng trăm đồng drachmae; khoản chi tiêu hằng năm của Agrippina cho việc đọc sách giải trí có thể dễ dàng chạm mốc ba chữ số; Leizniz đã vung tay tiêu hai trăm đồng chỉ để sắm sửa quần áo cho hai anh em từ Konigstuhl.
---
"Ah, thật vui khi thấy cậu bình phục, chàng kiếm sĩ trẻ."
Vị Iatrurge đã cho phép tôi dậy vận động nhẹ nhàng vào thời điểm Ngài Feige đến thăm chúng tôi, và ông ấy đã mang theo một món quà được bọc kín trong vải cùng cái lạnh đầu mùa của mùa đông phương Bắc. Ba ngày trước, ông ấy đã gửi thông báo trước về chuyến ghé thăm của mình đúng theo phong cách thường thấy của giới quý tộc; động tác biểu diễn lén lút thả một chiếc lá phép thuật đã khô qua ô cửa sổ khép kín để báo hiệu sự xuất hiện của mình chính là dấu ấn rõ ràng từ những năm tháng bôn ba kiếm sống tại các khu chợ khắc nghiệt của đế đô.
"Thật là một vinh hạnh lớn khi được đón tiếp ngài, thưa Ngài Feige."
Tôi nói, quỳ xuống và cúi đầu.
"Tôi rất vui mừng được tái ngộ ngài, đồng thời xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến lòng hiếu khách bao dung của ngài."
Chúng tôi, những kẻ thường dân, đều có một quy trình chuẩn mực để chào đón chuyến viếng thăm từ một thành viên thuộc tầng lớp thượng lưu. Cả Mika và tôi đều sống ở đế đô đủ lâu để biết rằng những quy tắc này là tuyệt đối, ngay cả khi chúng tôi biết vị quý tộc trong câu chuyện có tính cách thoải mái đến mức tha thứ cho những cuộc trò chuyện thông thường. Cho đến khi ông ấy chính thức cho phép chúng tôi thoải mái hơn, chúng tôi vẫn phải giữ thái độ kính cẩn.
"Nào, nào, không cần phải khách sáo thế đâu."
Với một cái phẩy tay đầy nhân từ, lão Treant ra hiệu cho chúng tôi đứng lên.
"Tước hiệu chẳng qua chỉ là những món đồ trang trí ở vùng đất này mà thôi. Quan trọng hơn, nhóc có thể giới thiệu cho ta vị pháp sư duyên dáng đang đứng bên cạnh đây được chứ?"
Đáng ngạc nhiên thay, Ngài Feige ăn mặc vô cùng bảnh bao. Bộ áo doublet và quần dài màu xanh sẫm rất hợp với làn da sần sùi như vỏ cây cùng điểm nhấn bạc trên phần tán lá của ông. Dù thiết kế cẩn trọng nhấn mạnh phong thái điềm đạm của người đàn ông, nó vẫn giữ lại các yếu tố truyền thống trong trang phục mà giới quý tộc Rhine hết mực ca ngợi - bất chấp các xu hướng thời trang. Trên thực tế, gia huy của ông thậm chí còn được thêu lên chiếc áo khoác ngoài khiến trang phục của ông hoàn toàn phù hợp cho một cuộc gặp gỡ với những đồng liêu quý tộc.
Đây rõ ràng là quá mức cần thiết cho một chuyến thăm hai đứa trẻ xuất thân bần hàn, trọng lượng của sự tôn trọng mà ông dành cho chúng tôi càng trở nên nặng nề hơn trên vai tôi. Tôi suýt chút nữa không kìm được mà muốn lùi lại vì ngại ngùng.
"Đây là người bạn thân thiết của cháu."
Tôi giới thiệu.
"Cô ấy chính là vị pháp sư mà cháu từng nhắc đến trong lần đầu tiên đến báo cáo với ngài."
"Thật vinh dự khi được gặp ngài, thưa Ngài Feige."
Mika tiếp lời.
"Cháu là Mika, một học viên của Học Viện Ma Pháp Hoàng Gia, Phái Sơ Quang. Cháu xin gửi lòng biết ơn sâu sắc nhất tới sự chăm sóc ân cần của ngài khi đã tận tình điều dưỡng cho cháu và người bạn thân thiết hồi phục sức khỏe. Cháu xin thề có ngày sẽ trả món nợ ân tình này cho ngài."
"Thôi nào."
Ngài Feige nói.
"Đừng quá cứng nhắc như thế, những người hùng nhỏ tuổi. Ta cũng từng là một chồi non non trẻ, và chẳng qua chỉ là một cành cây đơn độc từ một cổ thụ già cỗi mà thôi. Nào, chúng ta ngồi xuống đi. Ta có mang theo bánh ngọt từ một tiệm bánh trong thị trấn cho hai đứa đấy."
Theo lời mời của ông, tôi dẫn ông đến chiếc bàn trà và kéo ghế giúp. Dù là tiểu thư hay quý ông, người có địa vị thấp hơn luôn được kỳ vọng sẽ làm điều đó đối với những người bề trên.
Bộ đồ nội thất này thuộc về vị thầy thuốc, người đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ ngay khi nhận được tin Ngài Feige sắp tới. Dù đủ sang trọng để phù hợp với gu thẩm mỹ của một pháp sư, nó trông lạc lõng một cách kỳ cục bên cạnh những chiếc giường bệnh; dù vậy, nó lại kết hợp rất ăn ý với vẻ ngoài trang nghiêm của vị treant. Khi tôi mời vị quý ông ngồi xuống, Mika mang đến chiếc ấm trà mà cô ấy đã chuẩn bị từ trước. Một sự thể hiện giàu có khác, chúng tôi đã được tặng một bộ đồ sứ màu trắng ngà để tiếp đãi khách. Bộ ấm chén của tiểu thư Agrippina sành điệu hơn hẳn chỗ này, nhưng dù vậy, bộ ấm trà này cũng nằm ngoài tầm giá của chúng tôi từ lâu rồi.
Tôi từng thấy tò mò vì sao một học giả ma pháp đủ tài năng để tinh thông ngành y học lại chọn sống ở tận chốn thâm sơn cùng cốc này, nhưng giờ thì tôi cảm thấy mình đã hiểu lý do. Bản thân bệnh viện tuy trang nghiêm nhưng lại giản dị, và rõ ràng là Ngài Feige đánh giá cao cách lựa chọn trang trí của vị thầy thuốc. Giống như bậc thầy sao chép, vị thấy thuốc chắc hẳn đã chán ngấy Berylin nên mới dạt về đây.
Sau khi ngồi xuống, chúng tôi cùng nhau thưởng thức một bữa trà thư giãn. Mika đã pha một tách hồng trà hoàn hảo, và có vẻ như Ngài Feige rất thích loại rễ cây mà cô ấy đã sử dụng. Với sự hanh khô của những tháng đầu mùa đông, lão Treant già luôn có nhu cầu cấp bách trong việc bổ sung nước.
Chúng tôi bóc gói những chiếc bánh ngọt mà ông mang đến, và chúng ngon miệng không kém. Không quá ngọt, món ăn nhẹ làm nổi bật hương vị thơm ngon của trà với một chút mật mía tinh tế cùng độ dai vừa đủ để thỏa mãn vòm miệng.
Cuộc trò chuyện của chúng tôi chuyển từ những màn giới thiệu, lịch sử cá nhân cho đến những ký ức cũ… toàn là những chủ đề thú vị để chia sẻ. Than ôi, bầu không khí yên bình ấy chỉ kéo dài cho đến khi chúng tôi kết thúc câu chuyện về những niềm vui và nỗi nhọc nhằn khi làm việc ở Berylin.
"Ta hiểu rồi."
Ngài Feige lên tiếng.
"Với từng ấy kinh nghiệm, chẳng có gì ngạc nhiên khi hai đứa lại hoàn thành một chiến công ấn tượng đến thế. Quả thực, hai đứa hoàn toàn xứng đáng với sự tin tưởng để ta trao lại thứ này."
Hài lòng với năng lực của chúng tôi, ông ấy đưa tay vào túi áo trong và lấy ra một chiếc hộp bằng gỗ. Nó rõ ràng là quá lớn để có thể nhét vừa vào chiếc áo doublet của ông ấy: cụ thể hơn, nó vừa đủ lớn để bao bọc trọn vẹn cuốn sách tà ác mà ông từng cho tôi xem ở văn phòng của mình.
"Urp."
Tôi không khỏi rên rỉ khi những ký ức cũ ùa về trong tâm trí.
"Cái gì thế kia?"
Đôi mắt của Mika mở lớn khi cô ấy nhìn chằm chằm vào những hoa văn phong ấn phức tạp được chạm khắc trên gỗ.
Những họa tiết chạm khắc này chẳng phải là những chi tiết trang trí đơn thuần; thay vào đó, mảng đường cắt nhau hỗn độn ấy chính là thứ xa vời nhất so với sự đối xứng mang tính thẩm mỹ vốn thống trị gu thẩm mỹ của Đế chế. Quá méo mó để có thể coi là phép thuật và quá báng bổ để là tác phẩm của các vị thần, thiết kế gớm ghiếc ấy chỉ có thể là một chiếc ổ khóa dùng để kìm kẹp một thứ còn kinh tởm hơn thế. Chỉ khi nhìn từ xa, tôi mới nhận ra rằng những nét vẽ vô luật lệ ấy thực chất sắp xếp thành một tập hợp những bọt khí.
"Ta xin trao lại cho hai đứa phần thưởng cho những nỗ lực của mình: Tuyển Tập Các Nghi Lễ Thần Thánh Bị Lãng Quên."
"Cảm ơn…"
Tôi nuốt ngược cục nghẹn trong cổ họng khi đón lấy chiếc hộp.
"Cảm ơn ngài rất nhiều."
Sự hiện diện của cuốn sách bị nguyền rủa vẫn vô cùng áp đảo, bất chấp việc nó đã được phong ấn. Tôi chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc tưởng tượng ra những thảm cảnh gì đang chờ đợi mình nếu tôi dám cầm nó bằng tay trần.
"Cuốn sách đã được cố định bằng bốn lớp bảo vệ thần thánh, tám lớp ma thuật và một ổ khóa vật lý. Đừng sợ, những anh hùng bé nhỏ. Chiếc hộp đó sẽ không tự mở ra chỉ vì một tai nạn ngẫu nhiên đâu; hai đứa có thể bỏ mặc nó trong một ngăn kéo không dùng đến cho đến tận cùng vũ trụ, nếu hai đứa muốn thế."
Thành thật mà nói, tôi bắt đầu có cảm giác rằng làm như vậy mới là lựa chọn tốt nhất: tôi muốn chôn vùi thứ quái quỷ này sâu xuống dưới lòng đất đến mức chẳng ai có thể tìm lại được nó nữa. Lúc nhận nhiệm vụ, tôi chẳng nghĩ ngợi nhiều, nhưng quỷ thần ơi, cô ấy rốt cuộc muốn dùng cái hiện thân của sự ác niệm này để làm gì cơ chứ? Tôi vốn biết cô ấy là một kẻ ham đọc sách đến mức tội lỗi và vô độ thông qua danh sách những tài liệu mà cô ấy bắt tôi đi lấy từ giá sách của mình hay thư viện của học viện, nhưng tôi hoàn toàn không thể tài nào hiểu nổi tại sao cô ấy lại muốn đọc thứ này.
"Ta cầu mong rằng sư phụ của hái đứa sẽ dùng đến sự khôn ngoan sáng suốt khi đối phó với nó."
Ngài Feige nói.
"Để an toàn, ta khuyên hai đứa nên cất riêng chiếc hộp và chiếc chìa khóa ở hai nơi khác nhau."
"…Chúng cháu sẽ ghi nhớ lời khuyên cẩn trọng của ngài. Mika, cậu giữ cái này nhé?"
Khi tôi cầm lấy chiếc chìa khóa bằng đồng nặng trịch, một suy nghĩ bất chợt nảy sinh trong đầu tôi: tại sao không thử nhét nó vào ổ khóa nhỉ? Tôi biết bản thân chiếc chìa khóa không mang bất kỳ lời nguyền nào, nên đây chắc chắn là tiếng gọi của sự hư vô [note110494] từng khẩn khoản bắt tôi phải đọc nó trong lần chạm trán đầu tiên.
Mika nuốt khan. Sau khi liếc qua lại giữa tôi và chiếc hộp, cuối cùng cô ấy cũng gom đủ dũng khí để chìa tay ra cùng một cái gật đầu. Tôi thả chiếc chìa khóa vào lòng bàn tay cô ấy, và những ngón tay run rẩy của cô siết chặt lấy thanh kim loại. Cô ấy nhanh chóng giấu nó vào túi áo trong để xua đi bầu không khí u ám đang vương vấn.
Về phần mình, tôi nhặt chiếc hộp lên và nhét tút xuống tận đáy chiếc ba lô đặt cạnh giường. Tôi moi ra mọi thứ mình đã gói ghém, bao gồm cả những bộ quần áo dự phòng mà tôi chưa hề chạm đến, chỉ để chôn vùi cuốn sách ở vị trí sâu nhất. Tôi tự nhủ sẽ không để bàn tay mình thò vào trong cho đến khi về tận nhà.
"Hrm."
Ngài Feige càu nhàu.
"Ta rất tiếc vì đã làm hỏng buổi trò chuyện vui vẻ của chúng ta. Đáng tiếc là ta không thể cứ để mặc vấn đề này lơ lửng chưa được giải quyết."
"Chuyện gì đến rồi cũng phải đến thôi."
Tôi nói.
"Ngài không cần phải quá bận tâm đâu ạ, thưa ngài."
Khi hiện thân của sự tà ác đã khuất khỏi tầm mắt, tâm trí mệt mỏi của tôi cuối cùng cũng lấy lại được sự sắc bén. Giờ đây, khi đã biết nó có thể khó chịu đến mức nào khi bị nhốt lại, tôi càng cảm thấy biết ơn vì mình đã được tha khỏi cái số phận phải vác nó đi vòng quanh trong trạng thái trần trụi.
"Nhưng rốt cuộc thứ đó là gì vậy ạ?"
Mika hỏi, tay vẫn nắm chặt chiếc chìa khóa trong túi.
"Một vị thần bị lãng quên là gì cơ chứ?"
Dù cô ấy nói giống như đang lẩm bẩm với chính mình hơn là hỏi Ngài Feige, nhưng tôi thì từng quá sợ hãi nên thậm chí chẳng dám thốt lên điều đó khi lần đầu tiên nhìn thấy cuốn sách.
Lão Treant khẽ càu nhàu và vuốt cằm. Những chiếc lá trắng trên bộ râu của ông trông giống như làn sương mai, và đôi mắt bọ hung lấp lánh của ông chiếu xuyên qua lớp màn mờ ảo; ông đang cố đánh giá xem mình có thể tiết lộ cho chúng tôi bao nhiêu phần.
"Sức mạnh thần thánh bắt nguồn từ đức tin."
Ông bắt đầu.
"Uy quyền của các vị thần được sinh ra từ tình yêu của những sinh thể bậc thấp. Tuy nhiên, không có gì đảm bảo rằng sức mạnh của họ sẽ đi theo một con đường chính trực."
"Ý ngài là sự khác biệt giữa các vị thần thiện và ác?"
Tôi hỏi.
"Không, chàng trai ạ, đó chỉ là những sự bất đồng trong giáo lý hay giá trị cá nhân mà thôi. Phải nói thế nào nhỉ? Thiện ý không phải lúc nào cũng được chào đón trong thế giới của chúng ta, hai đứa thấy đấy. Lấy ví dụ…"
Ngài Feige bắt đầu kể về một vị thần cổ đại ở một vùng đất tít tận phương Đông của chúng tôi. Nó không còn bất kỳ tín đồ nào nữa, nhưng vào thời hoàng kim của mình, nó từng truyền bá tên tuổi của mình với giáo lý rằng ‘cái chết là sự giải thoát’. Vị thần này từng tuyên bố cõi phù du này vốn chẳng hề có lấy một chốn nghỉ ngơi; sự thống khổ của người phàm phổ biến đến vậy đơn giản là vì đó là tất cả những gì thế giới của họ chứa đựng. Tôi có thể hiểu được lập luận đó. Di Lặc, vị Phật tương lai từng đưa tôi đến thế giới này - ít nhất là theo những gì tôi có thể suy luận - và bậc tiền bối của Ngài là Thích-ca Mâu-ni cũng đã đi đến cùng một kết luận trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh.
Nguyên tắc cho rằng sự thấu hiểu về những nỗi đau khổ mà thực tại phù du mang lại là điều kiện tiên quyết để hiểu được sức nặng của sự giải thoát khỏi nó đã nắm bắt được gốc rễ cơ bản của Phật giáo; nhưng vì lý do gì đó, vị thần mà Ngài Feige nhắc đến lại quyết định tuyên bố tự sát và giết người là những hình thức bác ái cao nhất, dạy dỗ các tín đồ của mình rằng việc tước đoạt mạng sống chính là thứ thiện ý thuần khiết nhất.
Các điện thờ láng giềng đã lên án vị thần báng bổ đó và tiêu diệt cả nó lẫn các tín đồ của nó. Ngày nay, nó chỉ là một kẻ phản diện khác trong biên niên sử lâu đời của lịch sử, với vỏn vẹn vài dòng kinh văn mang tên nó.
"Vô số tội ác xuất hiện từ những thiện ý."
Ngài Feige nói.
"Ngay cả trong Đế chế, chúng ta cũng có những lãnh chúa thực hiện những cuộc cải cách thảm họa, những tổng sụp đổ vì sự tử tế đặt sai chỗ, và những thị trấn chìm trong biển lửa khi những hành động xuất phát từ ý tốt lại chuyển biến theo chiều hướng xấu… Danh sách này còn dài lắm."
Tương tự như vậy, ông giải thích rằng trong khi rất nhiều vị thần đã bị khuất phục do hậu quả từ lòng vị tha sai lầm của họ, chưa từng có ai bị xóa sổ tên.
"Dù ý định của họ là tốt hay xấu, các vị thần chỉ bị lãng quên khi sự tồn tại của chính họ bị coi là một tai họa trên hành tinh này. Được hiện hữu, được biết đến, và được nhắc đến chính là tội lỗi lớn nhất của họ; họ mang sự dị giáo tối cao đến mức thiên đường cho phép những kẻ phàm trần được phép phạm vào sự cấm kỵ cao nhất là sát thần. Hai đứa tốt nhất là không nên nghĩ về chúng quá sâu sắc."
"Chỉ việc biết về chúng thôi cũng có thể mang lại tai họa cho chúng ta sao ạ?"
"Đúng vậy. Một số vị thần bị lãng quên sẽ nguyền rủa linh hồn nhóc đến tận cùng thời gian nếu nhóc dám thốt lên tên của chúng, và những kẻ khác sẽ bắt đầu âm mưu ngay khi tâm trí nhóc nhận thức được chúng. Do đó, chúng ta chôn vùi chúng cùng với biệt hiệu của chúng, mãi mãi bị giam cầm trong một vùng đất không có sự tưởng nhớ. Bản thảo mà ta dùng để nghiên cứu vốn chỉ là bản sao của một bản sao từ nguyên tác đã qua nhiều lần chuyển ngữ, vậy mà ta vẫn có thể gặp nguy hiểm nếu bản thân không phải là một Treant."
Ôi mẹ ơi.
Cuốn sách đó là một bản dịch bốn thế hệ, vậy mà nó vẫn tỏa ra một bầu không khí điềm gở đậm đặc. Ngài Feige quả thực phải rất xuất sắc thì mới có thể cắn răng hoàn thành công việc của mình trong những điều kiện như thế.
"Hrm… Ta lại làm hỏng bầu không khí bằng những lời lẽ mệt mỏi này rồi. Nào, chúng ta chuyển sang chuyện khác đi."
Lão Treant uống cạn phần trà còn lại và xua tan bầu không khí nặng nề bằng một tiếng vỗ tay thật lớn và nở một nụ cười rạng rỡ nhất. Thay vì nhắc đến những vị thần bị lãng quên, ông yêu cầu chúng tôi kể cho ông nghe một câu chuyện.
"Chính xác thì điều gì đã xảy ra trong mê cung ichor thế?"
Tất nhiên, tôi đã kể cho ông ấy nghe một bản tóm tắt chung về các sự kiện khi trở lại Wustrow, nhưng tôi đã bỏ qua hầu hết các chi tiết để đẩy nhanh quá trình tìm kiếm một Iatrurge. Những gì ông ấy đang đòi hỏi lúc này là một lời kể lại thật đầu đuôi gốc ngọn.
Tôi liếc nhìn Mika. Cô ấy đang nhìn tôi chằm chằm như muốn xin phép được lên tiếng… nên tôi đành chịu thua và gật đầu. Từ chối yêu cầu của một quý tộc là một việc vô cùng khó khăn, và thực ra chúng tôi cũng chẳng có gì phải giấu giếm cả.
Giờ thì, tôi biết đây không phải là điều nên khẳng định với sự chắc chắn như vậy, nhưng tôi thực sự không có tài năng văn chương. Tôi từng học cách viết Thượng Lưu dưới sự hướng dẫn của tiểu thư Agrippina như một phần nhiệm vụ của mình, và lời ca ngợi lớn nhất của cô ấy dành cho kỹ năng của tôi lại được thể hiện qua việc hoài nghi liệu tôi có bao giờ đủ khả năng bước chân vào giới thượng lưu hay không.
Thói quen khó hiểu là nhét đầy thơ ca vào trong thư từ - được rồi, có lẽ tôi có thể thỏa hiệp với những bức thư, nhưng tôi nhất quyết từ chối thừa nhận sự cần thiết của chúng trong các tài liệu chính thức - đã nhanh chóng vạch trần năng lực nghèo nàn của tôi. Thành thật mà nói, tôi không thể tự ép mình lãng phí điểm kinh nghiệm cho những thứ như thế, nên tôi đã sớm chấp nhận rằng bản thân vốn chẳng có duyên với việc kể chuyện.
Tất nhiên, tôi sẽ phải cắn răng chịu đựng nếu muốn trở thành một nhà ngoại giao hay học giả ma pháp, nhưng với tư cách là một kẻ nuôi mộng làm mạo hiểm giả, tôi chẳng có nhu cầu gì về việc phải thông thạo ngôn ngữ cả.
Tuy nhiên, điều đó lại không đúng với Mika: cô ấy đã đặt chân đến cánh cổng của học viện với giấc mơ cao cả là cải thiện quê hương của mình bằng cách trở thành một học giả ma pháp chính thức, và đã chăm chỉ học tập mọi lĩnh vực bổ trợ trên con đường tiến tới chức vụ giáo sư. Khi chúng tôi tung hứng những câu thơ qua lại, của tôi toàn là những câu trích dẫn từ các sử thi đã khắc sâu trong tâm trí; ngược lại, cô ấy lại đủ sáng tạo để đôi khi tự ứng biến ra những chất liệu mới.
Việc lắng nghe cô ấy say sưa miêu tả cuộc phiêu lưu của chúng tôi với sự nhiệt huyết thừa mứa hơn bất kỳ tay hát rong nào đã khiến tôi ngẩn ngơ nhìn ra xa xăm và thầm nghĩ:
Trời ạ, gã Erich này quả là nhân vật ghê gớm thật đấy.
Chỉ có điều là… ừm, lời kể của cô ấy được chắp vá bởi quá nhiều mỹ từ lộng lẫy đến mức tôi không khỏi tự hỏi rằng cô ấy từng chứng kiến loài sinh vật ngoài hành tinh nào mà lại nghĩ ra được sự hoành tráng đến thế.
Nghe cô ấy bảo rằng "Đôi mắt lấp lánh của tôi khiến chiếc khăn che lấp lánh của bầu trời đêm phải hổ thẹn." hay "Những lọn tóc vàng ngọt ngào của tôi là niềm khao khát của chính Nữ Thần Thu Hoạch." thậm chí chẳng cho tôi chút thời gian nào để mà đỏ mặt; tôi nhảy thẳng đến hành động vỗ vai cô ấy để bắt cô ấy bình tĩnh lại.
Phần tệ nhất trong bài diễn văn của cô ấy chính là việc nó đã khơi mào ngọn lửa trong tâm hồn Ngài Feige. Ông ấy đã rút ngay một cuốn sổ tay ra và bắt đầu ghi chép lại mọi thứ.
Tôi vô cùng tò mò về nét chữ của ông ấy và giờ khi được tận mắt chứng kiến: mặc dù những con chữ mực in chỉ tỏa ra một vệt ma lực mờ nhạt, nhưng bất kỳ phép thuật hay mẹo vặt nào ông sử dụng cũng đều là đỉnh cao của sự hiệu quả khi biến một mớ chữ viết nguệch ngoạc thành một phông chữ được sắp xếp hoàn hảo. Than ôi, tôi chẳng thể tập trung vào kỹ thuật của ông ấy được khi mà Mika cứ tiếp tục luyên thuyên về vị anh hùng kỳ lạ này, kẻ mà tôi thấy vừa quen thuộc lại vừa xa lạ như thể đó không phải là mình.
Thỉnh thoảng, tôi lại ngắt lời câu chuyện được lãng mạn hóa của cô ấy để đính chính rằng ý định của tôi vốn chẳng hề vĩ đại đến thế, nhưng mỗi lần như vậy, cô ấy chỉ đơn giản là bảo: "Đừng có khiêm tốn quá chứ." rồi tiếp tục tuôn một mạch không vấp chút nào. Ngài Feige và đống ghi chép của ông ấy cũng y hệt như thế.
"Thật đáng kinh ngạc."
Lão Treant nói.
"Một câu chuyện hay làm sao. Ta từng ước ao câu chuyện này có thể được chuyển thành một bài hát trọn vẹn khi cậu kiếm sĩ nhỏ lần đầu kể cho ta nghe, nhưng giờ đây khao khát đó lại càng bùng cháy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Hai đứa có phiền không nếu ta nhờ một người bạn đưa chiến công của các cậu vào nhịp điệu thơ ca?"
"K-Khoan đã!"
Tôi hét lên. "Làm ơn, hãy xem xé…"
"Thật á?!"
Mika thốt lên.
"Cậu có đang nghe không đấy, Erich?! Chúng ta sắp có một bài thơ rồi kìa! Chúng ta sẽ trở thành một phần của một sử thi thực thụ đấy!"
Cô bạn của tôi chồm tới túm lấy vai tôi và lắc mạnh với sự hăng hái và nhiệt tình mà tôi chưa từng thấy cô ấy thể hiện bao giờ. Má cô ấy ửng hồng vì phấn khích và thở hổn hển theo từng nhịp thở; nếu hoàn cảnh lúc đó khác đi, tôi đã lầm tưởng cô ấy là một con mèo đang động dục rồi ấy chứ.
"Dừng lại đi!"
Tôi van nài.
"Bình tĩnh lại nào, Mika! Tớ không ngầu như cậu tô vẽ đâu! Chẳng ai muốn nghe về một cặp anh hùng lết thân về nhà với máu me, mồ hôi và đủ thứ dịch nhầy nhỏ giọt ra từ mọi lỗ chân lông đâu!"
"Đừng có ngốc thế, bạn hiền!"
Mika bật lại.
"Đó mới chính là thứ làm cho câu chuyện của chúng ta trở nên hay ho đấy!"
"Đúng thế, chàng trai ạ."
Ngài Feige hùa theo.
"Ta có thể rất yêu thích những sử thi anh hùng nơi mà một nút thắt rắc rối hơn cả nút thừng của thủy thủ được gỡ bỏ chỉ bằng một cái phẩy kiếm nhẹ nhàng, nhưng những câu chuyện kết thúc bằng việc nhân vật chính vắt kiệt mọi sức lực để giật lấy chiến thắng từ miệng sói cũng tuyệt vời không kém. Đừng bận tâm về tiền bạc; ta chắc chắn sẽ chia phần cho hai đứa đầy đủ."
"Không, ý cháu không phải thế!"
Làm ơn đi, Mika, hãy tha cho tớ đi.
Không những Mika đã kịch tính hóa quá đà các chiến công của chúng tôi, mà hình như cô ấy còn đang đeo một cặp kính lọc màu hồng rất dày khi nhìn vào tôi.
Chiến công của chúng tôi chẳng hề hoành tráng đến thế. Chúng tôi đã ở bên bờ vực của thất bại và tỉnh dậy trong trạng thái đầy bụi bẩn, bùn đất và máu rỉ ra từ vô số vết thương. Chúng tôi đã phải vắt kiệt những giọt ma lực cặn bã cuối cùng, không chút liêm sỉ bám víu lấy bất kỳ phương tiện nào để kéo dài sự sống của mình. Nếu không vì lý do gì khác, thì câu chuyện đó hoàn toàn không phù hợp để được bất tử hóa bởi một nhà thơ hợp với gu thưởng thức chủ nghĩa anh hùng Rhapsodic của Ngài Feige. [note110495]
Tôi đã mất tận hơn hai tiếng đồng hồ để kìm hãm cái sự táy máy của vị quý tộc và nắn lại những con ốc lỏng lẻo trong bộ não của cô bạn mình. Dù tôi không phủ nhận rằng đây là một làn gió tuyệt vời sau khi đánh mất sự tỉnh táo vì cuốn sách bị nguyền rủa kia, nhưng tôi chẳng mặn mà gì với sự mệt mỏi tinh thần đi kèm với màn bêu rếu trước công chúng này cả.
Cuối cùng, tôi cũng xoay sở để thuyết phục Ngài Feige không xuất bản sử thi đó, nhưng ông ấy vẫn kiên quyết muốn giữ lại một bản được viết riêng cho mục đích sử dụng cá nhân.
Ông ấy nói rằng ông biết một nhà thơ hoàn hảo, người mà ông vẫn thường xuyên bảo trợ, nhưng tôi thực sự, thực sự không hề thấy biết ơn vì điều đó chút nào.
Ông ấy cũng nói rằng sẽ gửi cho mỗi người chúng tôi một bản sao khi hoàn thành, nhưng đến lúc này, tôi thừa biết rằng mình sẽ cất nó vào một xó xỉnh nào đó mà chẳng thèm mở cả bìa ra xem. Chuyện này không chỉ vì sự tỉnh táo trong tâm hồn tôi đâu: bạn có thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu tiểu thư Agrippina nhìn thấy nó không? Chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ khiến tôi rùng mình rồi.
Khi buổi tiệc trà đi đến hồi kết, tôi lại tự hỏi liệu cuốn sách bị nguyền rủa hay người đồng hành cùng tôi mới là thứ khiến tôi đau đầu nhiều hơn trong ngày hôm nay.
---
[Mẹo] Phong ấn thần thánh là một dạng phong ấn dựa vào các phép màu thiên đường để tạo ra. Mặc dù chúng đi kèm với một vài hạn chế, nhưng một khi được đáp ứng, các phong ấn sẽ tước đi sức mạnh của mục tiêu và làm suy yếu ảnh hưởng của nó đối với môi trường xung quanh.
---
Cơn gió lạnh ban đêm cọ xát vào da thịt tôi.
Mình sẽ phải bắt đầu nhồi bông vào quần áo thôi,
tôi thầm nghĩ.
Vài ngày đã trôi qua kể từ buổi gặp mặt của Ngài Feige. Sáng nay, vị thầy thuốc đã cho phép tôi thực hiện các hoạt động vận động mạnh hơn, nên tôi đã tranh thủ lúc cô bạn đồng hành của mình đang ngủ say để lén lút trốn ra ngoài sau khi trời tối.
Bệnh viện là một trong những tòa nhà đẹp nhất ở Wustrow, với một hàng rào lớn bao bọc cả nó lẫn khu nhà ở kiêm văn phòng của thầy thuốc nằm ở phía bên kia sân.
Đủ loại thảo mộc mọc um tùm trong khu vườn lộ thiên, và thậm chí còn có một nhà kính ở góc khu vực để nuôi dưỡng những loài thực vật khó chiều hơn. Khuôn viên có diện tích đáng kể, khiến nơi đây trở thành địa điểm hoàn hảo để khởi động lại cơ thể.
"Được rồi…"
Tôi cầm vỏ của Schutzwolfe bằng tay trái và đặt tay phải lên phần chuôi kiếm. Mọi thứ ngoại trừ bản thân lưỡi kiếm đều được thiết kế riêng cho tôi, và cái cách các ngón tay tôi lún sâu vào phần tay cầm luôn mang lại cảm giác vô cùng sảng khoái - đặc biệt là bây giờ, khi tôi đã phải kiêng cữ các hoạt động thể chất trong suốt một thời gian dài.
Tôi vung tay về phía trước và duỗi hông để rút kiếm ra khỏi vỏ chỉ trong một động tác gọn gàng.
Mặc dù các loại kiếm Châu Âu không nổi tiếng bằng các đối thủ đến từ Nhật Bản về khả năng tung đòn từ tư thế rút kiếm, nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng chiến thuật đó là bất khả thi. Bằng cách điều khiển đồng bộ nửa thân trên và nửa thân dưới thay vì chỉ dựa vào đôi tay không, một thanh kiếm có thể nhanh chóng được giải phóng khỏi xiềng xích của nó.
Lưỡi kiếm đang trào dâng sức mạnh của tôi cắt xé bầu không khí ban đêm với một tiếng rít sắc lẹm. Một loạt các cú vung ngang nối tiếp theo sau, và khi đã làm nóng người xong, tôi xoay tròn Schutzwolfe sang tư thế cầm ngược để giáng đòn từ trên xuống dưới.
Mỗi chi, mỗi ngón đều hòa làm một. Sự chuyển động của một cơ bắp lan truyền qua các khớp, tác động đến những phần còn lại, và sự hài hòa đồng bộ đã tạo nên một hệ thống vượt xa tổng hòa của các bộ phận riêng lẻ.
Tôi nhún chân đạp đất, tiếp đất theo cách truyền tải lực tác động thẳng vào lồng ngực. Với một cú xoay vai và cái phẩy cổ tay tinh tế, tôi chém ngang, chém dọc và chém chéo, cả từ trên xuống dưới lẫn từ dưới lên trên. Mỗi đòn tấn công đều cắt xuyên qua những bóng hình ảo giác ở vùng cổ, nách và cổ tay lộ ra qua những khe hở trên áo giáp.
"Urgh…"
Tuy nhiên, tư thế của tôi còn lâu mới đạt yêu cầu. Hơi thở của tôi trở nên hỗn loạn chỉ sau chưa đầy 100 nhịp vung kiếm, và đôi tay lẫn đôi đùi bắt đầu nặng trĩu. Với mỗi cú ra đòn, âm thanh không khí bị xé toạc lại lớn dần lên như để nhắc nhở tôi về những chuyển động lãng phí của mình. Việc để cho phần mép lưỡi kiếm bị nghiêng đi dù chỉ một chút cũng làm tăng lực cản và đẩy không khí dịch chuyển nhiều hơn nữa. Một đòn tấn công hoàn hảo - xứng đáng được gọi là đòn chí mạng - phải ép bầu không khí phải im lặng. Thế nhưng những chuyển động xấu xí của tôi lại cách quá xa việc cắt đứt không khí xung quanh mình.
Tôi đã bị rỉ sét về mọi mặt: cơ bắp, xương khớp, và quan trọng nhất là các giác quan.
Việc mất đến vài tuần để nghỉ ngơi là quá nhiều để cho phép tôi duy trì cấp độ kỹ năng mong muốn. Tôi chưa đến mức suy yếu tàn tạ, nhưng tôi biết rằng nếu phiên bản quá khứ của tôi xuất hiện trước mặt mình lúc này, tôi sẽ trụ không quá năm hiệp trước khi mất đầu. Vấn đề bây giờ là sẽ mất bao lâu để lấy lại những gì đã mất.
Nghĩ lại thì, tôi từng nhận thấy một đặc tính thú vị cách đây không lâu khi đang suy ngẫm về bảng chỉ số nhân vật của mình. Phục Hồi Nhanh giúp rút ngắn tổng thời gian cần thiết để hồi phục hoàn toàn, và có một vài đặc tính khác giúp việc quên đi trí nhớ cơ bắp trở nên khó hơn một khi đã đạt được.
Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chỉ chăm chăm dồn toàn lực vào việc tối đa hóa sát thương đầu ra, nhưng có lẽ đã đến lúc bắt đầu chọn lấy các đặc tính và kỹ năng dài hạn giúp ích trong suốt cả một chiến dịch rồi. Ân sủng của vị Phật tương lai cho phép tôi xây dựng bản thân giống như một nhân vật trong tabletop, nhưng nó chẳng giúp gì trong việc biến thế giới này thành một trò chơi TRPG thực thụ; tôi không thể kỳ vọng một phép hồi máu toàn bộ sẽ rơi vào tay mình ở cuối mỗi phiên chơi được.
Nói thì dễ hơn làm, nhưng kẻ chẳng có sức khỏe thì cũng chẳng có nổi thứ gì. Tôi không thể chối cãi rằng việc chăm sóc cơ thể là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của một mạo hiểm giả. Trên thực tế, việc cứ phải tốn ngần ấy thời gian để dưỡng thương mỗi lần bị thương chắc chắn sẽ làm giảm sút khả năng hoàn thành những việc tôi cần phải làm.
"Ugh, augh… Blegh… Ahh…"
Ngay khi tôi vừa thả lỏng, những cơn chuột rút khủng khiếp ở cổ tay, đầu gối và tất cả các khớp xương khác mà tôi vừa hành hạ khi múa kiếm bắt đầu ập đến. Tôi thở hồng hộc dữ dội hơn bao giờ hết, và cả vòm miệng tôi nồng nặc vị sắt tanh.
Thật nhếch nhác làm sao. Tôi sẽ cần phải lên một lịch trình đàng hoàng để đưa bản thân trở lại quỹ đạo. Tôi kéo bình nước về phía mình bằng Bàn Tay Vô Hình và uống một ngụm dài. Với một tiếng thở dài buồn bã, tôi đút Schutzwolfe trở lại bao; chắc chắn là ngày mai tôi sẽ đau ê ẩm khắp người cho xem. Dù vậy, tôi vẫn còn việc phải làm: tôi đâu có chọn ra ngoài vào ban đêm chỉ vì một phút bốc đồng. Với sự cho phép của thầy thuốc, tôi hoàn toàn có thể làm việc này khi trời còn sáng. Dù sao thì Mika cũng chẳng phải kiểu người quá mức bao bọc.
Nhưng tôi không thể thử thứ này giữa ban ngày được.
"Đến đây nào."
Tôi truyền ý chí vào giọng nói của mình và một thanh kiếm ngay lập tức xuất hiện trong lòng bàn tay đang chìa ra. Thực tại không hề méo mó hay rách toạc; thanh kiếm đơn giản là hiện vật hóa giữa các ngón tay tôi như thể nó vẫn luôn ở đó ở đó vậy.
Những tiếng hò reo inh ỏi tấn công tâm trí tôi. Những trận động kinh não khó chịu chứa đầy sự đê mê của nó khi nghĩ đến viễn cảnh được vung vẩy. Tôi nghĩ rằng tốt nhất là nên thử nghiệm thanh kiếm này, xét việc tôi chẳng thể nào vứt bỏ nó được. Nhưng tôi không chỉ kiểm tra xem nó hoạt động ra sao với tư cách là một món vũ khí; tôi cần phải xem nó tạo ra mối đe dọa lớn đến mức nào.
Tăm tối hơn cả màn đêm, lưỡi kiếm của nó lóe lên dưới ánh trăng. Gần phần chuôi kiếm, những đường chạm khắc chớp nháy liên tục với một thứ ánh sáng ám ảnh. Dù nó lớn một cách quái dị trong đôi bàn tay nhỏ bé của tôi, nó lại không quá nặng để cầm nắm. Bất chấp tuổi đời của nó, phần tay cầm hoàn hảo một cách tuyệt đối - trớ trêu thay, thậm chí còn hoàn hảo hơn cả của Schutzwolfe, thanh kiếm vốn được chế tác riêng cho tôi. Trọng tâm được đặt hoàn toàn hoàn hảo. Tôi sẽ không bị mỏi tay khi sử dụng thanh kiếm này trong nhiều giờ liền, thế mà nó vẫn phân bổ đủ trọng lượng ở gần phần đầu mũi để phần sắc nhất của lưỡi kiếm có độ nặng đáng kể.
Tôi vung nó vòng quanh vài lần và nhận ra rằng kỹ năng cơ bản của mình trong Kiếm Thuật Hỗn Hợp, dù không cần bất kỳ tinh chỉnh nào cho mục vũ khí hai tay, nó cũng đủ sức tạo ra một đòn tấn công tàn khốc. Ngay cả với đôi cánh tay tả tơi của mình, tôi vẫn có thể điều khiển nó với lực đủ mạnh để xé toạc màn đêm lạnh giá chỉ với một tiếng rít nhè nhẹ.
Thanh kiếm này thật tráng lệ… nhưng kỳ lạ thay, chỉ có thế thôi.
Đây là một thanh huyền kiếm, không có gì có thể chối cãi, nó không phải loại thuộc dòng Excalibur hay Durandal. Sẽ chẳng có vị anh hùng nào mang theo một thứ vũ khí thế này; đây là kiểu vũ khí mà bạn chỉ tìm thấy trong tay của một hoàng tử bị nguyền rủa hoặc vô tình bắt gặp trong những mối thù gia tộc của sử thi Poetic Edda. [note110496]
Tuy nhiên, khi cầm nó lúc này, tôi chẳng cảm thấy gì cả. Nó chỉ đơn giản là một thanh kiếm hoàn hảo, và dù tôi thấy những tiếng thét mài mòn tâm trí của nó thật phiền phức, chẳng còn điều gì khác ở nó nữa.
Nó không giục giã tôi đi thu hoạch máu và linh hồn cho chúa tể hắc ám của mình, cũng chẳng hề cải thiện kiếm thuật của tôi một cách mờ ám. Tôi cũng chẳng gặp chút rắc rối nào trong việc buông tay nó ra sau khi đã cầm lên.
"Không thể tin nổi là nó thực sự an toàn…"
Tôi không phải là một thằng ngốc đến mức đi nhặt một cơn ác mộng tà ác rành rành mà chẳng thèm suy nghĩ gì. Tôi đã cẩn thận tham khảo ý kiến của Ursula trước đó, vì dường như cô ấy hiểu rõ về thứ này ở một mức độ nhất định. Khi tôi hỏi cô ấy về những nguy hiểm, cô ấy đã đáp rằng thanh kiếm sẽ thỏa mãn nếu tôi yêu nó như một thanh kiếm, và thề rằng điểm kỳ quặc duy nhất của nó chính là cái tính nói nhiều.
Nhưng tôi vẫn hoài nghi. Các bạn có thể trách tôi được sao? Chắc chắn rồi, trông nó rất ngầu, nhưng sức hút của nó không phải kiểu của một hiệp sĩ áo trắng rạng ngời; nó hợp với một kẻ phản diện tà ác mặc áo giáp đen tuyền, viền đỏ đẫm máu thì đúng hơn. Một lời làm chứng từ một cô tiên thân thiện chưa đủ để trấn an tôi.
Sau khi hoàn thành bài thử nghiệm, tôi lau mồ hôi trên trán và cắm Lưỡi Kiếm Khát Khao xuống đất, để rồi nhận lại những lời van nài. Nó có cảm giác giống như một chú chó đang nài nỉ được rẽ khỏi con đường về nhà để kéo dài thêm buổi đi dạo vậy. Nhưng khi tôi đặt tay lên phần núm chuôi kiếm và bày tỏ sự kiệt sức của mình, nó truyền cho tôi một suy nghĩ thất vọng cuối cùng trước khi nhường chỗ cho sự im lặng.
…Hả. Mình đoán là nó sẵn sàng lắng nghe mình đấy.
Làm dịu đi cơn khát, tôi ngước nhìn lên vầng trăng. Tôi sẽ phải suy nghĩ về mối quan hệ của mình với thứ này trên đường về nhà. Tất nhiên, tôi dự định sẽ bảo lưu phán quyết cho đến khi có thể hỏi ý kiến của chủ nhân tôi ở Berylin… nhưng dù sao đi nữa, Lưỡi Kiếm Khát Khao vẫn là phần thưởng của tôi cho cuộc phiêu lưu nho nhỏ này.
---
[Mẹo] Những thanh huyền kiếm bị nguyền rủa không chỉ là những câu chuyện phóng đại, chúng thực sự tồn tại, và học viện đang cất giữ một vài mẫu vật bị tha hóa trong sâu thẳm thư viện lớn của mình.
---
Sinh ra ở vùng đất ôn đới phía Nam Rhine, sự tiếp cận nhanh chóng và buốt giá của mùa đông phương Bắc thực sự tàn nhẫn đến mức khó tin.
"Trời đổ tuyết rồi…"
Khi Mika và tôi hoàn tất công tác chuẩn bị để trở về Berylin, trông chúng tôi cồng kềnh hơn hẳn khi nhồi nhét đủ thứ vào quần áo. Chúng tôi đã lôi đợt đồ mùa đông dự phòng ra dùng, đề phòng trường hợp thời gian lưu trú ở Wustrow bị kéo dài, và lớp vải lót bông dày dặn đó chính là minh chứng cho lòng tốt của Ngài Feige. Đánh giá qua độ xốp mịn của nó, số bông mà ông ấy cho chúng tôi chắc chắn là hàng cao cấp được nhập khẩu từ phương Đông. Nhờ món quà của ông ấy, chúng tôi đã tránh được cảnh phải dùng dở món đồ mình đang có.
"Hồi ở quê, bọn tớ còn chẳng bao giờ được dùng loại bông xịn thế này đâu."
Mika nói.
"Hả? Ở phương Bắc các cậu cũng dùng bông cơ à?"
Tôi ngạc nhiên nhìn sang. Những lớp quần áo chồng chất khiến vóc dáng cô ấy tròn trịa hơn, và nó làm tăng thêm nét dễ thương mang tính trẻ con, nhưng ánh mắt cô ấy thì hoàn toàn không phải vậy: cô ấy đang lườm tôi như thể tôi là một tên đần nào đó vậy.
"Bọn tớ có thể quen chịu đựng cái lạnh, nhưng bọn tớ vẫn là nhân tộc mà. Người Sói hay Selchie thì mùa đông vẫn mặc chẳng khác gì mùa hè, nhưng Mensch và Tivisco bình thường thì vẫn phải quấn đủ thứ. Thực tế là, tớ cá là phần lớn số tiền chúng tớ kiếm được đều nướng vào tiền sưởi ấm nhà cửa đấy."
"Ồ… Tớ không biết đấy. Tớ cứ tưởng câu đùa ‘năm nào người phương Bắc mặc áo dài tay thì năm đó trời lạnh cắt da cắt thịt’ là thật chứ."
"Đó chỉ là một định kiến phóng đại thôi."
Hiếm khi nào cô ấy lại thấy một câu đùa nhạt nhẽo đến thế. Cô nhăn mũi lại và hoàn tất việc chất đống quà lưu niệm cùng thực phẩm cuối cùng lên lưng Castor.
Nhân tiện, Castor và Polydeukes cũng được chăm chút kỹ lưỡng chẳng kém gì chúng tôi. Một lần nữa, những tấm chăn giữ ấm cho chúng là quà tặng từ Ngài Feige, xem như phần bù đắp cho việc quá trình điều trị y tế đã làm chậm trễ thời gian khởi hành của chúng tôi.
Ngựa quả thực là một loài vô cùng bền bỉ. Dù có nguồn gốc từ vùng khí hậu ấm áp, những con ngựa thồ vẫn đứng vững trong các vùng nông thôn phủ đầy tuyết trắng ở phương Bắc. Những sinh vật kiên cường này có thể băng qua tuyết ngay cả khi nhiệt độ xuống dưới mức đóng băng, và những con không sinh ra ở vùng cực vẫn có thể dần thích nghi với cái lạnh theo thời gian.
Tuy nhiên, dù chúng vẫn tràn đầy năng lượng vào những ngày mà con người chúng tôi ngắc ngoải, cái lạnh vẫn ảnh hưởng đến hiệu suất tiêu hao calo của chúng. Khả năng chống chọi với thời tiết khắc nghiệt của chúng hóa ra bắt nguồn từ lượng nhiệt sản sinh trong ruột khi tiêu hóa - tôi đã hoàn toàn bất ngờ trước nền khoa học hiện đại đến đáng sợ ẩn sau kiến thức này - nên chúng cần ngày càng nhiều thức ăn hơn khi nhiệt độ giảm xuống.
Và thế là, Ngài Feige đã ban tặng cho hai chú ngựa Dioscuri những chiếc chăn bông này, để chúng tôi không phải rơi vào cảnh hoàn toàn vô vọng nếu chẳng may không tìm được quán trọ trên đường.
‘Cuộc phiêu lưu nhỏ’ mà ông ấy đẩy chúng tôi vào có thể đã biến thành một cơn ác mộng sống không bằng chết, nhưng tôi suýt cảm thấy có lỗi vì cách mà ông ấy chu đáo lo lắng cho chúng tôi. Tôi tự nhủ phải viết một bức thư cảm ơn đàng hoàng ngay khi về đến nhà.
"Được rồi."
Tôi nói.
"Chúng ta đã có rất nhiều kỷ niệm ở đây, nhưng tớ nghĩ đã đến lúc phải lên đường thôi."
"Ừm."
Mika đáp.
"Mấy đám mây trông giống như những hạt tuyết nhẹ xốp, nhưng ai mà biết ngày mai trời sẽ ra sao chứ? Tớ đoán là đường xá sẽ không bị phong tỏa đâu, nhưng chúng ta tốt nhất nên tranh thủ quay về phía Nam cho sớm."
Đúng chuẩn phong cách của một người sinh ra ở phương Bắc. Mika cảm nhận được điều gì đó mà tôi không thấy khi cô ngước nhìn bầu trời xám xịt. Có lẽ đôi mắt ấy đang hướng về một nơi nào đó, một chốn xa xôi nào đó tít tận phía Bắc Wustrow.
Tôi cũng thế, tôi cũng muốn có một ngày được đến thăm quê hương của cô ấy. Sống tại Học Viện Ma Pháp khiến việc rời khỏi đế đô trở nên vô cùng khó khăn. Không có tàu hỏa hay ô tô, những chuyến đi dài ngày ngốn một khoản tiền bạc và thời gian khổng lồ. Có lẽ cô ấy sẽ chẳng bao giờ có cơ hội quay về quê nhà cho đến khi đạt được những hoài bão lớn lao từng đưa cô đến Berylin từ ban đầu.
Hoàn cảnh của tôi cũng chẳng khá hơn cô ấy là bao… nhưng tôi còn có Elisa. Tôi không thể tưởng tượng nổi việc rời khỏi nhà từ khi còn quá nhỏ để đến sống ở một vùng đất xa xôi với những phép tắc và món ăn xa lạ mà không có lấy một người đồng hành bên cạnh sẽ khó khăn đến nhường nào.
"…Cậu không phải lo cho tớ đâu, Erich."
"Hả?"
"Cậu nghĩ chúng ta đã đồng hành cùng nhau bao lâu rồi? Tớ có thể đoán được cậu đang nghĩ gì qua cái biểu cảm trên mặt cậu đấy."
Mika đặt chân lên bàn đạp của Castor và uyển chuyển nhảy lên yên; vẻ vụng về mà cô từng thể hiện cách đây mấy tháng nay đã biến đi đâu mất tăm. Cô kéo chiếc khăn quàng cổ xuống và nở nụ cười rạng rỡ với tôi.
"Tớ rất nhớ quê hương, nhớ đến mức muốn phi thẳng về đấy ngay giây phút này luôn."
Cô ấy chìa tay về phía tôi và tiếp tục.
"Nhưng tớ sẽ ổn thôi. Tớ có một người bạn ở bên rồi cơ mà, phải không?"
"…Ừ. Cậu nói đúng. Về nhà thôi, bạn hiền."
"Đi thôi, anh bạn."
Tôi bày tỏ sự lo ngại rằng việc cưỡi ngựa đôi ngay từ đầu có thể khiến Castor mệt mỏi, nhưng bàn tay của Mika vẫn chìa ra đó. Không thể chống lại sự nhiệt tình của cô ấy, tôi nắm lấy tay cô và trèo lên ngồi phía sau.
"Để tớ dẫn đường cho một lần nhé. Tớ không thể cứ bám mãi vào lưng cậu được mãi đúng không nào?"
Nụ cười của Mika ngập tràn sự tự hào, nên tôi im lặng vòng tay ôm lấy eo cô. Cảm giác trong tay tôi lúc này đã khác hẳn so với vô số lần chúng tôi từng cùng nhau cưỡi ngựa trước đây: mềm mại và tròn trịa hơn, cơ thể cô ấy mang đậm nét nữ tính rõ rệt. Nhưng dù vậy, trái tim tôi lại bình yên đến kỳ lạ.
Mika đang ở đây. Người bạn của tôi có thể trông khác biệt ở vẻ bề ngoài, nhưng chẳng có gì thay đổi cả. Chỉ riêng suy nghĩ đó thôi cũng mang lại một sự an ủi không gì sánh bằng.
Tiếng móng guốc của chiến mã vang lên dọc theo con đường với âm thanh đặc trưng của những chuyến hành trình trên lưng ngựa. Một khi tiếng bước chân dồn dập bắt đầu, nó từ chối ngừng lại; càng lúc, cảnh vật phía sau chúng tôi càng lùi xa và biến mất sau mỗi giây trôi qua.
Vào khoảnh khắc đó, tôi chợt bừng tỉnh: đây chắc hẳn chính là ý nghĩa của phiêu lưu.
Và cùng với nhận thức này lại là một điều khác: cho dù cuộc sống của tôi ở đế đô có trở nên bình thường đến thế nào đi nữa, thì giấc mơ khắc sâu trong tâm hồn tôi cũng sẽ chẳng bao giờ phai nhạt. Chắc chắn tôi sẽ lại lên đường, hết lần này đến lần khác, chỉ để ngắm nhìn phong cảnh này thêm một lần nữa. Tôi sẽ đuổi theo nỗi sầu muộn và sự mãn nguyện khó tả đang chờ đợi ở phía sau một công việc được hoàn thành mỹ mãn.
"Này, Mika?"
"Gì thế, bạn hiền?"
"Tớ biết đây là một chuyến đi gian khổ… nhưng cậu sẽ lại đồng hành cùng tớ chứ?"
Cô ấy không quay đầu lại, mà ra vẻ trầm ngâm với một tiếng "Hrm" thật lớn để trêu chọc tôi.
Đừng có đáng ghét thế chứ.
Tôi siết chặt vòng tay quanh eo cô và tựa cằm lên vai cô, khiến cô bật ra một tiếng cười khúc khích vì nhột.
"Được rồi, được rồi. Tớ sẽ ở bên cạnh cậu bao lâu tùy thích. Nhưng hãy cách mấy năm rồi hẵng tham gia mấy chuyến đi điên rồ thế này nữa nhé, được không?"
Xin lỗi nhé, bạn hiền. Tớ không nghĩ mình có thể hứa điều đó đâu.
Tôi thừa hiểu vận may của mình: tôi hoàn toàn chắc chắn rằng một chuỗi tung xúc xắc xui xẻo nữa sẽ lại đẩy tôi vào một thảm họa nào đó vào một thời điểm nào đó. Điều tốt nhất tôi có thể làm cho cô ấy là cầu nguyện cho con đường về nhà của chúng tôi không bóng dáng của những con rồng cổ đại.
---
[Mẹo] Đế chế rộng lớn đến mức điểm cực Bắc và điểm cực Nam của nó khá tương đồng nhau về mặt khí hậu.


