Chúng tôi đến nơi khi trời đã sẩm tối. Khác với những bức tường thành cao ngất của các đô thị lớn như Berylin, chúng tôi bước qua một cánh cổng được bao quanh bởi những bức tường đơn sơ cao chưa đầy ba mét. Dù việc quy hoạch đô thị rõ ràng vận tuân thủ theo các tiêu chuẩn của Đế chế, nhưng thị trấn này có lẽ sẽ sụp đổ chỉ trong nửa tháng nếu phải đối mặt với một cuộc bao vây.
Dĩ nhiên, nơi này cách Berylin chừng hai ngày đường nếu sứ giả chạy nhanh nhất có thể, nên người dân ở Wustrow chẳng có lý do gì phải đầu tư quá nhiều vào hệ thống phòng thủ. Hẳn Rhine sẽ rơi vào tình thế ngặt nghèo nếu một thành phố nằm gần đế đô đến thế thất thủ; vào lúc đó, Đế chế sẽ bận chuyển dời vương miện hoặc liều lĩnh đặt vận mệnh quốc gia vào một trận chiến quyết chiến chứ chẳng màng gì đến một thị trấn nhỏ bé cả.
Sau khi vượt qua một buổi kiểm tra danh tính vô cùng qua loa ngay cổng trước, chúng tôi nộp 50 assarii tiền phí vào cổng - lúc đầu tôi đã hơi sốc, nhưng chắc là khoản này dùng để thay thế cho phí cầu đường khi di chuyển trên các tuyến cao tốc - rồi tiến vào trong trị trấn. Dĩ nhiên, việc đầu tiên chúng tôi cần làm là hướng thẳng đến…
"Được rồi, tìm một quán trọ đã nào."
"Ừm, đi thôi."
…nơi nghỉ ngơi. Nhiệm vụ thì có thể đợi.
Việc đi tìm gặp người khác vào giờ ăn tối đi ngược lại với lẽ thường. Điều này càng đúng hơn với bất kỳ ai mà Agrippina du Stahl - người nổi tiếng với việc mang hàng đống quy củ cứng nhắc trong người - cho là ương bướng. Tôi đoán rằng Ngài Feige chắc chắn là một nhân vật rất khó nhằn, và cẩn thận bao nhiêu cũng không bao giờ là thừa. Tệ nhất là theo suy tính của tôi, ông ấy có thể sẽ dùng vũ lực ngay khi chúng tôi vừa gõ cửa; chuẩn bị tinh thần trước với ý nghĩ đó là cách tốt nhất cho sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của tôi.
Để đối phó với tình huống này, tôi đã chuẩn bị sẵn một món quà là bánh kẹo mang từ đế đô. Tôi chắc rằng khoản trợ cấp hào phóng của chủ nhân tôi phần nào là một gợi ý ngầm rằng tôi nên suy nghĩ đến kiểu ngoại giao này.
"Xin lỗi, phiền anh một lát được không ạ?"
Tôi hỏi.
"Hử? Các cậu cần gì nào?"
Dù thế nào đi nữa, màn chính vẫn phải để đến ngày mai. Tôi chặn một lính canh đang rảnh rỗi lại và hỏi xem anh ta có biết nhà trọ bình dân nào quanh khu vực này không. Anh ta vui vẻ chỉ dẫn, và tôi đã tặng anh ta một đồng xu đồng để cảm ơn sự giúp đỡ. Điều này cũng từng khiến tôi mất một thời gian mới quen được: việc nhìn thấy những viên chức vùng nông thôn sẵn sàng nhận lời ‘cảm ơn’ bằng hiện vật luôn có chút gì đó lạ lẫm.
Chúng tôi cảm ơn anh ta rồi rảo bước qua thị trấn. Những ngôi nhà nằm thưa thớt dọc theo con phố, và dù con đường chính được lát đá cuội gọn gàng, tất cả các con hẻm nhỏ đều chỉ là đất nện phẳng lì. Những ngọn đèn đường thắp sáng đế đô hoàn toàn vắng bóng, nó mang lại cảm giác đây mới chính là hiện thân đích thực của một vùng quê thanh bình.
Quán trọ - cần làm rõ là đây là những nhà trọ chỉ cho thuê phòng và không phục vụ bữa ăn - nằm ở khu vực lao động gần các bức tường thành phía ngoài, và chúng tôi thuê một phòng với giá 10 assarii. Tòa nhà có một độ nghiêng nhẹ minh chứng cho tuổi đời của nó, nhưng không gian bên trong lại được bố trí gọn gàng một cách bất ngờ. May mắn thay, có vẻ như lính canh mà chúng tôi hỏi đường không hề có mối dây mơ rễ má gì với chủ quán trọ.
Tôi mua cho Castor và Polydeukes chỗ nghỉ tại một khu chuồng ngựa chuyên phục vụ cho tất cả các nhà trọ trong khu vực. Một lần nữa, địa điểm này rõ ràng cũng có một tuổi đời rất cao, nhưng hai cha con trông coi chuồng ngựa có vẻ là những người vô cùng chân chất. Dù thực tế là chúng tôi chưa đủ tuổi vị thành niên, họ vẫn tôn trọng gọi chúng tôi là ‘Các ngài’. điều này truyền cho tôi chút ít niềm tin vào sự tận tụy trong dịch vụ của họ.
Họ cung cấp nước và cỏ khô, tính phí 15 assarii mỗi ngày cho một con ngựa, hoặc 25 cho hai con. Dù cảm thấy khá kỳ lạ khi phải trả tiền cho chúng nhiều hơn cả bản thân mình, nhưng những con vật này rõ ràng cần nhiều sự chăm sóc hơn thế. Thêm vào đó, bộ đôi Dioscuri là những người bạn đồng hành quý giá trong cuộc phiêu lưu này, và tôi chẳng đời nào phàn nàn về việc để chúng nghỉ ngơi ở một nơi tuyệt vời như vậy cả. Tôi cộng thêm năm assarii tiền boa và nhờ những người giữ chuồng cho chúng ăn thật nhiều cỏ khô.
Tiếp theo, Mika và tôi bắt đầu lên đường để lấp đầy cái bụng đang đói meo của chính mình.
"Nào, cậu muốn ăn gì nào?"
Tôi hỏi.
"Hửm."
Cậu ấy đáp
"Tớ chẳng thấy có mấy hàng quán ăn uống quanh đây cả."
Cậu ấy nhắc đến thì tôi mới nhận ra, hóa ra là vậy. Thành thật mà nói, đế đô vốn là một nơi khác thường khi cứ mỗi góc phố lại có một quán ăn hay sạp hàng. Hồi ở Kongistuhl, chúng tôi chỉ có đúng một quán rượu và một nhà hàng, và chúng chỉ mở cửa vào những mùa mà khách du lịch cùng các thương đoàn tấp nập. Những sạp hàng duy nhất mà tôi từng thấy ở quê nhà là do các thương nhân ghé qua dựng lên vào mùa xuân và mùa thu.
"Khỉ thật."
Tôi gãi đầu.
"Lẽ ra chúng ta nên hỏi người lính canh đó cả chuyện ăn uống nữa chứ."
Trên thực tế, tôi hoàn toàn có thể hỏi mấy cậu nhóc ở chuồng ngựa cách đó vài phút. Với sự thân thiện của họ, chắc chắn họ sẽ sẵn lòng chỉ cho chúng tôi tình hình ăn uống quanh thị trấn này.
Có lẽ mình nên quay lại đó và…
"Hay là ở đằng kia đi, Erich?"
Mika khẽ kéo tay áo tôi và chỉ về phía một quán rượu.
"Chỗ đó có vẻ rất đông khách qua lại đấy. Biết đâu lại ngon thì sao?"
Tôi quay đầu nhìn lại một tòa nhà cũ kỹ không kém, nhưng quả thực có khá nhiều khách hàng mang trang phục chuẩn bị du lịch đang ra vào lối cửa chính. Một nhúm khách hàng trông có vẻ là nhà mạo hiểm hoặc lính đánh thuê, đánh giá qua lớp giáp đệm nhẹ trên ngực và cánh tay của họ.
Nhân tiện nói một chút, Wustrow cũng giống như đế đô ở điểm là chỉ có binh lính, giới quý tộc và vệ sĩ của nhóm trước mới có đặc quyền mang theo vũ khí. Tôi đoán rằng lệnh cấm mang vũ khí này là tiêu chuẩn chung trên toàn bộ Đế chế. Rõ ràng những người cai trị không thích thú gì với việc nhìn thấy những cuộc chạm trán ngẫu nhiên giữa các công dân kết thúc bằng cảnh đổ máu.
Schutzwolfe, thanh kiếm vừa tịch thu được, và bộ giáp của tôi đều đã được cất gọn gàng tại quán trọ. Trang bị sẵn sàng chiến đấu duy nhất mà tôi mang theo trên người lúc này là đôi găng tay, chiếc khăn trùm cổ quấn quanh người, con dao karambit giấu trong ống tay áo cùng chiếc nhẫn nguyệt thạch. Dù sao đi nữa, việc mang theo sẵn một chất xúc tác ma pháp cũng đủ giúp tôi làm bất cứ điều gì mình muốn nếu có.
Suy ngẫm kỹ hơn, có lẽ lý do khiến các loại vật xúc tác dạng nhẫn không còn được ưa chuộng lại liên quan nhiều đến chính sách nhà nước hơn là xu hướng hiện đại chuộng các loại trượng uy lực hơn. Chẳng hạn, nếu Đế chế bí mật tuyên truyền bài trừ loại vật dẫn dạng nhẫn này thì tôi hoàn toàn có thể hiểu được lý do. Vật liệu cần thiết để chế tạo chúng có thể rất hiếm, nhưng những món đồ đó thực sự là những mối hiểm họa tuyệt đối. Thật đáng sợ khi nghĩ rằng một món trang sức lại phù hợp cho việc ám sát hơn bất kỳ con dao găm nào, lại còn dễ dàng lén mang vào bất cứ đâu hơn nữa.
Gạt đi trí tưởng tượng có phần hơi ghê rợn của mình, Mika và tôi bước vào quán rượu. Không gian bên trong khá rộng rãi, nhưng những chiếc bàn xếp sát rạt nhau chật cứng khách hàng khiến sảnh ăn uống gần như chẳng còn chút khoảng trống nào để thở. Mùi rượu nồng nặc và đám đông Mensch ập vào chúng tôi như một đợt sóng, hòa quyện với mùi thức ăn tạo nên đỉnh cao của sự hỗn loạn giác quan.
Tiếng cốc chén đụng nhau lanh canh cùng những tiếng cười thô tục tràn ngập không gian, và những ai đang chơi bài hoặc trò chơi bàn thì tha hồ bày tỏ niềm vui nỗi buồn của mình. Nơi đây chính là hình ảnh thu nhỏ hoàn hảo của một quán rượu vùng biên giới.
Chính là nó đây… đúng thế này mới phải chứ!
Một khung cảnh kỳ ảo đậm chất truyền thống như thế này thật vui mắt sau cả một đời trải qua những cú ngoặt đầy phi lý.
Dù vậy, sự xuất hiện của hai đứa trẻ không hề tạo ra cái trope kinh điển kiểu như một tên gã bặm trợn giả tạo bảo cút về nhà mà bú sữa mẹ. Các thương đoàn thường thuê những lao động ở độ tuổi tầm tôi, và tôi có thể nhận ra vài người trong số họ giữa đám khách hàng tối nay.
"Chào hai cậu nhóc!"
Một nữ phục vụ đầy năng lượng lên tiếng.
"Cho tôi một phút nhé? Quán đang bận tối mặt tối mày, nhưng chúng tôi vẫn còn chỗ cho hai cậu đấy!"
Phần cổ áo của cô gái cắt sâu vào ngực, một đặc điểm nhận dạng quen thuộc của trang phục dân tộc thuộc miền Bắc Rhine. Mái tóc vàng bẩn của cô được tết thành một bím dày, và đôi má tàn nhang nở nụ cười rạng rỡ, tươi vui. Cô ấy chính là hình mẫu kinh điển của một nữ phục vụ vùng nông thôn về mọi mặt.
Cô dẫn chúng tôi đến một cặp ghế quầy bar trống ở phía trong cùng. Vài người đàn ông đang chơi bài ngay cạnh chúng tôi, những đồng xu đồng và bạc lướt qua lóa mắt giữa họ sau mỗi ván bài.
Các quán rượu địa phương thường là tụ điểm lý tưởng để thu thập thông tin, nhưng tôi chẳng có tâm trạng đâu mà trò chuyện với những vị khách xung quanh. Một quán rượu nằm gần các nhà trọ chắc chắn sẽ chủ yếu thu hút khách du lịch và thương gia, những kẻ có lẽ chẳng biết gì về Ngài Feige.
"Nào, hai chàng trai, các cậu muốn dùng gì nào?"
Nữ phục vụ nhiệt tình hỏi.
"Chúng tôi vừa mới mổ vài con cừu xong, nên món thịt hầm tối nay ngon tuyệt cú mèo luôn đấy!"
Thịt cừu ư?
tôi thầm nghĩ. Điều này có phần kỳ lạ, bởi vì nguồn protein đặc trưng của vùng Rhine vốn là thịt heo. Việc cừu cần có đồng cỏ để chăn thả khiến việc nuôi chúng trở nên khó khăn hơn… nhưng ngẫm lại, có lẽ đó chính là lý do vì sao chúng lại được nuôi ở vùng đất này. Thời tiết giá lạnh khắc nghiệt đi kèm với muôn vàn thử thách cho gia súc qua mùa đông, và cừu có khả năng chịu đựng rất tốt trong những tháng ngày buốt giá nhất.
"Chà, tôi chẳng được ăn món từ lâu rồi."
Mika nói.
"Cho tôi một phần thịt cừu hầm nhé."
Suýt chút nữa thì tôi quên mất rằng cậu bạn của mình xuất thân từ những vùng đất quanh đây. Có lẽ cậu ấy thừa biết mình đang gọi món gì, nên tôi liền làm theo và gọi thêm một phần y hệt.
"Này nhé, tớ không thể tin nổi là mình lại được ăn thịt cừu đấy. Tớ phấn khích quá đi mất. Chẳng ai chịu làm món này ở đế đô cả."
Đế chế Tam quyền là một quốc gia có rừng rậm dày đặc và thiếu đi không gian đất đai cần thiết cho các loài động vật ăn cỏ. Bất kỳ mảnh đất bằng phẳng nào phù hợp làm đồng cỏ đều đã bị quy hoạch thành đất trồng trọt cả rồi. Thay vì nuôi bò hay cừu, người dân Rhine lại nuôi heo, bởi vì chúng có thể được thả rông để tự sống bằng quả sồi hoặc bất cứ thứ gì kiếm được mà hầu như chẳng cần sự giám sát quá nhiều.
Tỷ lệ chuyển đổi đất đai thành sản lượng thịt bò cao đến mức chỉ có giới quý tộc mới đủ khả năng thưởng thức mặt hàng khan hiếm này. Chúng tôi, những thường dân, vốn đã bị tách xa khỏi những loại thịt đó đến mức chẳng bao giờ có cơ hội chạm tay vào dù cho chúng tôi có moi ra đủ tiền đi chăng nữa. Tất cả những điều này chắc chắn đã khiến Mika khao khát hương vị quê nhà đến phát thèm.
Nhân tiện nhắc đến chuyện đó, cũng đã lâu lắm rồi tôi chưa được ăn cơm. Tôi đã quen với chế độ ăn gồm bánh mì và thịt heo với tư cách là một công dân Đế chế, nhưng tôi vẫn luôn hoài niệm về những hương vị đã khắc sâu vào tận tâm can mình. Súp miso là một ví dụ khác. Tôi chưa từng nếm qua một giọt nào suốt cả một đời người, thế mà hương vị ấy vẫn mãi không thể phai mờ. Tôi cho rằng cơm và nước dùng dashi quả thực là những thứ không thể thiếu đối với tâm hồn người Nhật; hương vị của chúng đã đóng dấu lên chính bản sắc của tôi và chẳng thể nào phai mờ.
Tôi từng nghe nói rằng một số vùng miền Nam giáp biển rất chuộng gạo, nhưng tôi không nghĩ mùa màng của họ có điểm gì tương đồng với loại gạo Japonica đã trải qua vô số thế hệ chọn giống kỹ lưỡng để đạt được vị thế như ngày nay. Hàng thế kỷ đổ mồ hôi, sôi nước mắt và cả máu đã đổ xuống để phát triển một loại ngũ cốc chủ lực ngon miệng tự nhiên, và nó có chất lượng cao hơn hẳn so với những tiền bối của nó. Dĩ nhiên, loại gạo nguyên thủy đó vẫn rất ngon theo cách riêng của nó, nhưng những hương vị trong ký ức của tôi thì hãy còn ở một quãng đường rất xa…
"Tớ mừng cho cậu đấy… Cứ ăn cho thỏa thích tối nay đi nhé!"
Bị nỗi hoài niệm cuốn đi, tôi chộp lấy vai bạn mình và nói với giọng điệu đầy cảm xúc. Cậu ấy liếc nhìn tôi như thể tôi vừa mất trí vậy, nhưng tôi đang chìm đắm trong cảm xúc nên chẳng màng bận tâm.
Nhân tiện, khi những phần thịt hầm của chúng tôi được dọn lên với giá tám assarii một suất, Mika bảo với tôi rằng hương vị của nó không hoàn toàn giống như ở nhà. Hơi nhiều gừng thì phải.
Dù sao đi nữa, vị của nó cũng rất ngon. Vị gừng đã lấn át đi mùi gây đặc trưng của thịt, và quá trình hầm nhừ trong thời gian dài đã khiến phần thịt tương đối mềm mại. Nếu phải kỹ tính hơn một chút, tôi sẽ thích có thêm một ít tiêu - dù là tiêu đen cổ điển hay loại tiêu biến thể kiểu Nhật - hoặc có lẽ là một món ăn kèm nào đó.
Sau khi càn quét xong bữa ăn mang hương vị ngoại lai này, hai chúng tôi tạm thời chia tay nhau. Bất chấp những điểm khác biệt nhỏ nhặt, Mika tỏ ra vô cùng hài lòng với món ăn mang đậm chất hoang dã quê nhà, và nói rằng cậu ấy chắc chắn sẽ có những giấc mơ đẹp nếu đi ngủ ngay bây giờ. Cậu ấy thong thả đi bộ về nhà trọ, còn tôi thì rẽ sang hướng ngược lại để đến nhà tắm công cộng nhằm kỳ cọ sạch sẽ lớp bụi đường của mấy ngày liền.
Nhà tắm công cộng nằm hơi chệch ra ngoài các bức tường thành, ngay cạnh một con lạch nhỏ dùng để xả rác thải. Trông nó cũng xập xệ và khiêm tốn như phần còn lại của thị trấn, nhưng người dân rõ ràng vẫn dành sự trung thành nhất định cho địa điểm này qua năm tháng; cơ sở vật chất được giữ gìn rất tốt, và có một lượng khách hàng kha khá đang ra vào.
Tôi trả phí vào cửa và bước vào bên trong. Nội thất bên trong đã xác nhận những nghi ngờ của tôi; các bồn tắm đơn sơ nhưng được xây dựng rất kiên cố. Chúng có các bể nước thông thường gồm nước lạnh, nước ấm và nước nóng…ô kìa? Sự phấn khích dâng trào khi tôi nhận ra họ thậm chí còn có cả phòng xông hơi ướt.
"Tuyệt thật. Đã lâu lắm rồi không xông hơi, chắc mình phải mở màn bằng chỗ này trước thôi."
Tôi vui vẻ lẩm bẩm một mình. Những phòng xông hơi miễn phí ở đế đô kiểu như… hơi ấm một chút thôi. Dân thành thị và trẻ con miền quê rõ ràng có những định nghĩa khác nhau về mức nhiệt độ phù hợp, nên tôi rất hy vọng một nhà tắm nằm ở chốn hẻo lánh thế này sẽ hợp với gu của những người ở đây hơn.
"Chà, mình được bao trọn cả phòng luôn này."
Đúng như dự đoán, chiếc lò nung ở giữa phòng đang nóng bỏng rát. Nước lập tức hóa hơi ngay khi tiếp xúc với những tiếng xèo xèo vui tai, và mùi hương cùng cảm giác tỏa ra đã đưa tôi ngược dòng thời gian về quá khứ. Từng gáo nước hất lên lại tạo ra thêm nhiều lớp hơi nước trắng muốt, đẩy nhiệt độ lên mức dễ chịu và kích thích mồ hôi tuôn ra từ các lỗ chân lông.
À, đây mới chính là cái chất của phòng xông hơi ướt chứ.
Tôi hoài niệm về những buổi tắm mà chúng tôi từng tận hưởng ở quê nhà vào những ngày nghỉ ngơi. Nếu tôi vẫn còn ở Konigstuhl, đây chắc chắn sẽ là năm mà tôi phải từ chối những lời rủ rê của Margit để gia nhập nhóm đàn ông trưởng thành. Nhìn lại thì, tôi cứ phớt lờ chuyện đó vì hồi ấy chúng tôi còn quá nhỏ, nhưng việc để tất cả trẻ con tắm chung với nhau ngay từ đầu vốn đã là một quyết định khá đáng ngờ rồi.
Tôi tiếp tục tận hưởng không gian thư giãn dành riêng cho mình trong vài phút cho đến khi có một vị khách khác bước vào. Dĩ nhiên, tôi không đến mức bất lịch sự mà phàn nàn về việc phải chia sẻ không gian; việc ngâm mình tận hưởng cùng một người khác đôi khi cũng có cái hay riêng của nó.
Người mới đến lê bước qua màn sương mù và ngồi xuống cạnh tôi và chừa lại một khoảng cách vừa vặn thoải mái giữa hai người. Tôi gật đầu chào theo đúng phép tắc lịch sự, và qua bóng dáng mập mờ trong hơi nước, tôi có thể nhận ra người đó đã quay người lại phía tôi.
"Chưa thấy mặt chú mày ở đây bao giờ."
Giọng điệu của người đàn ông mang một âm hưởng rất đặc trưng của phương ngữ miền Bắc nào đó. Với việc đế đô lúc nào cũng tràn ngập những người nói thứ ngôn ngữ trau chuốt nhất, tôi chưa từng nghe thấy một giọng điệu mang âm sắc thế này bao giờ. Dù vậy, tôi vẫn theo kịp được.
"Vâng, thưa bác."
Tôi đáp.
"Cháu đến đây có chút việc vặt ạ."
"Thế á? một công việc khó nhằn cho một đứa nhóc đấy. Mấy tuổi rồi, nhóc?"
"Cháu vừa tròn 13 tuổi vào mùa thu này ạ."
"Mấy cơ? Từ đâu đến mà đi một mình thế này?"
Chất giọng trầm khàn của người đàn ông mang theo vẻ điềm tĩnh trầm ngâm của một người lớn tuổi. Có lẽ ông ấy là một người có tuổi đã nghỉ hưu và đang sống những năm tháng tuổi già tại đây.
Ôi, đúng là người hoàn hảo để hỏi thăm rồi đây.
Một cư dân lâu năm chắc chắn sẽ biết điều gì đó về nhân vật von Feige mà tôi đang cất công tìm kiếm.
"Dạ không."
Tôi nói.
"Cháu đi cùng một người bạn ạ. Cháu thấy cắm trại một mình cô đơn lắm, bác ạ."
"Mm, nghe thế thì tốt. Đường xá dạo này không được an toàn đâu nhóc. Nhưng mà ta nói thật này, lẽ ra nên bắt một cỗ xe ngựa cho chắc ăn chứ. Dù sao thì chú mày cũng là một cậu nhóc lanh lợi đấy."
Ông ấy nói với tay xuyên qua màn sương khói để vỗ nhẹ lên đầu tôi. Cái chạm vào rất nhẹ nhàng, nhưng cảm giác đó hoàn toàn khác xa với đôi bàn tay của bố mẹ tôi, hay những cái xoa đầu thỉnh thoảng từ tiểu thư Agrippina. Bề mặt sần sùi cọ xát vào mái tóc tôi không phải là da thịt… mà là vỏ cây. Cụ thể hơn, nó mang những đặc tính hệt như thớ gỗ của một cái cây lâu năm đã khô cằn.
"Um, cháu có thể hỏi ngài một câu được không ạ?"
"Hỏi đi?"
Ông ấy đáp.
Trải qua 50 năm cuộc đời tính cả kiếp trước lẫn kiếp này, sự khôn ngoan của tôi không phải để làm cảnh. Tôi hoàn toàn ý thức được sự chuẩn bị quan trọng thế nào để hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào. Tôi không phải kiểu người cứ thế lao vào hang ổ quái vật, vung kiếm loạn xạ mà chẳng mảy may hay biết về đám Skeleton đang chực chờ - những kẻ chẳng hề nao núng trước lưỡi thép thường - không phải chỉ một lần đâu. Mà là đúng một lần thôi.
Tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng về người mà mình cần tìm. Ông ấy là một nhà chép sử tài năng, người tạo ra những bản chép tay tuyệt mỹ. Ông ấy rất thích đồ ngọt. Ông ấy sẽ nổi trận lôi đình nếu công việc của mình bị gián đoạn. Và ông được mọi người mà tôi từng hỏi miêu tả là một kẻ vô cùng ương bướng. Nhưng quan trọng nhất là…
"Cháu mạn phép đoán rằng ngài chính là Ngài Feige đáng kính. Có đúng không ạ?"
…ông ấy là một Treant [note110212] cao tuổi. Không thể lẫn đi đâu được, người ngồi bên cạnh tôi là một người đàn ông bằng gỗ đã có tuổi đời đáng kể. Tứ chi của ông ấy xoắn xuýt với những cành cây đan cài và lá xanh, và khuôn mặt ông ấy cũng được trang trí tương tự bởi thứ trông giống như một rễ cây lớn cuộn tròn lại để tạo thành các đường nét khuôn mặt. Từ giữa những khe hở, đôi mắt ông ấy lấp lánh xuyên qua làn hơi nước hệt như một cặp bọ hung lấp lánh.
Đôi mắt ông ấy mở lớn - chỉ là một cách nói ẩn dụ để ví von biểu cảm bằng gỗ của ông ấy với biểu cảm của tôi - và quét mắt nhìn tôi từ đầu đến chân. Sau đó, ông ấy hào phóng gật đầ và giọng điệu mang âm hưởng nhà quê bỗng biến hóa thành ngôn ngữ Thương Lưu tao nhã.
"Đúng là ta. Nào, nhóc con, ngươi có việc gì mà lại tìm đến một gốc cây khô cằn như ta thế này?"
---
[Mẹo] Về mặt kỹ thuật, Treant là nhân tộc, nhưng sâu thẳm trong tim họ lại gần với các tinh linh hơn. Nhờ đó, họ sở hữu năng lực ma thuật mạnh mẽ và tận dụng mối liên kết bẩm sinh với thiên nhiên để gia tăng sức mạnh cho bản thân.
---
Những khu vực tắm rửa của Đế chế Tam quyền giống như những công viên giải trí nhỏ vậy. Chúng có những chiếc giường nơi người ta có thể gọi dịch vụ mát-xa, những chiếc ghế dài để bạn bè có thể ngồi trò chuyện, và thậm chí cả những khu tập thể dục nhỏ nơi các thực khách có thể tận hưởng một vài trận đấu vật.
Ngài Feige và tôi rời khỏi phòng xông hơi và tìm một chiếc ghế dài gần bể nước lạnh để làm dịu lại cơ thể. Khi nhìn thấy toàn bộ cơ thể ông ấy, sự kỳ dị của hình hài chủng Treant đập vào mắt tôi với một mức độ hoàn toàn mới mẻ. Khuôn mặt và tay chân của ông ấy trông giống như lớp vỏ cây sần sùi vô tình xoắn lại thành hình dáng của một con người. Nếu không có ánh sáng lấp lánh trong đôi mắt kia, các nét trên mặt ông ấy hoàn toàn có thể bị gạt đi như những ảo ảnh thị giác [note110213] xuất hiện trên một khúc gỗ cũ.
Những chiếc lá bạc trang trí trên đỉnh đầu ông ấy hệt như một mái tóc, và sự vươn lên của các nhánh cây gợi lên hình ảnh của một cội cổ thụ lâu đời. Theo cách này, Treant chẳng khác biệt mấy so với Mensch: cơ thể ông ấy đã lặng lẽ kể lại câu chuyện về tuổi tác của mình.
"Khi ta có tuổi rồi, mọi lượng nước trong cơ thể đều đã bay biến đi đâu hết. Ta đến nhà tắm để ngâm tẩm chỗ gỗ khô của mình đây này."
Ông ấy nói và vẫy gọi một cậu bé bán nước - những người bán đồ ăn và thức uống là hình ảnh phổ biến nhằm giúp khách ghé thăm kéo dài thời gian lưu lại.
"Dạ ông."
Cậu bé bán nước nói.
"Lại đến nữa ạ? ông chắc là không bao giờ thấy chán chỗ này nhỉ."
"Được tắm là điều tuyệt vời nhất."
Ngài Feige đáp.
"Cứ ở đây cho đến khi ta héo rũ thì thôi. À, rót cho ta ly ngon nhất xem nào."
Dường như lão Treant già có quen biết với cậu bé bán nước, người đã ngoan ngoãn rót ra một cốc nước mang hương vị chua thanh sảng khoái vào một chiếc ly.
"Cho cả nhóc này một ly nữa."
Ngài Feige đãi tôi một cốc đầy. Một chút hương cam chanh và vỏ cây đã được ngâm trong thức uống lạnh ngắt đó.
"Cứ thoải mái uống đi. Nước sau khi gột rửa qua hơi nước…"
"…ngọt ngào hơn cả mật hoa phải không ạ?"
Tôi thốt lên phần cuối của bài thơ quen thuộc và ngậm một ngụm, để cho dòng chất lỏng hồi sức thấm đượm qua cơ thể đang mất nước của mình.
"Ồ?"
Ngài Feige vuốt ve lớp rêu xám hệt như một bộ râu trên cằm mình.
"Thông thạo thể loại cổ điển lắm nhỉ?"
"Bernkastel phải không? Bậc thầy vĩ đại của thơ văn xuôi?"
Câu thơ mà chúng tôi trích dẫn bắt nguồn từ một bài ca của những người chăn thả gia súc có từ thời kỳ trước khi Đế chế được thành lập. Vùng đất này vốn có truyền thống lâu đời về loại hình thơ ca mang nhịp điệu phóng khoáng, tự do và giàu sức biểu cảm mãnh liệt; thể loại này trở nên phổ biến một phần nhờ vào khả năng lan truyền rộng rãi trong tầng lớp bình dân ít học. Vào một đêm xưa, giữa chốn rừng sâu, tôi và Margit từng chơi một trò chơi được phát triển từ chính truyền thống ngôn từ ấy.
Có một giai đoạn trong thời niên thư thái của mình, tôi từng tự giam mình trong thư viện nhà thờ địa phương và ngấu nghiến đọc bất cứ thứ gì mà tay tôi với tới được. Các tác phẩm thần học là điều hiển nhiên, nhưng bộ sưu tập được tích lũy qua nhiều thế hệ giám mục còn bao gồm rất nhiều tuyển tập thơ ca cất lên tiếng lòng của tầng lớp nông dân. Suy cho cùng, những đức giám mục vùng quê cũng là những con người bình dị, và thị hiếu của họ đương nhiên cũng phản ánh điều đó.
"Quả thực là vậy."
Ngài Feige xác nhận.
"Một tác phẩm khá xuất sắc. Cậu ta chẳng cần phải dùng đến mấy thứ phương ngữ cách điệu cầu kỳ để đạt được sự thanh nhã. Niềm vui sống bừng sáng trong từng con chữ, và những dư âm mà chúng để lại thật kỳ diệu."
"Cháu hoàn toàn đồng ý. Khi đọc những bài ca của ông ấy, chúng thực sự khiến cháu muốn đi tắm hoặc dạo bước đâu đó."
Bernkastel là một nhân vật phủ đầy bí ẩn, và ngay cả bút danh của ông ấy cũng chỉ đơn thuần là tên nơi sinh. Sự tồn tại của những bản thảo do ông xuất bản - trái ngược với những bản chép tay đơn thuần - cho thấy ông không phải là một thường dân, nhưng tình yêu thiết tha dành cho cuộc sống đời thường thấm đẫm trong các tác phẩm lại khác một trời một vực so với lối sống tận hưởng của tầng lớp thượng lưu. Các sử gia Rhine hiện đại nghi ngờ rằng ông có thể là một nhà thơ bình dân có quý tộc bảo trợ, hoặc là một đứa con hoang không bị gia đình bỏ rơi hoàn toàn.
Dù rất được ưa chuộng, ông vẫn sống trong một môi trường văn học quý tộc vốn đề cao kỹ năng làm chủ ngôn ngữ một cách điêu luyện. Thơ có vần điệu với các câu chữ được định nghĩa rõ ràng khiến thứ kỹ thuật thủ công đó trở nên minh bạch hơn hẳn, biến chúng thành thể loại ưu tiên cho ca khúc. Tôi đã không ngờ rằng một nhà chép sử bậc thầy nổi danh nhờ tạo ra những bản sao của những tác phẩm dạng này lại có niềm đam mê sâu sắc với thơ văn xuôi.
"Không có nhiều đứa trẻ ở độ tuổi của nhóc thấu hiểu được sự thiên tài của cậu ta đâu. Ta thực sự ấn tượng đấy."
Lão Treant vui vẻ nuốt trọn ly nước và gọi thêm một cốc nữa cho cả hai chúng tôi.
Tôi thừa hiểu cảm giác của ông lúc này: hầu bao thường luôn rộng mở hơn khi tìm được người cùng chung sở thích. Tôi nhớ lại hồi đó, khi một tân binh tabletop gia nhập công ty của tôi, tôi đã trở nên vô cùng hào phóng… dù giờ đây tôi thậm chí còn chẳng nhớ nổi tên cậu ta nữa.
"Giới trẻ ngày nay chỉ toàn nói về Verlaine thế này và Heinrich thế kia. Tất cả những gì chúng muốn là được nghe những điều hiển nhiên nhất theo cách phức tạp nhất có thể. Điều mà chúng không biết là…"
Theo sau đó là một lời giải thích dài dòng - thực chất là một tràng cằn nhằn - mà tôi cẩn thận tiếp thu trong lúc chúng tôi liên tục chuyển đổi giữa nước nóng và phòng xông hơi để không bị nhiễm lạnh.
Bây giờ tôi mới hiểu vì sao một người có tính cách như ông ấy lại có thể bị coi là kẻ khó gần. Ông vừa kiêu hãnh lại vừa thông minh, và tay nghề của ông xuất chúng đến mức đủ để vươn lên khỏi tầng lớp bình dân. Nhưng qua bài diễn văn dài lê thê của mình, tôi nhận ra rằng ông ấy lại không có đủ tài năng để tự sinh ra những sử thi được yêu mến của riêng mình; việc chép sử suy cho cùng chỉ là nỗ lực của ông để được gần gũi với chúng, bất kể dưới hình thức nào đi chăng nữa. Điều khiến ông ấy chán nản là những kẻ tìm đến kỹ năng của ông chỉ toàn đòi chép lại những câu chuyện nổi tiếng hay các cổ thư quý hiếm, đó lại là thứ xa vời nhất đối với khẩu vị của một kẻ thích sưu tầm theo sở thích thuần túy.
Nếu Ngài Feige chỉ là một nhà chép sử bình thường, có lẽ ông đã có thể nhẫn nhịn để làm việc. Ngược lại, những người chép sử như thế hầu như chỉ được giao phụ trách các bản thảo cho các cuốn sử thi và thơ ca dùng một lần rồi bỏ, nên có lẽ ông đã vui vẻ cặm cụi viết lách rồi. Từ tràng cằn nhằn của ông ấy, có thể thấy rõ rằng ông rất trân trọng những khác biệt tinh tế trong cách mà các tác phẩm tác động đến tâm trạng của ông khi được đọc vào những dịp khác nhau.
Đáng tiếc thay, lão Treant này lại quá mức tài năng. Sai lầm đầu tiên của ông ấy là khi nhận một công việc thù lao cao để chép lại một cuốn tiểu thuyết ngắn - một bài bình luận ‘tiểu thuyết’ cho một bài báo ngắn, bởi lẽ thứ mà Trái Đất gọi là tiểu thuyết thì ở đây thường chỉ được xem là truyện kể hay truyền thuyết - trong nỗ lực kiếm tiền trả các hóa đơn. Kể từ đó, các yêu cầu dồn dập đổ về cho những cuốn tiểu thuyết và bài luận chính kiến, nó dần phát triển thành các cổ thư ma pháp và tài liệu lịch sử. Vào những dịp hiếm hoi ông ấy nhận được một hợp đồng liên quan đến thơ ca, nó lại không bao giờ trượt khỏi gu thẩm mỹ của giới thượng lưu… Thảo nào khách hàng của ông ấy gán cho ông cái mác hẹp hòi, xét việc ông ấy hoàn toàn thiếu động lực cho công việc của mình như thế nào.
Bi kịch của Marius von Feige là việc ông sở hữu đầy đủ kỹ năng để duy trì nghề nghiệp của mình. Khoảng cách giữa thứ mà ông xuất sắc nhất và thứ mà ông yêu tha thiết thực sự đau lòng làm sao.
Việc ngâm mình quá lâu đã khiến tôi choáng váng toàn tập vào thời điểm Ngài Feige kết thúc bài độc thoại của mình. Không phải là tôi hối hận vì đã lắng nghe trọn vẹn đâu nhé: chiều sâu kiến thức của ông ấy thực sự là một điều tuyệt đẹp, và ông đã dạy cho tôi quá nhiều điều mới mẻ đến mức tôi nhận được điểm kinh nghiệm chỉ bằng cách lắng nghe. Một cơn chóng mặt nhẹ là cái giá quá nhỏ để trả.
"Ta xin lỗi nhé, nhóc."
Ngài Feige nói.
"Ta hơi lắm lời rồi. Mong nhóc lượng thứ; đó là thói quen xấu của một cái cây già cỗi."
"Ngài không cần phải xin lỗi đâu ạ."
tôi nói.
"Cháu đã bị cuốn hút từ đầu đến cuối luôn đấy."
Chúng tôi bước ra khỏi nhà tắm, và làn gió mùa thu mát lạnh đã khôi phục lại các chức năng tinh thần của tôi. Ngước nhìn lên bầu trời, vầng trăng trắng quen thuộc ẩn mình sau những đám mây thưa thớt khi Ngài chuẩn bị hiện ra trọn vẹn. Mặt khác, vầng trăng đen bệnh hoạn thì gần như đã khuất hẳn khỏi tầm nhìn.
"Nào, ta không nhớ là mình đã nghe nhóc nói cần ta giúp việc gì. Ngọn gió nào đưa nhóc đến với một bụi cây đang héo tàn như ta thế này?"
Ngài Feige rộng lượng trao cho tôi cơ hội để hoàn thành mục tiêu chính của mình, và tôi quyết định sẽ chớp lấy nó. Nếu tôi là một người trưởng thành, tôi đã tuân thủ đúng phép tắc và đến thăm ông ấy một cách lịch sự hơn vào một ngày khác; tuy nhiên, trẻ con vốn dĩ đẹp nhất khi thể hiện sự ngây thơ và thành thật.
"Dạ thưa ngài, sư phụ của cháu đã sai cháu đến đây để xin cuốn Tuyển Tập Các Nghi Lễ Thần Thánh Đã Bị Lãng Quên mà ngài từng chép lại ạ."
Tôi cúi đầu sâu nhất có thể, và đôi mày của lão Treant giật bắn lên, nó hé lộ rằng đôi mắt bọ hung của ông ấy lúc này đang chuyển sang màu đỏ rực.
Như bạn có thể thấy, nhiệm vụ của tiểu thư Agrippina không phải là để tôi đặt một đơn hàng mới với nhà chép sử này. Ngài Feige đã hoàn thành việc chép tay cho tác phẩm nói trên từ lâu, nhưng lại không chịu bàn giao nó cho khách hàng sau một mâu thuẫn lớn.
Tôi đã tự mình tìm hiểu với hy vọng khám phá ra thứ mà mình buộc phải thu hồi, nhưng tôi thậm chí chẳng thể tìm nổi dù chỉ là một bản tóm tắt. Từ ‘Lãng Quên’ có thể được hiểu theo nghĩa đen là tên của một vị thần đã thất truyền, nhưng tôi chưa từng bắt gặp thuật ngữ này trong bất kỳ văn bản thần học nào mà mình từng đọc từ trước đến nay. Rõ ràng, kiến thức về chủ đề này bị coi là điều cấm kỵ tối cao.
Nếu không có gì khác, tôi chắc chắn rằng một cuốn sách tôn thờ những thực thể như thế chẳng có gì là hay ho cả. Trong trường hợp tôi thương lượng thành công để lấy được món đồ đó, tôi sẽ gửi nó thẳng đến chỗ tiểu thư Agrippina mà không thèm mở trang bìa ra.
Tôi không có ý định quay đầu để rồi đánh mất những gì mình trân quý như Orpheus thuở trước [note110214]. Những bậc tiền nhân của tôi đã rộng lượng cho thấy những số phận thảm khốc nào có thể chờ đợi mình; việc tránh đi vào vết xe đổ của họ chính là cách tốt nhất để tưởng nhớ họ.
"Ngài vẫn còn giữ cuốn cổ thư đó trong tay chứ ạ?"
Tôi vẫn giữ nguyên tư thế cúi đầu mà hỏi. Một tiếng kọt kẹt khó chịu vang lên hòa cùng âm thanh của từng đàn chim hoảng hốt bay vút ra từ những tán cây gần đó.
"Được thôi."
Ông ấy nói. "Đây không phải là chuyện để nói ở nơi công cộng. Theo ta."
Ở khóe mắt, tôi thấy bàn chân của Ngài Feige xoay người bước đi. Ngẩng đầu lên, tôi vội vã rảo bước đuổi theo ông.
---
[Mẹo] Xuyên suốt dòng chảy của lịch sử, một số vị thần đã biến mất do sự thiếu vắng niềm tin hoặc tự đổi mới bản thân khi tín ngưỡng của các tín đồ tiến hóa.
---
Ngài Feige dẫn tôi đến phần gốc của một cây thường xanh khổng lồ, vô cùng uy nghiêm nằm gần các bức tường thành. Ông giải thích rằng cái cây đó vừa là người mẹ dưới hình hài Treant, vừa là nơi ở hiện tại của ông.
Sự ra đời của loài Treant khá dị thường so với các chủng tộc có tri thức khác: từ bỏ sinh sản hữu tính, giống loài của họ sinh ra từ các linh hồn ẩn chứa trong thân cây và cuối cùng tự hình thành ý thức bản ngã. Một khi Treant tách rời khỏi cây mẹ, họ được cho là sẽ sống bên cạnh nó cho đến ngày tìm được một nơi chốn mà họ muốn hướng đến.
"Vào đi."
"Chà… Thật không thể tin nổi."
Cái hốc cây mà ông ấy mời tôi bước vào thực ra rộng lớn hơn rất nhiều so với những gì vẻ bề ngoài, và tôi không tài nào giấu nổi sự kinh ngạc khi nhìn thấy bộ sưu tập sách khổng lồ trang trí khắp căn phòng.
Một chiếc bàn làm việc màu nâu caramel trang trọng ngự trị ở trung tâm căn phòng; chất liệu của nó ấn tượng không kém gì vị Treant đang ngồi bên trên. Chiếc ghế màu tối với phần tựa lưng cao vượt qua cả đầu ông như đang ca ngợi sự uy nghi của không gian này.
Những kệ sách hướng về trung tâm từ mọi góc độ, mỗi kệ đều được xếp cẩn thận vô số cuốn sách đóng gáy đẹp đẽ. Các văn bản đã được phân loại cực kỳ tỉ mỉ theo tên tác giả, và tôi nhận ra một vài tựa đề trong số đó. Những cuốn mà tôi thấy quen thuộc chính là loại truyện thường được bày bán ở các thư viện bình dân - nơi cho thuê tác phẩm chỉ với vài assarii mỗi ngày cho mỗi cuốn sách - với phần bìa được đóng một cách cẩu thả. Nhưng ở đây, tất cả đều được đánh bóng và chăm chút với sự tỉ mỉ hệt như một cuốn từ điển hay một bài luận thuyết chuyên sâu.
Mọi thứ trong căn phòng của Ngài Feige đều hét lên niềm đam mê thuần túy của một kẻ cuồng sưu tầm: "Đây là những thứ ta thích đấy! Có ý kiến gì không?!" Tôi không mảy may nghi ngờ rằng những cuốn sách được trưng bày ở đây đều do chính tay người đàn ông này chép lại, với chi phí đóng sách chi trả hoàn toàn bằng tiền túi. Chúng thực sự được tạo ra vì chính bản thân ông, và chỉ dành riêng cho một mình ông mà thôi.
"Cháu biết bộ sử thi này!"
Tôi thốt lên.
"Chờ đã, cháu từng thấy các tác phẩm lãng mạn của tác giả này được chuyển thành kịch tại lễ hội rồi! Có cả một tuyển tập các bài thơ của ông ấy luôn á?!"
Theo một cách nào đó, nơi này chẳng khác nào một kho báu vô giá. Dù nó vô giá đối với một người yêu thích truyền thuyết, nhưng bất kỳ ai quan tâm đến quyền lực hay sự quý hiếm sẽ chẳng thèm liếc mắt nhìn lấy một cái.
Chà, xem ra những kẻ cuồng nhiệt thực sự luôn tồn tại ở khắp mọi nơi nhỉ.
"Ồ, nhóc thích chúng lắm à? Nhóc có muốn mang một cuốn về nhà không?"
"Thật ạ?!"
Tôi phản xạ nhảy chồm lên trước lời đề nghị bất ngờ của nhà chép sử, để rồi lập tức đỏ mặt vì bản chất hám lợi của chính mình. Dùng sự trẻ con làm vũ khí thì được, nhưng thực ra tôi chẳng muốn biến mình thành một đứa nhóc ngốc nghếch thật sự đâu.
"Ch-Cháu xin lỗi vì sự thất lễ vừa rồi. Cháu không thể nhận một món đồ có giá trị lớn nhường này được ạ."
"Không sao, hiếm khi lắm mới có vị khách nào tỏ ra hào hứng với bộ sưu tập của ta như nhóc đấy. Mọi thứ mà người ta mang đến cho ta toàn là những thứ nhàm chán đến phát bực, và họ luôn từ chối mỗi khi ta gợi ý một bộ sử thi nào đó, làm như họ quá cao sang để đọc những câu chuyện này vậy. Ta chán ngấy đến mức phải rời khỏi xưởng của mình ở đế đô để trở về nhà. Rời xa đám phiền phức đó và vây quanh mình bằng những huyền thoại yêu thích mới sảng khoái làm sao."
Ngài Feige trông có vẻ rất bình yên.
"Tuy nhiên… vẫn có một vết nhơ đang bám lấy thánh địa của ta."
Người đàn ông mở khóa một ngăn kéo trên bàn làm việc và lấy ra một cuốn sách duy nhất rồi ném nó lên mặt bàn. Được đóng bằng bìa da màu đen cùng các chi tiết trang trí bằng xương động vật vô cùng xa hoa, chỉ cần nhìn lướt qua thôi cũng đủ biết rằng nó thuộc về loại vật phẩm đó. Cụ thể hơn, một hành động định mở nó ra trong vô thức chính là kiểu hành động sẽ kích hoạt ngay một cú tung xúc xắc 1D100 cùng một nụ cười nham hiểm, vô cùng nham hiểm ẩn giấu sau tấm bình phong của GM.
Tôi vô thức lùi lại một bước. Bề ngoài của nó mang lại sự áp đảo, và tôi càng thêm hoảng hốt khi có thể nhìn thấy rõ một thứ năng lượng kỳ dị rỉ ra từ đó bằng đôi mắt của chính mình. Tôi thậm chí còn chẳng muốn chạm vào cái thứ đó lấy một lần.
Đừng có vứt cái thứ này như một cuốn sách bình thường chứ! Nghiêm túc đấy, hãy xích nó lại hoặc làm gì đi chứ. Ít nhất thì cũng phải khóa nó lại để không ai có thể mở ra chứ!
"Đây chính là Tuyển Tập Các Nghi Lễ Thần Thánh Đã Bị Lãng Quên mà sư phụ của nhóc đang tìm kiếm."
Tôi cố nén lại cơn buồn nôn ập đến cùng nỗi khó chịu khôn tả, không thể nào rời mắt khỏi chân trời sự kiện [note110215] của cuốn sách. Cảm giác này chẳng giống với cái thôi thúc rợn người khiến ta phải xem cho hết một bộ phim kinh dị: tôi không hề muốn nhìn vào đó vì sợ hãi hay vì tò mò muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Thứ thôi thúc ấy mang màu sắc hiểm độc và tà ác hơn nhiều.
"Yêu cầu ban đầu là yêu cầu ta dịch văn bản cổ sang tiếng Rhine một cách chuẩn chỉnh nhất có thể. Nó chứa đầy những chú thích để đảm bảo rằng ý ban đầu vẫn được giữ nguyên vẹn."
Điều đó đồng nghĩa với việc tôi có thể đọc được nó nếu mở ra. Ngay khi tôi vừa kết nối được các dữ kiện, một thứ gì đó ở tận sâu trong não bộ của tôi thì thầm: hãy đọc nó đi…
Không, không, không, không đời nào, tuyệt đối không.
Dù tôi gần như được đảm bảo sẽ mở khóa một kỹ năng mới nào đó nếu làm vậy, nhưng chắc chắn đó là kiểu kỹ năng mà tôi không bao giờ được phép chạm vào. Bất kỳ sự tiếp xúc nào cũng chắc chắn sẽ khiến đầu óc tôi có vấn đề.
Sự hiện diện của một ý tưởng ngoại lai một cách rõ mồn một trong dòng suy nghĩ của tôi chính là bằng chứng đủ để thấy rằng tôi đang phải đối mặt với một cổ vật tà ác. Đến lúc này, tôi sẽ chẳng ngạc nhiên gì nếu đây là khởi đầu cho một chiến dịch dài hơi mà kết quả duy nhất là ném thứ này thẳng vào lòng một ngọn núi lửa.
Những ngón tay gồ ghề như cành cây lướt qua phần bìa, nhưng không hề có chút tình cảm nào trong cái chạm của Ngài Feige. Là người tạo ra nỗi kinh hoàng này, ông ấy thừa biết nó nguy hiểm đến mức nào; việc chạm vào đó là cách ông xác nhận rằng nó vẫn chưa mất đi sức mạnh khủng khiếp của mình.
"Nhóc, nhóc biết bao nhiêu về các vị thần?"
"Thần linh?"
Tôi lặp lại.
"Cháu từng là một người hay đi lễ nhà thờ ở quê nhà; cháu biết những vị thần mà họ hay nhắc đến trong các văn bản đời thường, các bài giảng đạo và văn hóa dân gian."
"Vậy chắc nhóc cũng biết rằng các vị thần mà chúng ta tôn thờ đang chiến tranh với các vị thần khác."
Tôi gật đầu. Theo những gì tôi hiểu, các vị thần trên hành tinh này chỉ nắm giữ quyền lực tại đây, và họ chiến đấu lẫn nhau để giành giật các tín đồ phàm trần. Sách lịch sử giải thích rằng vào một thời điểm nào đó, các vị thần đã từ bỏ việc giao chiến trực tiếp và chấm dứt Thời Đại Chư Thần. Thời Kỳ Cổ Đại theo sau đó chứng kiến những cuộc chiến tranh ủy nhiệm được tiến hành thông qua những tín đồ. Dù là trong quá khứ hay hiện tại, những kẻ thua cuộc sẽ phải đối mặt với một vài số phận nhất định.
"Nhóc có biết điều gì sẽ xảy ra với một vị thần đã thất thế không?"
Ngài Feige hỏi.
"Cháu biết chứ. Bất kỳ vị thần bại trận nào bị tước đoạt các tín đồ của họ…"
Thứ nhất, họ có thể lãng quên trong lặng lẽ và tan chảy vào hư vô.
Thứ hai, họ có thể bị chiếm đoạt bởi bất kỳ vị thần nào đã tước đoạt quyền lực của họ. Bị biến thành một thực thể thần thánh hoặc quái thú thần thoại kém hơn, sự tàn lụi cuối cùng của họ sẽ đến từ bàn tay của người phàm.
Cách thức này rất dễ hiểu: các tôn giáo thuộc dòng Abraham vốn cực kỳ thành công ở thế giới cũ của tôi cũng từng áp dụng cùng một chiêu bài. Những vị thần ngoại lai bị biến thành sứ giả của quỷ dữ chuyên đi cám dỗ các linh hồn mộ đạo, còn những thắng lợi hiếm hoi của nền văn hóa ngoại bang thì lại được gán cho công lao của các vị thánh hư cấu. Dường như các cuộc thánh chiến ở thế giới nào cũng chẳng khác nhau là mấy.
Thứ ba và là cuối cùng, vị thần bị chinh phục có thể gia nhập một hệ thống thần thoại khác và tự tái tạo bản thân thành một sinh thể hoàn toàn mới. Điều này khá gần gũi với thực tế, khi mà hầu hết các vị thần của Đế chế Tam quyền đã được xây dựng qua một lịch sử dài đi theo con đường này. Trên thực tế, một số trụ cột chính trong đức tin của chúng tôi vốn là những vị thần dị giáo.
Trước khi Đế chế được thành lập, Thần Ban Ngày và Nữ Thần Màn Đêm từng thống trị chư thần bản địa của vùng đất này. Họ di chuyển các thể thiên thể tương ứng của mình để cai quản khái niệm về thời gian.
Khi nói đến thần thoại sáng thế của chúng tôi - tất cả các nhóm thần linh cạnh tranh nhau đều tuyên bố rằng họ đã tạo hình nên thế giới, mặc dù chúng tôi sẽ chẳng bao giờ biết được ai mới là kẻ nói thật - nó đặt ra giả thuyết rằng thế giới ban đầu nằm trong trạng thái hỗn mang, và chỉ có một vị thần duy nhất hiện thân cho tất cả những gì tốt đẹp.
Vị thần ấy lang thang qua dải cát mênh mông, tĩnh lặng bao phủ hành tinh suốt hàng kỷ nguyên. Sau một quãng thời gian dài đằng đẵng, Ngài tiến đến rìa của thế giới - ngưỡng cửa của sự hư vô. Thứ đang chờ đợi Ngài là một vị thần khác: hiện thân của tất cả những gì tà ác.
Là những thực thể đối lập hoàn toàn, các vị thần lập tức nhận ra sự bất dung lẫn nhau và tìm cách tiêu diệt đối phương. Họ trao đổi những đòn đánh, bóp cổ nhau, và nhặt những hòn đá ven đường để vũ trang cho bản thân. Khi thời gian trôi qua, họ tự rèn giũa ra kiếm và giáo để sử dụng trong trận chiến của mình.
Cuộc giao tranh của họ tiếp tục diễn ra trong khoảng thời gian mà chúng ta, những sinh thể hữu hạn, coi là mãi mãi; nhưng đối với các đấng tối cao ở phía trên, nó chẳng dài hơn một cái chớp mắt. Máu đổ, da thịt bị xé toạc, vũ khí gãy nát, và những tia lửa bay ra từ các lưỡi kiếm va chạm vào nhau đã tô điểm cho cảnh quan bằng những vị thần mới, những kẻ sẽ gia nhập vào chiến tuyến của cuộc chiến.
Giữa cuộc tranh cãi không hồi kết của họ, vị thần thiện và vị thần ác đã hiểu ra một điều: không một cái thiện hoàn hảo hay cái ác không tì vết nào có thể tự mình duy trì thế giới. Cả hai bọn họ thực chất đã khao khát đối phương từ tận sâu thẳm.
Khi nhận ra bản chất không thể tách rời của mình, các vị thần đã tự giáng cho bản thân một vết thương chí mạng và xẻ đôi linh hồn của họ ra. Lấy một nửa từ mỗi thực thể nguyên thủy, Thần Ban Ngày và Nữ Thần Ban Đêm được sinh ra; từ hai thực thể hoàn hảo nhưng cô lập đã tạo ra sự hòa hợp đầy khuyết điểm để sinh ra thế giới như chúng ta hằng biết.
Thế là Thần Ban Ngày thắp sáng bầu trời buổi trưa với sự ấm áp để nuôi dưỡng lương thực, chỉ để rồi hành hạ những kẻ bên dưới Ngài bằng những đợt hạn hán ngột ngạt. Và mặc dù Nữ Thần Ban Đêm báo hiệu cái giá lạnh không thể chịu nổi của bóng tối, Ngài lại mang đến một khoảng thời gian ngủ nghỉ và ngơi ngơi bên cạnh Ngài.
Trong khi vòng đời và cái chết sinh ra một thế giới tràn ngập những đứa con của họ, một số vị thần sinh ra từ trận chiến thần thoại đã bị thổi bay đến những vùng đất xa xôi nhất của hành tinh. Những họ hàng xa xôi ấy quên đi nguồn gốc của mình và tự khắc tạc cho mình một vị thế như những vị thần theo quyền hạn của riêng họ.
Hậu quả là có vô số giáo phái và hội nhóm rải rác khắp toàn cầu: chúng là những con cừu lạc lối, u mê không biết đến bản chất thực sự của mình. Thế nhưng, cha và mẹ họ chưa bao giờ quên lãng, và họ luôn dung thứ cho những đứa con lầm đường lạc lối của mình sau một cuộc chinh phạt; cái ôm dịu dàng của Ngài và bàn tay vững chãi của Ngài chính là nơi mà chúng thuộc về.
Với suy nghĩ rằng tôi đã sắp xếp lại toàn bộ mọi thứ một cách gọn gàng và nhìn nhận một cách hoài nghi - biết rằng có những thứ tồn tại ngoài hành tinh này - rõ ràng việc điều chỉnh một cách hòa bình các đối tượng thờ cúng bị chinh phục để phù hợp với các giá trị lớn hơn của một hệ thống thần linh sẽ dễ dàng hơn nhiều. Người La Mã và người Hy Lạp cũng đã làm như vậy. Việc xóa bỏ hoàn toàn một tín ngưỡng là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nên việc dung hòa các tín ngưỡng ngoại giáo với giáo luật mà không gây ra xung đột là điều được ưa chuộng hơn nhiều.
"Ấn tượng đấy."
Ngài Feige nói.
"Nhóc rất uyên bác."
"Cháu vô cùng vinh hạnh khi làm ngài hài lòng ạ."
Tôi cúi đầu trước lời khen ngợi quá mức của ông.
"Tuy nhiên…"
Ông ấy nói và nhấc cuốn cổ thư bị nguyền rủa lên với đôi mày nhíu lại.
"Nhóc sẽ nói sao nếu ta bảo rằng vẫn còn một khả năng thứ tư?"
Lại còn thế nữa á?
Tôi nghiêng đầu đầy bối rối. Vị Treant xoay ghế sang một bên và bắt chéo chân rồi đờ đẫn nhìn ra khoảng không trước mặt.
"Vẫn có những vị thần hứng chịu một số phận hoàn toàn khác. Những kẻ mà con người từng coi là không xứng đáng để trở thành một phần của Tạo Hóa và đã bị chôn vùi dưới bàn tay cùng ý chí của người phàm."
Tôi khó mà tin nổi lời ông ấy, khi mà chúng tôi đang sống trong một thế giới mà các thực thể tối cao thực sự tồn tại, nơi mà những đấng tối cao đó nắm giữ quyền lực có thật đối với thực tại. Việc các chủng tộc có tri thức lại có thể đẩy một tồn tại như thế xuống mồ là một ý tưởng quá mức cực đoan.
Đương nhiên, những tác phẩm hư cấu của thế kỷ 21 tràn ngập những kẻ tiêu diệt thần linh và giải phóng vũ trụ khỏi sự kìm kẹp của các vị thần. Vài tựa game TRPG thậm chí còn nhét cả chỉ số để người chơi có thể đánh bại chúng và làm dấy lên một câu nói cửa miệng quen thuộc phỏng theo một series nổi tiếng với khu vườn đầy rẫy những kẻ tội đồ:
Tôi sẽ giết cả Thần linh nếu con số cho phép tôi làm điều đó.
[note110216]
Tuy nhiên, Trái Đất trong kỷ nguyên thông tin đã chứng kiến sự suy giảm tương đối về vị thế của tôn giáo; tôi chưa bao giờ ngờ rằng mình sẽ nghe thấy một quan điểm tương tự tại một thế giới vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi lòng sùng kính thần linh.
Tôi không hề thông thạo mọi truyền thống văn hóa, nên vẫn có khả năng tôi đã bỏ sót một vài ngoại lệ, nhưng ngay cả những vị thần tàn nhẫn nhất của Trái Đất thời cổ đại cũng chỉ bị trừng phạt bởi chính đồng loại của họ… Ít nhất thì, tôi chưa từng nghe nói về thần thoại nào lại táo tợn đến mức ám chỉ rằng một con người mang dòng máu thuần khiết lại có thể phán xét cả bầu trời.
Những câu chuyện về những kẻ diệt thần vẫn tồn tại, nhưng họ hoặc là các á thần, hoặc là những vị anh hùng được lựa chọn mang theo vũ khí và ân huệ của các vị thần đối lập. Quê hương kiếp trước của tôi từng sản sinh ra một truyền thuyết về sự trừng phạt của phàm nhân giáng lên một vị thần, nhưng với điều kiện tiên quyết là tổ tiên của người anh hùng đó vốn xuất thân từ chính trời cao…
Ngay cả vị đấng cứu thế lừng danh từng hy sinh thân mình để gánh vác mọi tội lỗi nhân loại cũng chưa từng thực sự nếm trải cái chết đích thực. Sự ra đi của ngài vốn là một phần trong những phép màu do chính ngài tạo ra, và ngay cả viên sĩ quan La Mã kết liễu đời ngài cũng chỉ là một mắt xích đã được định sẵn trong công cuộc cứu rỗi, hoàn toàn khác biệt với bản chất của hành vi giết chết một vị thần.
Mặc dù tiểu thuyết thế kỷ 21 đã hạ bạt thiên đàng xuống chẳng khác nào một con trùm cuối cần phải chinh phục, nhưng những con dân của các kỷ nguyên sùng đạo hơn lại phải e dè trước sự kiêu ngạo cần có để tự nhận mình vượt trội hơn các vị thần.
Vậy mà ở đây, trong một thế giới có những vị thần đích thực, chúng tôi đã từng tước đoạt danh tính, tước đoạt cả sự hiện hữu của họ. Sức nặng của hành động ấy là điều to lớn không thể nào cân đo đong đếm được.
Một cơn rùng mình đáng sợ chạy dọc sống lưng tôi, nó gợi nhớ đến cảm giác từng xuất hiện khi tôi nhìn thấy cuốn cổ thư lần đầu tiên. Nó chỉ mang chút ít điểm tương đồng với cảm giác râm ran dễ chịu mà cô bạn thân dễ thương của tôi mang lại, thay vào đó, phần lớn lại để lại một nỗi khó chịu dai dẳng không sao giũ bỏ được. Một lần nữa, tôi lại phải đối mặt với thứ tri thức có thể tước đi sự tỉnh táo cần thiết để tiếp tục sinh sống ở thế giới này.
"Giờ thì nhóc đã biết…"
Ngài Feige thản nhiên đùa giỡn với vận mệnh của thế giới với tất cả sự uy nghiêm của một kẻ đang lật hòn sỏi dưới chân.
"Sư phụ của nhóc định ra giá bao nhiêu cho cuốn sách này?"
Thần linh ơi, cái con quái vật khoác lớp da Methuselah đó! Dúng một đồng drachma để vác cái thứ này đi vòng quanh ư?! Dù có trả gấp đôi tôi cũng từ chối!
Tiểu thư Agrippina đã biết chính xác những gì đang chờ đợi tôi, và tôi dường như đã có thể tưởng tượng ra nụ cười hoàn hảo đến phát bực của cô ấy khi cô ấy cười nhạo sự tuyệt vọng của tôi. Làm sao quái nào mà cô có thể sống nổi với việc bắt ai đó đi đối phó với thể loại chuyện này chỉ để giải trí chứ?! Tôi nguyền rủa cô!
Dù vừa mới tắm xong, cơ thể tôi đã lạnh toát đến tận xương tủy. Ngài Feige nhấc món đồ lạnh ngắt ấy lên và quay sang nhìn tôi, khuôn mặt ông vô cùng nghiêm nghị.
---
[Mẹo] Trong số các cổ thư ma pháp, có rất nhiều cuốn có thể tác động đến bất kỳ ai nhìn thấy chúng, thậm chí một số cuốn còn ảnh hưởng đến môi trường xung quanh chỉ bằng sự tồn tại của mình. Các hầm chứa sách sâu nhất của học viện bị coi là cấm kỵ âu cũng chính đáng.


