Tôi tỉnh giấc vào buổi sáng sau khoảnh khắc đầy tính kịch nghệ ấy với một sự ngượng ngùng vô bờ bến. Đây không phải là lần đầu tiên tôi phải vùi mặt vào gối vì xấu hổ: mỗi khi quá nhập tâm vào vai diễn, việc nghe lại các bản ghi âm từ các buổi chơi của mình luôn khiến tôi rợn tóc gáy. Máu nóng và trái tim thuần khiết chẳng thể nào gột rửa nổi cảm giác nổi da gà đeo bám sau thứ về cơ bản là một lời thổ lộ mang tầm vóc lịch sử…
"Chào buổi sáng, bạn hiền."
Mika cất lời.
…Và điều đó lại càng đúng hơn khi tôi phải chia sẻ chung một căn phòng với chính nhân vật trong câu chuyện.
"Ừ, chào buổi sáng."
Tôi đáp lại.
"Này, Mika… À, chuyện hôm qua ấy mà…"
Dù có hơi muộn màng, tôi vẫn cảm thấy vô cùng bối rối. Điều này một lần nữa khẳng định rằng những tâm trạng bồng bột của ban đêm chẳng bao giờ mang lại điều gì tốt đẹp cả. Kiếp trước, hầu hết các kịch bản tôi chắp bút sau khi mặt trời lặn đều đi thẳng vào sọt rác khi tôi đọc lại chúng vào sáng hôm sau… nghĩ lại thì, điều đó cũng đúng với cả các tài liệu công việc nữa.
Tất cả những gì tôi nói với Mika đều xuất phát từ tận đáy lòng, nhưng ý tôi là,
trời ạ! Cái quái gì thế kia?! Bên trong tôi là một người lớn trưởng thành cơ mà! Lẽ ra phải có cách diễn đạt nào hay ho hơn chứ!
"Đừng nói nữa, chiến hữu trân quý."
Mika nói.
"Tớ hiểu mà. Sẽ chẳng có gì khiến tớ hạnh phúc hơn việc được nghe lại những lời đó một lần nữa, nhưng chúng không phải là thứ có thể tư nhiên thốt ra một cách dễ dãi thế đâu, phải không?"
Ơ… Mika đã hiểu lầm những bận tâm của tôi theo một cách khá kỳ lạ. Tôi có cảm giác như các mô hình tư duy của cậu ấy, vào một thời điểm nào đó, đã rẽ hướng sang phong cách kịch nghệ mất rồi. Trò chơi nhập vai các nhân vật trong một sử thi thì không sao, nhưng cá nhân tôi lại chẳng có chút hoa tay diễn xuất nào để có thể chạm đến cuộc trò chuyện ban đêm ấy mà không làm vỡ tung lớp ngầu lòi của mình. Lúc này đây, tôi hoàn toàn không nghi ngờ gì nữa khi cậu ấy sẽ sớm biến thành kiểu người chơi thản nhiên cướp đi trái tim người khác bằng những lời văn hoa lãng mạn cho mà xem.
"Nào, bữa sáng đang chờ kìa."
Mika nói, dắt tay tôi đi.
Dù chúng tôi đã rất gắn bó từ trước đến nay, bước chân của Mika vẫn nhỉnh hơn nửa bước so với thường lệ khi cả hai rảo bước đến nhà hàng mà chúng tôi từng ghé qua tối hôm trước. Tôi khá ngạc nhiên khi thấy nơi này lại vắng lặng đến thế, nhưng dù sao chúng tôi cũng dậy khá muộn. Với những bữa sáng kiểu Đế chế vốn vô cùng đơn giản - nhiều người chọn chẳng ăn gì ngoài trà và phô mai - việc một quán ăn trống trơn vào giờ này là điều hết sức tự nhiên.
Cô phục vụ quen thuộc với nụ cười rạng rỡ và những vết tàn nhang mang ra bữa sáng cho chúng tôi với giá năm assarii mỗi phần: một lát bánh mì đen, một chiếc xúc xích trắng béo ngậy, vài phần bơ sữa nhỏ và một quả mơ. Đó là một phần ăn khá lịch sự so với số tiền chúng tôi bỏ ra.
Chúng tôi chi thêm vài assarii để gọi một ấm trà đỏ dùng chung - dù món này được làm từ rễ bồ công anh rang thay vì rễ rau diếp xoăn - và thong thả tận hưởng bữa ăn yên bình của mình. Mùa thu là mùa bận rộn của thương gia, và chẳng có ai dư dả thời gian để la cà làm phiền những kẻ hay ngủ nướng như chúng tôi cả.
"Ồ."
Tôi nói.
"Nhân tiện đây, Mika, tớ có một đề nghị nho nhỏ cho cậu."
"Hửm? Chuyện gì thế, người bạn đáng kính? Cứ hỏi đi: đến mức này thì tớ sẵn sàng cả việc dùng chung bồn tắm với cậu đấy, bạn hiền."
Thế thì… khoan, không phải chuyện đó!
Mika đang vui như mở hội đến mức tôi chỉ muốn có ai đó vẽ lại nụ cười rạng rỡ ấy thành một bức chân dung, nhưng tôi buộc phải kìm hãm sự phấn khích của cậu lại để có thể rủ cậu tham gia vào chuyến hành trình vào rừng.
"Hừm."
Cậu ấy ngẫm nghĩ.
"Nhật ký của một mạo hiểm giả cơ à?"
Mika cắn một miếng xúc xích và vừa nhai vừa ngẫm nghĩ về đề nghị của tôi. Ban đầu, công việc của chúng tôi chỉ là đến thị trấn này với giá một drachma; việc nhận thêm việc ngoài là quyết định của riêng cậu ấy. Dù vậy, tôi vẫn cảm thấy hơi chột dạ khi nhờ vả cậu ấy vào lúc này…
"Nghe hay đấy! Tớ đi cùng."
Tâm trạng của Mika tuyệt vời đến mức tôi tưởng tượng rằng cậu ấy thậm chí sẽ sẵn sàng chấp nhận cả yêu cầu ngắm nhìn cậu ta khỏa thân một lần nữa. Khi tôi cố gắng cảnh báo cậu về khả năng chúng ta có thể chạm trán với một con gấu, cậu ấy liền cười một nụ cười đầy kiêu hãnh và đáp.
"Thế thì lại càng là lý do tớ không thể để cậu chạy đi một mình đấy."
Sẽ mất bao lâu để cậu ấy giảm sự phấn khích này đây? Dù mất bao lâu đi chăng nữa, tôi có trách nhiệm trong việc suy tính kỹ lưỡng mọi điều tôi nhờ vả cậu vào lúc này. Bằng không, tôi có nguy cơ vướng vào những sự kiện đầy màu sắc mà một ngày nào đó sẽ trở thành những ký ức đen tối, xấu hổ… của cậu ấy, chứ không phải của tôi đâu nhé. Ngay cả khi không phải vậy, tôi cũng chẳng bao giờ muốn lợi dụng cậu ấy khi cậu ấy đang hào hứng thế này vì tình bạn đã được khẳng định lại của chúng tôi.
Tôi nuốt trôi những âu lo cùng phần trà thừa cuối cùng bằng một ngụm. Khi bữa ăn kết thúc, chúng tôi bắt đầu chuẩn bị cho chuyến hành trình. Dù sao thì, một ngày đi bộ cũng chỉ mất vài tiếng nếu đi bằng ngựa; chúng tôi vốn đã chuẩn bị sẵn sàng để cắm trại trong nhiều ngày liền, nên tất cả những gì chúng tôi cần lúc này chỉ là thêm chút nước và thức ăn dự trữ.
"Hừm."
Mika lẩm bẩm.
"Mọi thứ đắt đỏ quá."
"Dù gì cũng đang là mùa vụ mà."
Tôi nói.
Khu chợ gần khu vực sinh sống của công nhân tràn ngập nông sản tươi ngon cùng bầu không khí vui tươi đặc trưng của mùa thu. Tuy nhiên, nhu cầu hàng hóa tăng cao vào thời điểm này luôn kéo theo giá cả leo thang.
Các đoàn thương buôn kèm theo vệ sĩ và lính đánh thuê di chuyển từ thị trấn này sang thị trấn khác, gom mua thực phẩm đóng gói bất cứ nơi nào họ đi qua. Thường dân thì cần mua sắm đồ khô để chống chọi lại những tháng mùa đông lạnh giá, điều này chỉ càng làm tăng thêm số lượng người mua. Ngoại lệ duy nhất cho nhu cầu này là những người nông dân có thể tự trữ đầy kho nhà mình và các pháp sư có thể ngăn chặn thực phẩm thối rữa (cùng với các đoàn lữ hành thuê những người sau).
Nhu cầu quá lớn đồng nghĩa với việc người bán có thể đẩy giá thực phẩm lên cao ngất ngưởng mà vẫn bán được hàng. Hơn nữa, điều này ngăn chặn những kẻ gom hàng tích trữ mua hết mọi thứ cho riêng mình, nên hầu như mọi quầy hàng đều bán đồ đắt hơn tiêu chuẩn từ hai đến ba assarii.
"Chúng ta còn lại bao nhiêu?"
Tôi hỏi.
"Ừm."
Mika đáp.
"Chúng ta sẽ cần để dành từng này cho nhà trọ, và từng này cho thuế qua cổng thành…"
"Vậy là chúng ta chỉ còn lại… ngửa này tiền cho thức ăn. Chà, thế thì vẫn phải mua một ít thịt bò khô đúng không?"
"Cá nhân tớ nghĩ mình không thể bỏ qua táo và mơ sấy khô được, nhưng giá chúng có vẻ hơi cao…"
Hai chúng tôi đếm những đồng xu đồng trong cái ví chung - chúng tôi không có ý định dùng đến những đồng bạc sớm và đã giấu chúng trong giày - rồi cùng thảo luận về ngân sách. Ngay lúc đó, một Jenkin quản quầy thực phẩm muối chua gần đó thở dài một hơi thật nặng.
"Chắc là ta không thể mặc kệ đôi nhóc con đang đói meo này được rồi."
Lão nói.
"Lại đây, ta bớt cho mấy chú chút đỉnh."
Giọng địa phương miền Bắc đặc sệt của người đàn ông đi kèm với tiếng răng cửa lách cách của lão. Ngữ điệu của lão cách xa ngôn ngữ Thượng Lưu và những gì tôi từng nghe ở các vùng phía Nam của Đế chế đến mức tôi không thể bắt kịp toàn bộ những gì lão vừa nói. Dù vậy, rõ ràng là lão đang động lòng thương hại sau khi nhìn thấy chiếc ví rỗng tuếch của chúng tôi.
"Ối, thật á?!"
Tuy nhiên, điều bất ngờ thực sự lại là việc người bạn của tôi có thể trôi chảy đáp lại bằng chính thứ ngôn ngữ đó.
"Ừa, nghe rõ chưa hả?"
Chủ tiệm nói.
"Bớt chút xíu thôi đấy. Không có tiền thì chẳng làm được gì đâu."
"Cảm ơn ông nhiều ạ!"
"Đi đi, đi đi, muốn lấy gì thì cứ lấy."
Họ tung hứng nhịp nhàng qua lại, và Mika cuối cùng đã mua được đống hàng hóa với mức giá tiêu chuẩn chứ không hề bị hớ. Giọng điệu bình thường của cậu ấy chưa bao giờ lệch khỏi chuẩn mực nam tính của ngôn ngữ Thượng Lưu, nhưng việc cậu ấy là một bậc thầy về các phương ngữ miền Bắc lại hoàn toàn hợp lý. Ngài Feige cũng từng dễ dàng chuyển đổi qua lại giữa hai kiểu nói ấy, và những đồng nghiệp cũ của tôi ở miền tây Nhật Bản cũng từng phát âm hoàn toàn khác biệt mỗi khi chúng tôi đi uống rượu.
Tôi chăm chú nhìn Mika khi cậu vui vẻ xách chiếc túi đựng đầy khẩu phần khô. Nhận ra ánh mắt của tôi, cậu ấy bỗng đỏ mặt và nép người ra sau đống hàng hóa.
"Ơ, ừm, ý tớ là, tớ thường nói thế này trước khi học tiếng Thượng Lưu, nên… Nó kỳ lắm à?"
Nhìn cậu ấy bẽn lẽn với cách nói chuyện độc đáo của mình quả thực… rất dễ thương. Hỡi ôi, hẳn là tôi đã quá nuông chiều bản thân khi để những suy nghĩ kiểu này nảy sinh ngay khoảnh khắc nhận ra cậu ấy không hoàn toàn cùng giới tính với mình. À thì, trước đó tôi cũng từng có những suy nghĩ tương tự rồi, nhưng việc tâm trí cứ thế buông thả không chút kìm hãm lúc này lại khiến tôi phải khựng lại đôi chút.
"Không."
Tôi nói.
"Tớ luôn cảm thấy ấn tượng khi nghe mọi người nói bằng những cách mà tớ không quen."
"Ấn tượng á? Thật không?"
"Ừ, cậu đỉnh thật đấy. Hai người vừa rồi đối với tớ chẳng khác nào đang dùng ngoại ngữ vậy."
Tiếng Rhine hiện đại, phần lớn là một ngôn ngữ dễ học một khi người ta đã nắm chắc ngữ pháp của nó. Nó hoàn toàn không phải là một ngôn ngữ có thanh điệu phức tạp, bằng chứng là từ cây kỹ năng: việc lĩnh hội ngôn ngữ Thượng Lưu tốn khá nhiều công sức, nhưng các phần nền tảng thì lại rẻ bèo.
Mặt khác, các nhánh phụ trên bảng kỹ năng của tôi cho phép học các phương ngữ vùng miền thì lại có cái giá khiến người ta phải hú hồn. Rốt cuộc thì Đế chế Tam quyền từng là một vùng đất gồm vô số quốc gia không liên quan, cư trú bởi đủ mọi loại văn hóa. Các cộng đồng địa phương thường sử dụng những cách nói ví von kỳ lạ và duy trì việc sử dụng đủ mọi từ ngữ mà đại đa số dân chúng coi là cổ ngữ.
Do đó, nếu không nghiên cứu kỹ về thổ ngữ, những cái gọi là phương ngữ này nghe rất giống những ngoại ngữ. Tôi từng gặp điều gì đó tương tự ở Nhật Bản: dù họ đến từ vùng Đông Bắc hay Tây Nam, tôi gần như không thể hiểu nổi những người nói giọng địa phương nặng. Việc học cách giải mã lời nói của họ sau này trong đời giống như việc diễn giải một ngoại ngữ mà tình cờ lại tuân theo cùng các quy tắc ngữ pháp với tiếng mẹ đẻ của tôi vậy.
"Phương ngữ miền Bắc đúng là có rất nhiều từ cổ."
Mika lưu ý.
"Tớ cũng có thể hiểu tiếng Bắc Cổ và ngôn ngữ quần đảo nữa, và cả ba đều có rất nhiều từ vựng chung. Có một vài điểm khác biệt về cách đánh vần, và trọng âm đặt ở các âm tiết khác nhau, nhưng phần lớn thì cậu vẫn có thể trò chuyện suôn sẻ giữa cả ba thứ tiếng. Kỳ lạ nhỉ?"
"Thú vị thì đúng hơn. Tớ chắc chắn rằng một chuyến đi đến cực Bắc sẽ cực kỳ dễ như trở bàn tay nếu có cậu đi cùng đấy."
Người bạn có năng khiếu ngôn ngữ của tôi và tôi tiếp tục tản bộ trên những con đường nông thôn, nhưng tâm trí tôi lại bay xa hơn về phía phương Bắc. Thành thật mà nói, tôi chẳng biết gì về những vùng đất bên ngoài Đế chế cả. Tất cả những gì tôi học được về thế giới này đều đến từ nhà thờ Konigstuhl, những lời giải thích từ những người lớn trong đời tôi, và những câu chuyện lịch sử do các thi sĩ ca tụng.
Nhà thờ Konigstuhl rõ ràng chưa bao giờ có ý định lưu giữ những ghi chép khách quan về các quốc gia nước ngoài, nên tất cả các tài liệu trong thư viện của họ đều xuất phát từ góc nhìn của Đế chế. Mặc dù chúng ít mang tính thù địch hơn nhiều so với tôi tưởng tượng, nhưng chúng vẫn mang nặng sự thiên vị đối với các hoạt động của Đế chế và chỉ đề cập đến các quốc gia khác trong những dịp hiếm hoi khi chúng có liên quan đến lịch sử quốc gia. Có lẽ thư viện lớn của học viện có nhiều tài liệu tốt hơn, nhưng tôi đã dành toàn bộ thời gian trong thư viện đó để nghiên cứu ma thuật, nên tôi chẳng còn thời gian dành cho các môn khoa học nhân văn.
Tuy nhiên, có lẽ thế lại hay. Khám phá một vùng đất mà tôi thậm chí còn chưa từng đọc qua với chỉ thanh gươm và sự nhạy bén của mình chắc chắn sẽ tạo nên một câu chuyện hấp dẫn. Lao vào một bối cảnh mới mà không đọc qua cơ chế của nó thì rủi ro đấy, nhưng nó luôn cực kỳ thú vị. Chắc chắn một chuyến đi như thế sẽ khiến tôi phải thốt lên rằng: Đây mới chính là ý nghĩa của phiêu lưu!
"Thế thì lúc nào đó chúng ta cùng đi nhé."
Mika nói.
"Tớ biết rất nơi đẹp tuyệt trần. Cậu có thể đi bộ băng qua biển phương Bắc vào mùa đông, và những dải cực quang lấp lánh trên bầu trời sẽ làm cậu nghẹt thở luôn đấy. Ồ, và có một thác nước khổng lồ đóng băng cứng ngắc, nó hơi cách xa quê hương tớ một chút, nhưng nơi đó tuyệt cú mèo. Tớ nghĩ ai cũng nên đến xem nó ít nhất một lần trong đời."
Mika vui vẻ liệt kê những kỳ quan của phương Bắc. Người ta vẫn bảo người bản địa chẳng bao giờ ghé thăm các thắng cảnh quê mình, nhưng xem ra cậu ấy đã dành thời gian để khám phá tất cả. Khi cậu bộc lộ nỗi niềm hoài niệm, tôi có thể thoáng thấy một chút tự hào lấp ló trong biểu cảm của cậu.
"Tất cả những nơi đó nghe đều tuyệt đẹp đấy."
Tôi nói.
"Tớ rất muốn được tận mắt nhìn thấy chúng."
Mặc dù cậu ấy từng tỏ ra đau đớn khi nhắc đến huyết thống của mình, nhưng rõ ràng là cậu vẫn rất yêu nơi ấy. Bằng không thì tại sao cậu lại muốn tạo dựng tên tuổi chỉ để mang lại vinh quang cho quê hương của cha mẹ mình chứ? Nếu không yêu lịch sử gia đình, cậu đã có thể đưa tất cả đến đế đô ngay sau khi giành được danh hiệu học giả ma pháp rồi.
"Vậy thì… tớ sẽ dẫn cậu về quê hương tớ một ngày nào đó, Erich. Dù ở đó chỉ toàn băng với tuyết… à, thêm cả cừu và tuần lộc nữa."
"Tớ rất mong chờ đấy."
Cả hai chúng tôi đã trao nhau lời hứa cho một tương lai xa xôi: rằng chúng tôi sẽ cùng nhau khám phá những vùng đất cực Bắc, và khi làm điều đó, cậu ấy sẽ khôi phục lại vinh quang cho quê hương mình. Và bước đầu tiên để thực hiện lời thề đó chính là giải quyết gọn gàng cuộc phiêu lưu nho nhỏ đang chờ đợi phía trước.
---
[Mẹo] Tiếng Rhine hiện đại hình thành từ sự kết hợp nhân tạo từ ngôn ngữ của các quốc gia thành viên sáng lập Đế chế.
---
‘Rừng’ là một khái niệm khá rộng. Những quần thể cây cối như thế có thể khác biệt hoàn toàn về nhiều khía cạnh, và việc mong đợi một đằng nhưng lại tìm thấy một nẻo chẳng có gì là mới lạ cả. Bản đồ có thể hiển thị ranh giới cho biết một khu rừng bắt đầu và kết thúc ở đâu, nhưng hiếm khi nó nào tính đến chiều thứ ba là chiều cao.
Sau khi nghe tin điểm đến của chúng tôi có thể có gấu, tôi đã chuẩn bị tinh thần cho một bụi cây rậm rạp… nhưng yêu cầu của Ngài Feige lại vượt xa mọi kỳ vọng của tôi.
"Đây mà là ‘rừng’ á?"
Mika kinh ngạc thốt lên.
"Tất cả những gì tớ thấy chỉ là một đại dương cây cối vô tận."
"Thật trùng hợp làm sao, bạn hiền ạ. Tớ cũng đang thấy y hệt thế."
Cả hai chúng tôi sững sờ nhìn chằm chằm vào khu rừng và há hốc miệng đến mức cổ bắt đầu mỏi nhừ vì phải ngước lên nhìn vòm tán lá cao vút. Tôi cảm thấy lo sợ tột cùng khi bức tường cây cối kiên cố ấy phủ nhận hoàn toàn ý nghĩ về việc con người có thể bước chân vào.
Nơi này không còn nằm trong quy mô của một cuộc phiêu lưu ‘nhỏ’ nữa. Đây chính là kiểu rừng sâu nước độc mà một mụ phù thủy cổ xưa sẽ chọn làm chốn dung thân, chỉ để bị làm phiền cho một trận chiến quyết định hay một yêu cầu chế tạo linh dược thất truyền từ lâu.
Cây độc cần, linh sam, sồi… khu rừng này là sự pha trộn hỗn loạn giữa thực vật hạt trần và cây rụng lá, khiến nó càng trở nên xa lạ hơn đối với những ai mới chỉ khám phá các khu rừng ở Berylin và Konigstuhl. Những lùm cây được chăm sóc kỹ lưỡng đó vốn đầy rẫy những cây sồi và bách dùng cho việc mộc; nếu chúng giống như những ngôi trường quý tộc dành cho con nhà giàu, thì nơi này chẳng khác nào chúng ta đang gõ cửa một trại cải tạo vị thành niên tồi tàn.
Ở đây, cây cối phát triển một cách hoang dã cho đến khi tự chúng quyết định dừng lại, và những bộ rễ khổng lồ nhô lên từ lòng đất được che giấu kỹ càng dưới một lớp thảm lá rụng dày đặc. Những thân cây này chẳng hề bày biện sự hiếu khách với giả định rằng sẽ có ai đó đến chăm sóc chúng; chúng chủ động xua đuổi những kẻ lạ mặt xâm nhập.
Chuyến đi dạo ngắn ngủi của chúng tôi đã biến thành một một cuộc đi hầm ngục ngoài trời nhanh đến chóng mặt. Nếu tôi thiếu kinh nghiệm điều hướng ở các khu vực có nhiều cây cối, tôi đã quay đầu ngay lập tức để thuê một kiểm lâm hoặc hướng đạo sinh cho an toàn. Bất kỳ người chơi TRPG nào cũng biết rằng việc thám hiểm hầm ngục mà không có người dẫn đường chẳng khác nào tự sát.
Chỉ trang bị áo giáp nhẹ, mang theo lương thực đủ dùng trong vài ngày trong túi, Mika và tôi cảm thấy như vừa bị đấm một cú trời giáng trước quy mô khổng lồ của khu rừng, nhưng đó không phải là lý do để dừng lại. Địa hình kiểu này có thể gây cản trở đáng kể cho một nhóm mạo hiểm giả bình thường, nhưng điều đó không đúng với chúng tôi.
Là một Oikodomurge đang trong quá trình đào tạo, Mika không hề xa lạ gì với đất đá và cây cỏ. Mặc dù cậu ấy không hòa hợp với vạn vật tự nhiên như các mục sư có thể giao tiếp với linh hồn, nhưng cậu ấy hoàn toàn đủ khả năng để mở ra một lối đi cho chúng tôi.
Sau khi chuẩn bị một chút, cậu niệm một mẹo vặt - các oikodomurge thường am hiểu về thuật pháp hơn, vì công việc của họ vốn dĩ đòi hỏi tính bền vững - khiến lớp đất tự nén lại thành một lối đi rộng bằng vai. Con rắn đất tiến thẳng vào sâu bên trong trong khi khéo léo bao phủ tất cả các rễ cây và gờ đất khổng lồ có thể khiến chúng tôi vấp ngã.
"Xin lỗi nhé, đây là điều tốt nhất tớ có thể làm mà không tốn quá nhiều ma lực."
Mika nói.
"Ý cậu là sao? Thế này là đỉnh lắm rồi đấy."
Con đường đất phẳng lì đến hoàn hảo và rất dễ di chuyển dù có phần hẹp. Hơn nữa, việc nó thẳng tắp không một chút sai sót đồng nghĩa với việc chúng tôi chắc chắn sẽ tránh được tình trạng nhầm lẫn phương hướng thường đi kèm với các cuộc thám hiểm trong rừng. Cả giấy kẻ ô lẫn vụn bánh mì đều chẳng có cơ hội để tỏa sáng trong chuyến đi này.
"Cậu nghĩ thế à? Chà, tớ không muốn làm hỏng hay gây tổn hại gì cho khu rừng này đâu. Ai mà biết được chúng ta sẽ gặp rắc rối lớn đến thế nào nếu lỡ làm thế chứ…"
Tôi vỗ nhẹ lên vai Mika để xua đi những lo lắng của cậu ấy, và sau một khoảng lặng ngắn, cậu ấy vỗ lại tôi như mọi khi. Sau đó, cả hai tiếp tục tiến bước trên con đường vừa được tạo ra với những bước chân sát cánh quen thuộc như mọi khi.
Ngay cả vào giữa trưa, ánh sáng trong khu rừng vẫn mờ ảo, và đám đĩa bám trên từng thân cây góp phần tạo nên một bầu không khí rợn tóc gáy. Thế nhưng, bản thân nơi này lại yên bình đến ngạc nhiên. Tôi không biết liệu có nên quy công này cho một chuỗi các kết quả xúc xắc thuận lợi hay không, nhưng chúng tôi chẳng hề chạm trán con lợn rừng hung dữ, con gấu hay tên cướp nào cả.
Công bằng mà nói, gác lại lũ động vật sang một bên, chẳng có lý do gì để kỳ vọng một nhóm du thủ du thực lại dựng trại ở cái nơi khỉ ho cò gáy này cả. Người dân thế giới này thiếu đi cái sự ngông nghênh của những đám mob hay xuất hiện ở mọi hầm ngục hay ngọn núi lửa, nơi mà xúc xắc bắt buộc phải hiện diện.
Một nhóm cướp giả định thì sẽ cướp bóc ai ở cái khu rừng hẻo lánh này chứ? Ngay cả khi chúng muốn nhắm riêng đến những lữ khách trong lúc né tránh ánh mắt của lính tuần tra Đế chế, vẫn có vô số khu rừng có lưu lượng người qua lại lớn hơn và nằm gần thị trấn hơn nhiều.
Do không bị làm phiền bởi sự vô lý của những cuộc chạm trán ngẫu nhiên, chúng tôi thong thả rảo bước qua khu rừng thanh bình, thỉnh thoảng dừng lại để nhặt một vài vật phẩm hữu ích. Khu rừng nguyên sinh chưa bị tàn phá để lại rất nhiều loại thảo dược có giá trị vài đồng xu nằm vương vãi khắp nơi, và sự cạnh tranh khốc liệt với vô số thân cây xung quanh đồng nghĩa với việc chỉ những thực vật xuất sắc nhất mới có thể sống sót. Thảo dược đạt chất lượng thế này chắc chắn sẽ bán được một khoản khá khấm.
"Nhìn kìa Erich, quả sồi này! Nhìn đống này xem!"
Mika thu lượm một đống quả sồi khổng lồ từ dưới nền rừng với nụ cười rạng rỡ trên môi. Cậu ấy không hề đùa nghịch theo kiểu trẻ con đâu nhé: quả sồi là một loại lương thực chủ đạo mà người dân tộc cậu đã ăn qua nhiều thế hệ.
"Chúng tớ từng thu gom rất nhiều thứ này vào mùa thu để tích trữ cho mùa đông. Nếu cậu nghiền chúng thành bột rồi thêm chút nước vào, ăn cũng không đến nỗi tệ đâu."
Khi nhét đầy túi đồ của mình, cậu ấy nói thêm.
"Tớ sẽ tự làm một ít khi chúng ta về nhà."
Dù là món ăn chủ đạo ở phương Bắc, cư dân ở thủ đô lại coi quả sồi là thức ăn của kẻ bần cùng dùng để nuôi lợn, chứ không phải cho con người. Dù vậy, món thịt cừu chúng tôi ăn ngày hôm qua đã khơi nguồn cho mong muốn thưởng thức ẩm thực quê nhà của Mika.
"Nếu cậu tách bỏ phần đắng, cậu có thể dùng nó làm bánh mì và bánh quy, và cậu cũng có thể hãm nó làm trà nữa. Cá nhân tớ thích nhất là khi đem ninh nhừ nó thành một dạng hỗn hợp sệt, nhưng tớ chẳng thấy nó ở đâu kể từ khi rời phương Bắc xuống phía Nam cả."
Cuộc tản bộ của chúng tôi cứ thế tiếp diễn một hồi lâu với những lần rẽ hướng nhỏ. Vào khoảng thời gian những chiếc ba lô bắt đầu nặng trĩu vì thảo dược và trái cây, tôi cảm thấy có cái gì đó cựa quậy trong chiếc túi đeo hông của mình… cái túi đựng bông hồng của Ursula.
"Có chuyện gì thế?"
Mika hỏi.
Việc tôi khựng lại giữa đường khiến người bạn đồng hành không khỏi bối rối. Tôi bảo cậu đợi một lát rồi rút bông hồng ra. Mặc dù tôi có thể lờ mờ cảm nhận được sự hiện diện của Ursula qua độ rung nhẹ, nhưng cô ấy không hề xuất hiện từ nụ hoa như trước đây.
Tôi bừng tỉnh nhận ra: đêm nay sẽ là Huyễn Nguyệt. Sức mạnh của loài Alfar luôn có chu kỳ suy thịnh theo Huyễn Nguyệt, nên khi Nữ Thần Màn Đêm hiện thân trọn vẹn, đó hiển nhiên là thời điểm họ bị suy yếu. Nếu như Ursula cần đến đêm trăng non mới có thể hiện hình với kích thước của một người thường, thì tôi e rằng hôm nay cô thậm chí chẳng thể tạo ra hình hài cho mình.
Về cơ bản, tôi đang thiếu đi sự hỗ trợ từ phía các tiên.
Ơn trời là mình đã không đầu tư quá nhiều vào các đặc tính liên quan đến tiên tộc.
Nếu có, một kẻ sở hữu công nghệ khắc chế Erich nào đó có lẽ đã tẩn cho tôi nhừ tử vào bất kỳ kỳ Huyễn Nguyệt nào khi chỉ số liên quan đến chiến đấu bị giảm một nửa.
Đùa vậy thôi, có vẻ như khả năng giao tiếp hiện tại của tôi với Ursula chỉ là một chiều. Do không thể cất thành lời, việc cựa quậy trong túi là cảnh báo tốt nhất mà cô ấy có thể đưa ra.
Tuy nhiên, điều đó chẳng cho tôi biết chút gì về thông điệp mà cô ấy đang cố truyền tải cả. Việc lược bỏ thông tin quan trọng nghe thì có vẻ kịch tính đấy, nhưng nó lại chẳng hữu ích cho lắm. Chẳng lẽ tôi thực sự vừa… kích hoạt một màn đấu trùm rồi á? Cá nhân tôi cảm thấy cuộc trò chuyện từ tận đáy lòng với Mika vừa rồi đã đủ cao trào lắm rồi.
"Hãy cảnh giác."
Tôi nặng nề lên tiếng.
"Tớ có dự cảm không lành."
"Chỉ là linh tính thôi á? Đừng lo, bạn hiền, có tớ đây rồi."
Không mảy may nghi ngờ, Mika vẫy cây trượng phép và một cái hố xuất hiện trên mặt đất.
"Chúng ta nên di chuyển nhẹ nhàng, đúng không? Hãy giấu đồ đạc của mình ở đây nào."
Không những đào một cái hố, cậu ấy còn cẩn thận lèn chặt khe hở bằng đá để ngăn chặn bất kỳ loài động vật hoang dã tò mò nào đào bới vào trong. Tôi đoán là cậu đã dùng một loại phép thuật lát đá nào đó, vì những thứ đó là vật bất ly thân đối với các Oikodomurge. Mika hôm nay đang dùng tất cả các mánh khóe của mình, và cuối cùng tôi cũng hiểu tại sao tất cả các đoàn thương đoàn lại tỏ ra biết ơn các pháp sư đi cùng họ đến vậy.
Được giải phóng khỏi toàn bộ hành lý ngoại trừ một lượng thức ăn và nước uống tối thiểu, tôi dùng kỹ năng ẩn nấp còm cõi của mình để dẫn đường. Mika đi theo ở một khoảng cách nhất định để tránh cả hai bị vướng vào một cuộc tập kích bất ngờ. Điều đó khiến cho pháp sư tuyến sau có phần mỏng manh của chúng tôi trơ trọi một mình nếu có kẻ lẻn ra từ phía sau, nhưng cậu ấy có một linh thú để canh chừng sau lưng. Ít nhất thì cậu ấy có thể bảo vệ góc khuất của mình tốt hơn tôi.
Từ hư không, một cơn gió mang theo mùi hôi thối xộc thẳng vào mũi tôi. Tôi quá quen thuộc với cái mùi này rồi. Tôi chưa bao giờ muốn nó trở nên quen thuộc với mình, nhưng sự đời vốn là thế. Đây là thứ mùi ngọt ngào bệnh hoạn của sự phân rã hòa quyện cùng xú uế… mùi của tử thần.
Cái chết chực chờ ở mọi ngóc ngách của vùng đất này, và không chỉ vì Mensch vốn được sinh ra với sự phù hợp đến kỳ cục cho hành động đó. Những hình phạt mang tính răn đe được thực hiện trên khắp toàn Đế chế.
Tôi chưa thấy nhiều vụ ở tổng này, nhưng mọi thành phố vừa và nhỏ đều tổ chức hành hình công cộng vài lần một năm và bêu xác tội phạm lên tường thành giống như đèn trang trí Giáng sinh vậy. Trên những con đường lớn, người ta có thể thấy đám cướp và những kẻ tương tự tham gia vào phương pháp tập thể dục mang tính cách mạng mới là bị treo ngược cổ chân lên. Việc bị chai sạn cảm xúc không phải là một lựa chọn, mà là một sự bắt buộc.
Đầu của những tên tội phạm ghê tởm nhất được bảo quản trong hổ phách và đem đi diễu hành khắp Đế chế trong một chuyến lưu diễn xuyên quốc gia đầy rùng rợn. Một trong số đó thậm chí từng diễu hành qua quê hương tôi để trưng ra số phận của những kẻ phản diện và bạo loạn vĩ đại, nên việc mổ xẻ gia súc chẳng phải là trải nghiệm duy nhất của tôi với những cảnh tượng đẫm máu kinh hoàng… và cái mùi ấy lúc nào cũng giống hệt nhau.
Tôi giơ nắm đấm lên, và Mika nhận ra ám hiệu tay đã thỏa thuận từ trước của chúng tôi nên liền khựng chân lại. Tôi lặng lẽ tiến vào lùm cây; mùi hôi thối phát ra từ một hướng cách xa con đường của Mika. Tôi cẩn thận bước tới để không làm xáo trộn bất kỳ chiếc lá hay cành cây nào - trong khi phải đấu tranh với sự thôi thúc muốn cộng điểm vào kỹ năng Ẩn Nấp - và tiến đến tận nguồn phát ra mùi.
Việc tìm ra nó dễ hơn nhiều so với tưởng tượng. Tôi bắt gặp hình bóng của một người đàn ông đứng thẳng giữa những tán cây mà không hề có ý định che giấu. Từ phía sau, tôi có thể nhìn rõ bộ quần áo rách rưới, mái tóc bù xù, làn da dính đầy bùn đất, và tội tệ nhất là cánh tay trái bị cụt: hắn là Undead.
Ồ, đáng lẽ mình phải nhận ra từ sớm.
Cái mùi phân hủy của loài người là không thể nhầm lẫn; một giác quan nào đó trong tôi lập tức nhận diện được mùi hương này chính là sự thối rữa của thịt Mensch.
Tôi đã lường trước khả năng này, và dạo gần đây tôi cảm thấy mọi dự đoán tồi tệ nhất của mình đều hóa thành sự thật. Dù sao đi nữa, dù có đọc nhiều sách vở đến đâu, đây cũng là lần đầu tiên tôi tận mắt chứng kiến loại Undead này ngoài đời thực.
Trong thế giới nơi sự tồn tại của linh hồn là một điều hiển nhiên, có một vài cách khác nhau để một sinh thể trở thành kẻ bất tử. Một thế giới có các Geist và Wraith nhưng lại không có Zombie thì sẽ thật nửa vời, và những kẻ nhào nặn ra vũ trụ này đã không hề tiếc tay thêm thắt các yếu tố kinh dị vào tác phẩm của họ. Tôi nghĩ biểu cảm méo mó trên mặt mình là đủ chứng minh tôi biết ơn việc đó đến nhường nào rồi.
Xét về các chủng loại Undead khác nhau, loại đầu tiên bao gồm tất cả các chủng tộc không có giới hạn trên về tuổi thọ. Chủng Methuselah thuộc nhân tộc và Ma Cà Rồng thuộc ma tộc là những ví dụ nổi tiếng nhất, nhưng vì vốn là những nạn nhân tiềm năng của các vụ mưu sát, rất ít người coi họ thực sự là Undead. Chủ yếu thì sự phân loại này giống như một biệt danh sinh ra từ nỗi sợ hãi trước khả năng hồi phục đáng kinh ngạc của họ. Trên thực tế, tôi từng đọc được rằng hầu hết các chủng tộc này đều cho rằng cái tên đó là một sự sai lệch và không muốn bị gom nhóm theo cách này.
Loại thứ hai là những kẻ đã bị tước đoạt, hoặc vì lý do nào đó, mà mất đi khả năng chết. Những tài liệu thần học ít ỏi mà tôi từng đọc chứa các đoạn văn về sự trừng phạt của thần linh đôi khi cũng tước đi của chúng tôi những quyền lợi mà tôi từng nghĩ là bất khả xâm phạm. Giấc ngủ, sự trao đổi chất và cảm xúc có thể bị lấy đi khỏi chúng ta, nhưng những kẻ tội lỗi nặng nề nhất lại đánh mất cả quyền được chết.
Những kẻ bị tước đoạt mất sự giải thoát ngọt ngào ấy được xếp chung với tiểu thư Leizniz - người mang sự bất tử một cách hoàn toàn đồng thuận - và nhóm của cô như là loại Undead thứ hai… nhưng người đàn ông trước mặt tôi rõ ràng không thuộc hai loại này.
Không, hắn là một trường hợp thuộc loại thứ ba và cũng là cuối cùng: một cái vỏ rỗng tuếch được hồi sinh mà không có linh hồn. Phép thuật bắt thế giới phải quỳ gối, và có vô vàn cách để giật dây một con rối bằng da thịt để nó cử động được. Từ lâu, tôi từng tìm thấy một cây kỹ năng dùng để triệu hồi các sinh thể đã chết có thể tự cử động độc lập với mình và đã nghĩ rằng,
Cái này mạnh đấy!
Tuy nhiên, tôi đã nhanh chóng từ bỏ ý định đó khi nhận ra nó có lẽ sẽ biến tôi thành kẻ thù của công chúng mất.
Định nghĩa của tôi về sức mạnh không chấp nhận sự thỏa hiệp ở khía cạnh nhập vai của cuộc phiêu lưu, nên đó là một lựa chọn dễ dàng để loại bỏ. Các chỉ số của tôi có cao đến đâu cũng chẳng còn ý nghĩa gì nếu tôi cứ phải đứng chôn chân bên ngoài cổng thành mỗi khi cả nhóm vào phố.
Tuy nhiên, hẳn phải có ai đó không đồng tình với điều đó, bởi vì hình hài trước mặt tôi lại được hồi sinh với đúng loại sức mạnh phi lý ấy. Nếu không phải vậy, thì một Geist lang thang hay một lượng ichor dư thừa nào đó chắc chắn đã ngấm vào một cái xác vô chủ kia, các chuyển động của hắn ta thiếu vắng trí tuệ bậc cao để có thể xếp vào cùng một tầng lớp với tiểu thư Leizniz.
Đột nhiên, cái cổ của cái xác chết xoay ngoắt một góc không tưởng để đối diện với tôi. Nhãn cầu bên trái teo tóp của hắn đã lòi ra khỏi hốc mắt, lực quán tính từ chuyển động khiến nó lúc lắc trên một sợi dây thần kinh. Con mắt bên phải thì hoàn toàn biến mất và đã được thay thế bằng bùn đất. Khi hắn trân trân nhìn về phía tôi bằng ánh nhìn vô hồn, hàm răng của hắn liên tục ngoạm vào không trung với một cơn đói khát không tài nào dập tắt nổi.
Bị choáng ngợp bởi cảnh tượng ghê rợn tột cùng, một tiếng rít thảm hại phát ra từ cổ họng tôi.
Khoan đã, sao hắn lại biết mình đang… chờ đã!
Nghĩ lại thì, đám Undead có thể đánh hơi được sự hiện diện của linh hồn nhờ vào một loại hệ thống cảm giác phi vật lý nào đó, hệt như loài Alfar vậy.
Gã đàn ông xoay người nhanh nhẹn hơn nhiều so với từ ‘Zombie’ có thể diễn tả và lao sầm về phía tôi nhanh như bất kỳ Mensch sống trưởng thành nào. Bàn tay còn lại vươn ra cùng hàm răng lách cách khua động như cặp castanet thực sự chẳng khác gì một bộ phim kinh điển thể loại kinh dị kinh phí lớn, chẳng cần đến kỹ xảo hay chỉnh sửa gì sất.
Tôi đối đầu trực diện với hắn, nhưng chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Ngay sau đó, tôi bước lên nửa bước. Tôi đã sớm rút thanh Schutzwolfe ra như một biện pháp phòng ngừa cho chính tình huống này, và chỉ một nhát chém là đủ để thổi bay cái đầu của tên Zombie. Tốc độ của hắn chắc chắn đã khiến tôi bất ngờ, nhưng chẳng có gì đáng để bận tâm cả. Thay vào đó, sự ngây ngô không não của hắn lại biến hắn thành một mục tiêu dễ như trở bàn tay.
Hơn thế nữa, những trò giải trí từ kiếp trước đã rèn luyện cho tôi cách đối phó với lũ Zombie hiếu chiến. Nhóm bạn câu lạc bộ của tôi và tôi từng khá mải mê với việc càn quét những bầy lũ nhiễm bệnh với tư cách là một nhóm bốn người trong một khoảng thời gian.
Tên Zombie lộn nhào về phía trước với toàn bộ đà lao, và cái đầu của hắn đập vào một cái cây gần đó rồi lăn lóc dưới chân tôi. Một đòn gọn gàng, nếu tôi tự mình đánh giá. Tôi đã tung ra một vết thương chí mạng với độ chính xác tuyệt đối.
Đây là khoảnh khắc mà nếu là một gã vận động viên ồn ào, tôi hẳn đã dính một đòn sát thương cộng thêm không thể né tránh rồi bỏ mạng ngay trong đoạn cắt cảnh. Nhưng dù tôi không phải kiểu người đó, tình thế này vẫn thật đáng lo ngại. Undead luôn báo hiệu những điềm gở: có thể có một tên pháp sư tà ác nào đó đang ẩn náu trong khu rừng này, hoặc có quá nhiều ichor để hồi sinh một cái xác, hoặc thậm chí là…
Hửm?
Tôi cảm thấy có thứ gì đó sượt qua chân mình. Tôi tò mò cúi xuống, chỉ để chạm trán ánh mắt với cái đầu mà tôi vừa mới chém đứt. Và ngay sau lưng, tôi nghe thấy tiếng giòn giã của ai đó đang giẫm lên lá và cành cây…
"Ối trời?!"
Tôi kêu lên một tiếng thất thanh.
Bây giờ tôi mới nhớ ra: những kẻ địch kiểu này luôn kháng sát thương vật lý, và các đòn chí mạng thậm chí còn chẳng hề có tác dụng!
---
[Mẹo] Các đòn tấn công chém kém hiệu quả hơn đối với những kẻ địch không có các cơ quan sinh tồn chí mạng.
---
Câu hỏi: Sự khác biệt giữa Zombie trong truyện kỳ ảo và Zombie trong phim kinh dị hiện đại là gì?
Đáp án: Lý do chúng tiếp tục di chuyển.
"Áaaaa!"
Tôi hét lên như một đứa trẻ con và dùng toàn bộ sức mạnh trong cơ thể đá văng cái đầu không thân thể đang cố gắng gặm nhấm đôi bốt của mình. Tội không khỏi cực kỳ ấn tượng khi thấy nó bay xa đến mức nào trước khi biến mất tăm vào trong khu rừng.
Zombie trong các bộ phim kinh dị hiện đại xuất hiện từ virus, ký sinh trùng hoặc các đột biến di truyền, và chúng thường sẽ gục ngã một khi cái đầu của chúng không còn nữa. Thỉnh thoảng, chúng thậm chí còn tắt điện nếu mất đi trái tim. Ngoại trừ một vài ngoại lệ thực sự không thể chết, mối nguy hiểm mà một con Zombie tiêu chuẩn mang lại sẽ chấm dứt khi cái đầu của chúng nổ tung từ một phát bắn chí mạng.
Nếu người ta cân nhắc lý do tại sao chúng lại dừng lại khi phần đầu bị loại bỏ, thì câu trả lời tự nhiên sẽ là phần đầu chính là trung tâm điều khiển cho toàn bộ cơ thể của chúng. Cho dù nguyên nhân bắt nguồn từ một ký sinh trùng chiếm đoạt hệ thần kinh, một virus tấn công thân não và tiểu não, hoặc một cơn điên loạn chung kích động bạo lực vô cớ, nó luôn đòi hỏi phải có một bộ não để khiến phần còn lại của con người hành động.
Suy luận ngược lại, nếu người ta cho rằng trung tâm chỉ huy nằm ở một nơi nào đó khác, thì một con Zombie hoàn toàn có thể bị thổi bay phần đầu thành một bãi bèo nhèo bởi một viên đạn súng săn, và tất cả những gì chúng mất đi chỉ là camera chính kiêm vũ khí. Điều đó hoàn toàn không thể ngăn cản chúng theo bất kỳ nghĩa thực tế nào.
Một ví dụ điển hinh ở ngay trước mặt đây.
Dù vụng về đến thế nào đi nữa, cái cơ thể ấy vẫn rướn người đứng dậy bằng cánh tay duy nhất còn lại và lao bổ về phía tôi. Biết rằng Schutzwolfe quá dài để có thể vung vẩy thoải mái ở cự ly này, tôi lật ngược lưỡi kiếm, dùng tay trái đeo găng tóm lấy sống kiếm. Sau khi lách người né cú chộp của tên Zombie, tôi dồn toàn thân lực đập mạnh chuôi kiếm vào bụng hắn.
Tôi cảm nhận được xương cốt rạn nứt và da thịt bứt rời, nhưng cái xác ấy chỉ lảo đảo lùi lại mà chẳng hề gục xuống. Một Mensch sống chắc chắn sẽ phải thở hồng hộc vì thiếu khí và nôn thốc nôn tháo bữa trưa của họ, nhưng thứ này thậm chí còn chẳng mảy may bận tâm.
Tôi cũng lường trước được điều đó rồi. Nếu cái cơ thể chẳng cần đầu để di chuyển, thì phổi hay tim cũng chẳng quan trọng hơn là bao. Tôi có thể nghiền nát hoàn toàn cơ hoành của nó, nhưng nó đơn giản là không có đủ hệ thần kinh để ghi nhận sự khó chịu của chính mình.
Vươn Bàn Tay Vô Hình với lấy một hòn đá gần đó, tôi bồi thêm vài cú đập thật lực cho chắc ăn. Hàng thiên niên kỳ trước, đây có lẽ là thứ vũ khí cận chiến đầu tiên mà tổ tiên chúng ta từng sử dụng. Hòn đá trung thành ấy vẫn tiếp tục giáng những đòn sát thương kha khá cho đến tận ngày nay… nhưng cái Zombie vẫn không chịu chết.
Đây chính là sự kinh hoàng của Undeath trong thế giới kỳ ảo. Được hồi sinh bằng các phương pháp ma pháp hoặc tâm linh, chúng chẳng có điểm yếu nào và hoàn toàn miễn nhiễm với các phản ứng tổn thương như một sinh thể sống. Mặc dù tôi không phải lo lắng về việc bị ‘biến đổi’ do một vết cắn hay vết cào vô tình, nhưng thứ này hoàn toàn có đủ sức để xé toạc một chân tay của tôi, khiến tia hy vọng duy nhất trở nên xám xịt.
Mensch sống sẽ giật mình khi bị cắt trúng, mất phương hướng khi bị mù hoặc điếc, và quằn quại trong đau đớn khi ruột gan phèo phổi tràn ra ngoài bụng. Một số kẻ chỉ nhìn vào vóc dáng trẻ con của tôi là đã không thèm cảnh giác. Mặc dù sức mạnh giữa của Mensch chênh lệch rất nhiều, nhưng nhìn chung, họ vẫn là một trong những mục tiêu thuận tay nhất của tôi.
Nhưng chẳng có điểm yếu nào trong số đó áp dụng được cho một Undead. Những phép thuật mà tôi phát triển để làm rối loạn giác quan trở nên vô nghĩa trước chúng, và nỗi đau sẽ chẳng bao giờ ngăn cản được bước tiến của chúng. Tôi đã tối ưu hóa lối chơi của mình để liên tục tạo ra những đòn chí mạng, nhưng ở đây tất cả đều đổ sông đổ bể… Tôi đã bị tấn công bởi một khắc tinh cứng mà bản thân chưa sẵn sàng đối phó.
"Giờ mình phải làm gì đây?"
Tôi trầm ngâm tự hỏi khi nhìn chằm chằm xuống con Zombie đang giãy giụa. Tôi đang ghìm chặt nó, nhưng nó đã được cường hóa thể chất sau khi hồi sinh. Dù đã dùng những Bàn Tay Vô Hình cải tiến của mình để tóm chặt lấy lưng, tay và đầu gối nó, nhưng rõ ràng điểm yếu cốt lõi của loại phép thuật này bắt đầu lộ ra vấn đề.
Đây chính là điểm yếu lớn nhất của tôi sau khi tăng sức mạnh: tôi không phù hợp để giao tranh với những kẻ to xác hơn hoặc mạnh hơn nhiều so với một người bình thường.
Kỹ năng kiếm thuật và ma thuật của tôi kết hợp với nhau tạo thành một combo tuyệt vời, nhưng một thanh kiếm vẫn chỉ là một thanh kiếm mà thôi. Điều tốt nhất tôi có thể làm là cắt một đoạn thịt hẹp, tương ứng với phần gần mũi kiếm vốn đặc biệt phù hợp để chém. Tôi không có tầm với để chọc thủng bầu trời, cũng chẳng có kỹ năng diện rộng để rẽ sóng nước.
Mặc dù giới hạn của kiếm thuật trong thế giới kỷ ảo này không khác mấy so với Trái Đất, nhưng thật không may là có rất nhiều sinh thể tự nhiên vượt trội hơn hẳn cấp độ của một chiến binh Mensch. Những thực thể như Undead bẻ cong mọi quy tắc xuất hiện ở khắp mọi nơi, và sớm hay muộn gì, việc tôi quá chú trọng vào việc hạ gục những sinh thể hình người trên chiến trường cũng sẽ đụng phải giới hạn.
Tôi rất ước gì mình có một kỹ năng cho phép phóng ra các làn sóng xung kích theo từng nhát chém, nhưng hỡi ôi, thực tế không hề vận hành theo logic của truyện tranh shonen hàng tuần. Không, hành tinh này ưa chuộng sự gai góc của các tạp chí seinen hàng tháng hơn.
Điều đó không có nghĩa là kiếm thuật của tôi vô dụng đâu nhé. Lưỡi kiếm của tôi rất sắc bén, và một cú vung hoàn hảo có thể chém đứt cả giáp lẫn vảy. Tôi hoàn toàn đủ khả năng hạ gục những Giant miễn là tôi liên kết được các đòn chí mạng với nhau, nhưng việc chém đứt những cái chân hay cái cổ dày cộp của chúng là điều bất khả thi dù tôi có thử cách nào đi nữa. Đó chính là trần của kiếm thuật: nó mang lại cơ hội chiến thắng, chứ tôi đời nào lại đi chặt đứt một cái đuôi quái vật trước khi nó đập vào người các đồng đội của mình được chứ.
Khi đối đầu với một kẻ địch hoàn toàn không có điểm yếu chí mạng nào, điểm yếu của chính tôi lập tức phơi bày rõ mồn một. Khi tôi đang đắn đo trước tình thế tiến thối lưỡng nan này, tôi cảm nhận được một câu thần chú đang được niệm từ phía sau.
Ngay sau đó, một thứ bùn xám phóng vút qua không khí, bắn tung tóe lên cái cơ thể đang giãy giụa. Vừa chạm đất, nó lập tức chuyển từ trạng thái nhão sang đông cứng lại.
"Cậu có sao không?!"
Vị Oikodomurge đáng tin cậy ở bên cạnh tôi vừa oanh tạc con Zombie bằng một bãi xi măng khô nhanh. Được cường hóa bằng thuật pháp, chất lỏng quánh đặc này mất đi độ ẩm nhanh hơn cả một miếng bọt biển giữa sa mạc. Ngay cả một thây ma cũng chẳng thể chống lại bê tông đã đóng rắn, và phần chi ít ỏi còn lại bị lộ ra ngoài chẳng thể làm gì ngoài việc quẫy đạp trong bất lực.
"Cảm ơn nhé, Mika. Tớ thật sự chẳng biết phải làm sao nữa."
Tôi đặt một tay lên vai cậu như một lời cảm ơn, và biểu cảm lo lắng trên mặt cậu ấy cuối cùng cũng giãn ra. Cậu ấy hẳn đã lao vội đến ngay khi nghe thấy tiếng thét thảm thiết của tôi.
"Cậu mà cũng có lúc lúng túng trong chiến đấu á?"
Mika hỏi.
"Tớ sẽ chẳng bao giờ đoán được điều đó với vẻ ngoài oai phong lẫm liệt mỗi khi cậu rút kiếm ra đâu."
Nhận được những lời khen ngợi quá đà ngay sau khi hét lên như một đứa trẻ sơ sinh quả thực… đủ xấu hổ để muốn độn thổ cho rồi, một sự thật mà người bạn của tôi hoàn toàn không nhận ra. Hơn nữa, không phải là tôi không biết sợ, và có vô số kẻ địch mà tôi sẽ thua nếu chiến đấu một mình. Nếu ai đó bảo tôi đi lấy đầu tiểu thư Agrippina, thì sát thương lớn nhất tôi có thể gây ra chắc là sám sỡ khi cô ấy đang ngủ (và tất nhiên là cô ấy sẽ xé tôi thành ba ngay khoảnh khắc tiếp theo). Nếu mục tiêu của tôi là tiểu thư Leizniz, tôi thậm chí còn chẳng biết phải bắt đầu từ đâu.
Khoan đã… Có phải tôi toàn bị vây quanh bởi những quái vật hạng nặng không thế?
À, nhưng sự hiện diện của họ đã giúp kiềm chế cái tôi của tôi lại để tôi không điên mà lao đầu vào chết vì thói kiêu ngạo. Vâng, tất nhiên rồi, thật may mắn làm sao khi có họ ở bên! Rốt cuộc thì khiêm tốn luôn là một thử thách muôn thuở cần phải duy trì.
"Thôi nào, học giả ma pháp."
Tôi trêu chọc.
"Cậu phải rõ hơn tớ chứ, một thanh kiếm đơn độc chỉ đưa cậu đi đến một giới hạn nhất định mà thôi. Tác dụng duy nhất của lưỡi kiếm chỉ là tước đi mạng sống con người."
Đối mặt với một tồn tại không phải con người, tôi lại càng thêm biết ơn sự đơn giản của những sinh thể sẽ ngã xuống ngay khi mất đi cái đầu.
"Cũng có lý. Vậy thì tớ đoán đó lại càng là lý do để tớ bám theo cậu đấy."
Mika tự hào ngẩng cao ngực. Lớp bê tông đã hoàn toàn đóng cứng mà không hề có lấy một vết nứt hay bọt khí nào. Đúng là một kẻ cuồng công việc.
…Ồ. Chắc là cậu ấy chính là lời giải cho đám Undead này đây.
Những sinh thể được hồi sinh với cơ thể vật lý được ban phuớc sự dẻo dai và khả năng tái tạo cực kỳ mạnh mẽ. Gã lữ khách ngẫu nhiên được hồi sinh đã tấn công tôi vẫn tiếp tục di chuyển sau hàng chục nhát chém, và có thể sống sót dù bị biến thành một cọc ghim đầy giáo với tên.
Chúng là những bức tường phòng thủ tuyến đầu lý tưởng, nhưng một phép suy giảm tốc độ di chuyển lại khiến chúng hoàn toàn vô dụng. Đây chính là phiên bản Zombie của việc nhốt một tên ma cà rồng vào cỗ quan tài đá rồi ném xuống hồ nước thánh:
Ồ, mình không giết được chúng á? Chà, thế thì mình khỏi cần bận tâm nữa!
Với sự huấn luyện của một Oikodomurge, Mika chính là khắc tinh hoàn hảo của bọn Zombie. Cậu ấy có thể bọc chúng trong bê tông y như vừa làm, thả chúng xuống hố, hoặc thậm chí bọc chúng trong bê tông sau khi thả xuống hố để vĩnh viễn niêm phong chúng lại. Những đòn kết liễu của cậu ấy lúc nào cũng tàn nhẫn như vậy. Tôi lại một lần nữa được nhắc nhở về việc người bạn đồng hành của mình xuất sắc thế nào trong vai trò gây hiệu ứng bất lợi.
"Nhưng mà này…"
Mika ngồi xổm xuống bên cạnh đôi chân của tên Undead.
"Zombie hiếm gặp lắm đấy. Tự hỏi không biết hắn từ đâu ra nhỉ?"
"Bốt da lợn và… quần áo vải lanh."
Tôi nhập hội quan sát cùng cậu ấy.
"Này, nhìn gót chân hắn kìa…"
"Chắc là hắn từng mang cựa giày. Nó có lẽ đã vướng vào rễ cây hay thứ gì đó rồi đứt mất."
Cựa giày gây ra tiếng động và gây vướng víu, nên chúng thường có thể tháo rời và cài lên thắt lưng. Khỏi phải nói cũng biết tôi đã làm thế với cựa của mình vì mục đích ẩn nấp, nhưng có vẻ như tên Zombie đã lang thang trong khu rừng với cựa vẫn gắn liền trên giày, đánh giá qua phần bị gãy trên bốt của hắn.
Từ đó, chúng ta có thể suy ra rằng hắn ta đủ khá giả để có thể thường xuyên di chuyển bằng ngựa. Việc một kẻ có vóc dáng như thế lại biến thành Zombie sâu trong khu rừng này quả thực là một điều bí ẩn.
Tôi đã sút văng đầu hắn đi tận đâu rồi, nhưng có lẽ tốt nhất là nên đi tìm lại nó để tiễn đưa hắn cho phải phép. Dù tôi không chắc lắm về việc chính xác thì mình phải làm thế nào để cho hắn được yên nghỉ.
Undead - đặc biệt là những kẻ sinh ra từ việc quá tải ichor hoặc sự chiếm hữu của Geist - có thể là sự xúc phạm đối với tự nhiên, nhưng hình hài thể xác của chúng mang lại cho chúng khả năng chống chọi trước những nỗ lực chấm dứt sự tồn tại của thế giới. Khác với một dị vật ma pháp thông thường, những thứ này sẽ tiếp tục lang thang cho đến khi cạn kiệt hoàn toàn ma lực trừ khi có ai đó ngăn chúng lại.
Nếu những con Zombie này được hồi sinh bằng phép thuật thì không sao cả. Giống như những dị vật ma pháp khác được đề cập ở trên, chúng sẽ có một nguồn cung ma lực hạn chế và cuối cùng sẽ cạn kiệt. Tuy nhiên, Geist lang thang và các điểm nóng ichor lại kém hợp tác hơn nhiều, và Undead thuộc loại đó sẽ bám trụ ở đây vô thời hạn.
Đáng tiếc thay, hai kẻ ngoại đạo thì không đủ khả năng để tìm ra nguyên nhân gốc rễ, Mika và tôi chẳng thể làm gì dù có chút ít hiểu biết về chủ đề này. Một nhà nấm học nghiệp dư có thể biết rằng chỉ có một trong hai loại nấm giống nhau là có độc, nhưng phải cần đến một chuyên gia mới xác định được loại nào với loại nào, rốt cuộc là vậy đấy. Chúng ta có vắt óc suy nghĩ cả ngày, thì cuối cùng cũng chỉ đi đến kết luận rằng khả năng nào cũng có lý mà thôi.
Những tạo vật bị coi là báng bổ, đi ngược lại sự sắp đặt của thần linh, Undead có thể được thanh tẩy bằng các phép màu. Ngay cả khi không có sự trợ giúp từ thiên đường, những Alfar và tinh linh đặc biệt hùng mạnh vẫn có thể đưa những sinh thể này trở về hình dạng chính nghĩa của chúng.
Đáng tiếc là cả hai chúng tôi đều không thể làm được điều đó. Duy trì một mục sư trong mọi tổ đội quả thực là một lời khuyên khôn ngoan.
Đã có lần, nhóm chơi tabletop của tôi từng dấn thân vào một chiến dịch nơi chúng tôi phải bỏ qua các vị thần của loài người vì lý do cốt truyện. Chiến dịch thiếu vắng mục sư sau đó đã trở thành một trải nghiệm hành xác thực sự. Mọi vết xước đều không được chữa trị, và chúng tôi phải tự chuẩn bị tâm lý đón nhận cái chết trước bất kỳ vết thương nhỏ nào. Tổ đội của chúng tôi chán nản nhấp từng ngụm trà thảo mộc do thợ săn pha, và việc thiếu thốn y dược tử tế thực sự giống đến rợn người với những cuộc chiến tranh lớn thời cận đại.
Mika và tôi đang phải đối mặt với một rắc rối thiếu tư tế theo một hương vị khác, và cùng một suy nghĩ vụt qua tâm trí cả hai. Chúng tôi khóa chặt ánh mắt vào nhau và lặng lẽ gật đầu:
Chuồn thôi. Đây là điềm gở rồi.
Nếu chúng tôi là một tổ đội phiêu lưu đầy đủ thành viên, chúng tôi sẽ hớn hở chuẩn bị cho một màn loot đồ và càn quét trong một hầm ngục mới được khám phá. Đáng tiếc thay, một ma kiếm sĩ (với trọng tâm là kiếm sĩ) và một pháp sư chuyên về hỗ trợ thì hoàn toàn không đủ tiêu chuẩn. Chúng tôi không được huấn luyện cho việc này, chúng tôi chưa chuẩn bị gì cả, và tồi tệ nhất là, đây không phải là một đội hình chuyên thám hiểm hầm ngục.
Tôi chẳng mảy điều gì về cái địa ngục trần gian đang chờ đợi ở sâu bên trong kia, nhưng sự hiện diện của lũ Zombie có nghĩa là nơi đó chắc chắn chẳng có gì tốt đẹp cả. Chuyện này vượt quá mức thù lao của lũ nhóc đang tham gia một cuộc phiêu lưu ‘nhỏ’ rồi.
Điều tốt nhất chúng tôi có thể làm là báo cáo lại những gì mình tìm thấy và giao nó cho các chuyên gia. Tự do khám phá một cách liều lĩnh thì hay thật đấy, nhưng thế này thì hơi quá đà đối với một cặp nhóc tì chẳng có lấy một xu dính túi.
Mặc dù những ai không chung sở thích với Ngài Feige đều coi ông ấy là một khúc gỗ cứng đầu, nhưng ông ấy không phải là kẻ vô lý đến mức ép chúng tôi gánh vác cái nhiệm vụ lố bịch này. Tôi chắc chắn rằng ông ấy sẽ giao cho tôi một nhiệm vụ mới nếu tôi quay về.
Tôi từ chối việc đùa với lửa. Tôi không có sự xa xỉ để xin một bảng nhân vật mới; hơn nữa, tôi cũng chẳng muốn có cái thứ ba làm gì. Việc ép bản thân quá mức dựa trên canh bạc rằng mình có thể được ban cho cơ hội thứ ba là một điều ngớ ngẩn.
Quét mắt nhìn quanh cảnh vật để tìm kiếm thứ gì đó có thể dùng làm bằng chứng, ánh mắt tôi dừng lại ở cái tay đang quẫy đạp trong bất lực của tên Zombie. Nếu chúng tôi chặt nó đi, chắc chắn một chuyên gia sẽ có thể nhận ra rằng nó xuất phát từ một cái xác bất thường. Nhờ đó, chúng tôi sẽ có thể tránh việc bị coi là một cặp trẻ con đang cố tình…
"Này, Erich? Tớ nghĩ là tớ nghe thấy có gì đó đang chuyển động."
Suy nghĩ của tôi bị cắt đứt bởi lời cảnh báo đầy điềm gở của Mika. Tôi đã quá chìm đắm vào những việc chúng tôi cần làm đến mức chẳng mảy may chú ý đến xung quanh. Tôi khum tay lên tai để lắng nghe, nhưng khu rừng vẫn chìm trong im lặng.
"Tớ không th…"
Ngay khi tôi vừa cất lời, tôi nghe thấy tiếng cỏ sột soạt bị giẫm đạp. Nó đến từ phía nam của chúng tôi: hướng mà chúng tôi vừa đi tới. Tôi ngậm miệng lại và nghếch tai lên chỉ để nghe thấy một âm thanh khác. À không, tôi nghe thấy hai, không, ba âm thanh. Và một khi tôi kích hoạt kỹ năng Dò Tìm…
"Ơ."
Mika nói.
"Có chuyện gì vậ…"
"Mika, kiểm tra dây giày đi."
Tôi ra lệnh, đồng thời tự làm điều tương tự với mình. Tôi cất Schutzwolfe trở lại vỏ; tôi biết lưỡi kiếm sẽ chỉ vướng víu trong một pha bứt tốc toàn lực mà thôi.
"Hả? Ờ được rồi…"
Tôi vô cùng biết ơn vì người bạn của mình đã ngoan ngoãn tuân lệnh bất chấp sự bối rối của cậu ấy. Trong lúc cậu ấy thắt lại nút giày, tôi rút con dao karambit ra - có lẽ chỉ là do tôi tưởng tượng, nhưng màu sắc của nó có vẻ trầm hơn bình thường - đồng thời thu thập đá và gậy gối để làm vũ khí phụ bằng kỹ năng Bàn Tay Vô Hình của mình.
Khỉ thật, đáng lẽ mình phải biết thừa mới phải. Ai lại hoảng sợ vì một con Zombie đi lẻ.
"Ái?!"
Mika hoảng hốt kêu lên.
Lùm cây xào xạc và những thân cây chao đảo khi đám Undead bò qua hàng rào cành cây dưới ánh nắng mờ ảo. Hai, ba, bốn… từng con trong đám đông đang kéo đến mang một vẻ dị dạng riêng biệt, nhưng chẳng kẻ nào còn nguyên vẹn. Tất cả chúng đều được hợp nhất bởi một thứ kinh khủng như nhau: cơn đói khát vĩnh cửu thôi thúc lũ Undead săn lùng sự sống.
"Chạy mau!"
Tôi hét lên.
Sao tôi lại có thể quên rằng lũ này lúc nào cũng kéo đến cả bầy thế này cơ chứ? Chúng đã chiếm lĩnh các màn hình lớn nhỏ trong suốt nửa thế kỷ, và ngay cả trong thời kỳ tivi đen trắng cổ xưa, chúng cũng là những con quái vật đầu tiên xuất hiện trên màn hình với số lượng lớn.
Tôi chộp lấy tay Mika và cắm cổ chạy với quyết tâm trốn chạy khỏi binh đoàn của cõi chết này.
---
[Mẹo] Những người sử dụng phép màu có những giới hạn nghiêm ngặt về những việc mà họ có thể mượn sức mạnh thần linh để thực hiện. Các vị thần chiến tranh từ chối ban phát phép màu chữa lành; các vị thần sinh nở không thể hiện sức mạnh của mình trong lĩnh vực quân sự; và các vị thần yêu thích sự tĩnh lặng không cho phép sự hủy diệt.
Tuy nhiên, tất cả những người gìn giữ thế giới đều đồng thời chia sẻ khả năng sửa chữa những sai lầm đang tàn phá hành tinh. Nếu tình huống đòi hỏi, họ sẽ chia sẻ sức mạnh này với bất kỳ ai, ở bất kỳ mức sức mạnh nào.


