Chương 23 · 102 chương

Mùa xuân năm Thứ 12 - Phần 1

Cao trào.

Điểm đến cuối cùng của bất kỳ buổi chơi nào.

Thường thì điều này biểu thị cho một cuộc chạm trán mang tính sống còn, đóng vai trò là một bước ngoặt quyết định cho câu chuyện.

---

Tôi vẫn luôn dành sự tôn trọng cho các cosplayer, nhưng tôi chưa bao giờ tưởng tượng rằng sự thán phục của mình dành cho nghề thủ công ấy lại lớn mạnh đến thế ở cái thế giới này. Chắc hẳn bạn đã từng thấy những người mặc áo giáp xích do chính tay họ đan lồng vào nhau với một bộ giáp lá sắt toàn thân phủ bên ngoài, đi lại ngông nghênh tại một số lễ hội mùa hè nào đó. Sự kiên trì của họ luôn đáng được vỗ tay tán thưởng, nhưng vào mùa xuân năm 12 tuổi, cuối cùng tôi cũng hiểu được hành động đó thực sự thống khổ đến nhường nào.

"Oa, cháu không cử động nổi!"

Tôi kinh hô.

"Ừ thì, hiển nhiên rồi."

Người thợ rèn thản nhiên đáp.

"Giáp trụ là thế mà."

Vừa hài lòng với thành quả của mình, người đàn ông vừa mỉm cười nhìn tôi đang vùng vẫy trong vô vọng.

Bản thân tôi cũng từng vô cùng mãn nguyện khi ngắm nhìn bộ giáp hoàn chỉnh được tròng lên ma-nơ-canh. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng giáp làm từ da thật nhìn có hơi quê mùa, nhưng lớp sơn mờ tối màu của bộ trang bị mới trông oai vệ đến mức đập tan mọi định kiến ban đầu của tôi.

Tấm giáp ngực lót kim loại tách biệt với phần thân hình trụ che trọn lồng ngực tôi, và những tinh chỉnh nhỏ ở các đoạn da đan xen sát sao sẽ đủ để nới rộng chúng theo cơ thể đang lớn của tôi. Tôi rất vui khi thấy hai miếng đệm vai được vát xuôi xuống để hất văng những cú chém xiên, và phần bảo vệ tay sử dụng chất liệu da cứng cáp, đáng tin cậy y hệt như khúc giáp che thân.

Phần giáp cẳng tay bên ngoài được điểm xuyết những chiếc đinh tán để củng cố sức chống chịu, bên trong có các dây đai bằng da để siết chặt, nghĩa là tôi vẫn có thể tiếp tục sử dụng chúng ngay cả khi đã trưởng thành. Tấm bảo vệ mu bàn tay lỏng lẻo rủ xuống ở các đầu, chỉ che đi phần mu để ưu tiên sự linh hoạt khi cầm nắm. Tôi đặc biệt đánh giá cao thiết kế này, vì nó cho phép đeo găng tay dày vào mùa đông và tôi có thể thay thế các mảnh nhỏ trên tay bằng kim loại bất cứ lúc nào.

Chiếc đai lưng bảo vệ eo cũng được trang trí tương tự bằng những món phụ kiện sáng lóa và đủ chắc chắn để chống đỡ một lưỡi kiếm. Những vạt váy xích rủ xuống từ thắt lưng để bảo vệ đùi và vùng kín, giúp tôi không phải bận tâm lo lắng cho nửa thân dưới của mình.

Cuối cùng, chiếc mũ giáp có hình dáng giống như phần chóp của một viên đạn và đủ độ thoáng để đảm bảo tầm nhìn rộng. Tuy nhiên, một thanh chắn mũi được kéo dài từ đỉnh xuống phòng hờ trường hợp tôi dính đòn trực diện vào mặt, và tôi có thể lắp thêm một tấm mặt nạ xích để bảo vệ phần nửa dưới khuôn mặt khỏi những mảnh vụn bay tung tóe. Dù vậy, phần tôi thích nhất chính là lớp da xếp lớp rủ xuống ở phía sau. Tôi luôn có thể che chắn phần trước cổ bằng giáp, nhưng việc bảo vệ phần gáy cũng quan trọng không kém.

Tất cả những gì tôi còn thiếu chỉ là một đôi giáp ống chân và một đôi bốt da để hoàn thiện diện mạo của một mạo hiểm giả chính hiệu. Tôi đã dành ra một khoảnh khắc để trầm trồ trước vẻ ngoài ngầu lòi của mọi thứ, nhưng sự phấn khích của tôi lại đâm đầu vào tường cái rụp ngay khi mặc nó lên người.

Đáng buồn thay - và cũng hoàn toàn dễ hiểu - tôi không thể di chuyển trôi chảy như khi mặc thường phục. Suy cho cùng, nếu làm được thế thì việc bắt binh lính luyện tập ròng rã suốt hàng giờ liền trong bộ trang bị đầy đủ đã trở thành lãng phí rồi. Nhiều lớp da đã được ép chặt và nện vào nhau, rồi đem đi xử lý nhiệt bằng sáp. Mặc dù trông có vẻ mềm mại, bộ giáp lại chẳng hề mềm chút nào. Sự cứng nhắc không chịu dung hòa với các nếp gấp trên cơ thể đồng nghĩa với việc tôi không thể uốn cong các khớp xương theo cách mình vẫn làm khi mặc vải hoặc các lớp da mỏng.

Những mảng giáp xích và lớp lót bằng vải gai dầu lấp đầy các khoảng trống quanh hốc nách và khớp nối khiến khả năng cơ động của tôi càng trở nên tồi tệ hơn. Chuyển động không phải là bất khả thi, và thậm chí cũng chẳng đến mức khó khăn như tôi nói, nhưng ngay từ bước chân đầu tiên, tôi có thể nhận ra rằng mọi thứ sắp tới sẽ chẳng dễ dàng gì.

Tuy khó diễn tả bằng lời, nhưng trải nghiệm đó giống như thể cơ thể tôi đang chậm hơn tâm trí một nhịp. Mọi chuyển động đều trở nên cồng kềnh một cách kỳ lạ. Tôi có thể cử động, nhưng nó không hề mượt mà, và cảm giác đó để lại một sự bực bội khó tả. Có lẽ một sự so sánh thích hợp là viết chữ khi đang đeo một đôi găng tay dày vậy. Bạn vẫn có thể viết ra chữ, nhưng sự đần độn ở các ngón tay sẽ quá lớn để viết được như bình thường. Đây cũng là một mức độ khó chịu tương tự như vậy.

"Chà, rồi cậu sẽ quen thôi."

Bác thợ rèn thản nhiên nói.

"Đồ da đó sẽ không uốn cong đâu, nên nó về cơ bản cũng giống như giáp lá sắt trọng lượng nhẹ vậy. Cậu sẽ vấp ngã và lảo đảo vài lần, nhưng rồi cơ thể cậu cũng sẽ tự thích nghi được thôi."

Ông ấy bật cười khi chỉ ra một sự thật phũ phàng nhưng hoàn toàn chính xác. Gã nói hoàn toàn đúng… nhưng tôi lại có một năng lực gian lận đến mức bất công là chuyển đổi thời gian và công sức từ hoạt động này sang hoạt động khác. Giờ chính là thời điểm hoàn hảo để phát huy tối đa ân huệ thần thánh của mình: một bộ giáp cứng ngắc thế này, làm sao tôi dám đặt chân vào rừng hay những tàn tích chứ?

Tôi đã để mắt đến kỹ năng Làm Chủ Giáp Nhẹ thuộc danh mục Võ Thuật từ lâu, và cuối cùng tôi đã đổ hết điểm kinh nghiệm để nâng thẳng nó lên Thang III: Người Học Việc, để rồi bất ngờ nhận ra đó là cách hóa giải hầu hết sự khó chịu đó. Một chút tham vọng trỗi dậy, và ở Thang IV: Thợ Thầy, tôi hầu như chẳng còn cảm thấy sự vướng víu mà mình vừa chật vật tìm từ để miêu tả cách đây vài giây nữa.

Ra là vậy, mình phải tập trung vào biên độ chuyển động của từng khớp xương và cách bộ giáp cản trở chúng. Cảm giác này thật tuyệt - tập trung vào điều này cho phép mình di chuyển mượt mà nhất có thể và còn mang lại thêm điểm kinh nghiệm nữa chứ. Có lẽ mình sẽ vào rừng tập luyện để làm quen với cảm giác này.

"Này, òa…"

Bác thợ rèn thốt lên đầy kinh ngạc sau khi chứng kiến tôi nhảy nhót quanh xưởng và thực hiện vài đường kiếm. Việc thấy tôi chuyển từ một cỗ máy chưa tra dầu thành một cậu thiếu niên bình thường chỉ trong vỏn vẹn vài giây đã khiến ông ấy hoàn toàn trở tay không kịp.

"Chà… thế thì chịu đấy. Này nhóc, chắc cú là nhóc không phải hóa thân của Thần Chiến Tranh nào đấy chứ?"

"Nếu đúng thế thì cháu đã đi càn quét sạch một giải đấu nào đó từ nhiều năm trước rồi."

Tôi đáp lại. Chà, nếu không vì mong muốn tận hưởng một cuộc sống bình yên, có lẽ tôi đã kết cục giống như những nhân vật chính trong các tiểu thuyết isekai mà tôi từng thích đọc. Tôi nhớ có một nhân vật đã gây ra náo loạn chấn động khi mới chỉ hai tuổi, nhưng một cuộc đời phô trương quá mức chắc chắn sẽ đi kèm với đủ thứ rắc rối.

Bên cạnh đó, tôi không muốn gây rắc rối cho bố mẹ của mình, nên tôi lại củng cố quyết tâm rằng bản thân chẳng có lý do gì phải vội vã sống và cứ tận hưởng niềm mãn nguyện giản đơn là bản thân có thể cử động trơn tru trong bộ giáp.

Lần tới mình sẽ xin Ngài Lambert cho phép mình mặc nó trong lúc luyện tập. Điểm kinh nghiệm nhận được rất hậu hĩnh, và tôi cần kiểm tra xem bộ giáp này có thể giảm thiểu bao nhiêu sát thương khi dùng nó với Ngã An Toàn.

Tôi không có thanh điểm sinh lực ở góc tầm mắt, và bảng thông số cũng trống hoác. Cách duy nhất để biết mình có thể chịu đựng bao nhiêu đòn trước khi các chuyển động trở nên đìu hiu và đôi chân khuỵu xuống chính là tự mình kiểm nghiệm trực tiếp. Việc thử nghiệm các đợt kiểm tra bán sống bán chết hoặc chịu đòn ngay giữa sức nóng của trận chiến là một đòi hỏi quá sức đối với một kẻ nhát gan như tôi.

Nhắc đến việc tung xúc xắc, tôi đã mở khóa được vô số kỹ năng mới ngay lần đầu mặc bộ giáp này lên người. Có vài kỹ năng trong danh mục Kiếm Sĩ tập trung vào các đòn tấn công linh hoạt. Mục Hiệp Sĩ chứa đầy các kỹ năng cấp cao như Làm Chủ Giáp Nặng; mục Trinh Sát lại có những thứ giúp làm dịu tiếng động của trang bị như Hành Động Lặng Lẽ. Chỉ một bộ giáp duy nhất này thôi mà có thể được tận dụng theo rất nhiều cách khác nhau. Tạm thời thì tôi đã thấy mãn nguyện, nhưng tôi quyết định sẽ dành thời gian sau để tìm ra một combo kỹ năng giá rẻ nhưng tối ưu. Suy cho cùng, tôi đã tốn rất nhiều thời gian và công sức mới gom góp được bộ giáp này - tôi muốn tận dụng nó thật triệt để, và trong khoảng thời gian dài nhất có thể.

"Xong xuôi nhé, đây là một món quà nhỏ từ ta gửi tới vị mạo hiểm giả tương lai."

Người thợ rèn nói.

"Hả?"

Tôi vừa cởi bộ đồ da ra với suy nghĩ rằng mình cần phải học cách tự mặc nó, nhưng rồi phải khựng lại ngay tại chỗ khi người thợ rèn đặt một chiếc hộp lên mặt quầy. Đó là một chiếc rương đựng giáp đi kèm với dây đeo - được chế tác riêng để bảo quản trọn vẹn bộ trang bị của tôi.

"Chẳng phải cậu sẽ cần một chiếc rương đựng giáp à? Đâu phải lúc nào cậu cũng cứ mặc nguyên bộ đồ đó đi khắp mọi nơi được."

"Hả?! Bác tặng nó cho cháu luôn á?!"

Dù thoạt nhìn có vẻ bình thường, chiếc hộp lại được chế tác rất tỉ mỉ và rõ ràng là tốn không ít chi phí để sản xuất. Đúng như lời ông ấy nói, tôi chắc chắn sẽ phải cởi giáp ra trong những chuyến hành trình dài ngày, và một chiếc rương đựng giáp vốn nằm trong danh sách những món đồ tôi cần chuẩn bị trước khi đến tuổi trưởng thành, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ mình lại có thể sở hữu một chiếc thế này.

"Ta gọi nó là quà đấy, nhưng không hoàn toàn miễn phí đâu nhé. Đến lúc mấy gã hát rong cất tiếng ca ca ngợi về cậu, nhớ nhắc đến tên ta đấy. Sự nổi tiếng đó tốt cho cả dòng họ của ta."

Người thợ rèn từng kể cho tôi nghe về các trường phái khác nhau xuất phát từ phong cách rèn tại công hội thợ thủ công địa phương, nhưng đó chẳng qua chỉ là cái cớ được che đậy hời hợt. Kèm theo một cái nháy mắt ngượng ngùng, ông ấy đưa chiếc rương đựng giáp cho tôi.

"Nào, để ta chỉ cho cậu cách sắp xếp nó."

"…Cháu cảm ơn bác rất nhiều."

Từ chối lúc này thì quả là thất lễ. Tôn trọng người bề trên (và thợ rèn là một trong số ít những bậc trưởng bối thực thụ mà tôi quen biết), tôi để mặc người đàn ông chiều chuộng mình trong lúc lắng nghe bài giảng tỉ mỉ và đầy ân cần của ông ấy.

---

[Mẹo] Mặc giáp làm cạn kiệt thể lực rất nhanh. Có những thời điểm, việc mặc giáp có thể gây ra các hiệu ứng suy giảm nghiêm trọng. Trong thời tiết lạnh giá cắt da cắt thịt, giáp lá sắt từ một lớp bảo vệ sẽ biến thành một chiếc lồng tử thần.

---

Khi băng giá tan đi và dòng người hân hoan chào đón mùa xuân bằng những lớp áo được cởi bớt, một cô bé cô độc đang lê bước dọc theo một lối mòn nhỏ. Cô bé đá văng đôi chân trong từng bước đi, và đôi môi bĩu ra một cách đầy phẫn uất như đang hét lên rằng "Em đang giận lắm đấy nhé!" Và sự thật đúng là vậy - Elisa, cô con gái cả của Johannes thuộc tổng Konigstuhl - đang cực kỳ khó chịu.

Việc chấm dứt những tháng ngày mùa đông phải nằm liệt giường là một điều đáng mừng: lý do duy nhất khiến Elisa có thể nuốt trôi thứ thuốc đắng ngắt dùng để trị cơn sốt oái oăm của mình là vì người anh trai yêu dấu đã hứa sẽ đưa cô đi chơi lễ hội địa phương khi mùa xuân đến. Hôm nay đáng lẽ phải là một ngày hạnh phúc.

Những nét đẹp mà Elisa thừa hưởng từ người mẹ được tôn lên hoàn chỉnh khi cô bé đã nhờ anh trai rửa mặt và chải tóc gọn gàng. Là cô con gái duy nhất trong nhà, cô bé đã được bố mua cho một chiếc váy xinh xắn ở thị trấn vào mùa thu năm ngoái - thứ khiến cô bé cảm thấy mình xinh đẹp nhất có thể.

Hôm nay đáng lẽ phải là một ngày tuyệt vời được tô điểm thêm bằng món kẹo đá yêu thích của Elisa - thứ chỉ xuất hiện vài lần trong năm. Mọi chuyện vốn dĩ vẫn đang diễn ra theo đúng ý như thế, cho đến khi… con nhện đó xuất hiện và phá hỏng tất cả.

Elisa ghét con nhện ấy. Erich là anh trai của Elisa, nhưng con nhện cứ bám dính lấy anh ấy. Erich là anh trai của Elisa, nhưng thỉnh thoảng con nhện đó lại quá đáng đến mức cướp anh ấy đi mất! Erich thì quá tử tế nên chẳng chịu gỡ cô ấy ra và sẽ hùa theo với một nụ cười bất đắc dĩ trên mặt.

Nhưng anh ấy là anh trai của Elisa cơ mà!

Anh ấy là Anh-trai-của-mình và anh ấy phải đối xử tốt với mình chứ!

Hôm nay cũng không ngoại lệ. Elisa đã cười tươi roi rói sau khi mọi người trong nhà khen ngợi bộ đồ xinh xắn của mình, nhưng con nhện đó lại xuất hiện ngay trước lúc họ rời đi. Dù chẳng được mời mọc, con nhện ấy cứ thế trèo lên lưng anh trai cô như thể mình có cái quyền được ở đó vậy.

"Chà, hai người định ghé các quầy hàng của thương nhân à? Thích thế. Này, cậu có phiền không nếu tớ đi cùng?"

Em phiền cực kỳ, siêu cấp phiền luôn!

Elisa tức giận thầm nghĩ. Cô bé không tài nào thốt lên lời đó được, nhưng cô bé bấu chặt lấy tay áo anh trai với hy vọng anh ấy sẽ đuổi con côn trùng kia đi. Đừng có nhầm, Elisa thực sự đang sôi máu; lý do duy nhất cô bé không nói gì là vì cô bị hù dọa bởi nụ cười của con nhện. Ánh mắt trong đôi tròng mắt màu phỉ thúy đó mỗi khi con nhện cười toe toét khiến nó sợ chết khiếp. Con bé biết con nhện đó không phải kiểu người đi dệt mạng, nhưng có một khoảng không vô tận ẩn sâu trong đôi mắt ấy khiến cô hoảng loạn đến mức hồn bay phách lạc.

Không thể diễn tả nổi những cảm xúc phức tạp đang hoành hành trong tâm trí với vốn từ vựng hạn hẹp của mình, Elisa đành im lặng cho đến khi anh trai cô bé cuối cùng cũng chịu nhượng bộ, nhấc con nhện lên vai và nói: "Thôi được rồi, chúng ta cùng đi nhé."

Nhưng tụi mình định đi có hai người mà. Chỉ hai đứa mình thôi cơ mà!

Thế là, Elisa nổi cơn tam bành và hoàn toàn không thể kìm nén được nữa. Trong lúc anh trai đang chuẩn bị để xuất phát, cô bé đùng đùng nổi giận bỏ ra khỏi nhà. Dù chẳng có mấy kinh nghiệm tự xỏ giày, cô bé vẫn cố nhét chân vào bằng tất cả sự hờn dỗi rồi chuồn ra từ cửa sau - cánh cửa cố tình được để ngở cho thoáng khí.

Lẽ ra Elisa phải sợ hãi khi lần đầu tiên tự mình ra ngoài một mình, nhưng cô lại quá bực bội vì chuyện anh trai đã thất hứa để mà bận tâm điều đó. Tất cả những người bạn tưởng tượng cứ bay lượn xung quanh, khuyên can cô rằng đi một mình rất nguy hiểm, nhưng chẳng một chữ nào lọt vào tai cô bé. Sự bướng bỉnh của trẻ con kéo cô cứ nhấc chân bước đi cho đến khi nó nhận ra mình đã ở một nơi rất xa nhà.

dù vậy, ‘ở một nơi rất xa nhà’ thì không hẳn là một cuộc marathon đối với một đứa trẻ tám tuổi có vóc dáng nhỏ thó so với độ tuổi. Anh trai cô có thể phi nước đại qua khoảng cách đó chỉ trong chớp mắt, nhưng Elisa chưa từng một mình bước ra khỏi chu vi ngôi nhà trước đây bao giờ. Với cô bé, thế này là quá xa rồi. Không thể nhìn thấy ngôi nhà của mình sau ngọn đồi, nỗi lo lắng cuối cùng cũng lấn át cơn giận dữ khi cô hoảng hốt quay cuồng xung quanh trong sự bất an.

Đến lúc này, chắc anh trai cô đang hoảng loạn vì Elisa đã biến mất rồi. Chỉ một lát nữa thôi, anh ấy sẽ chạy hồ hởi đến với một nụ cười lo lắng và nói, "Elisa, em biết là mình không được tự ý chạy đi chơi mà không có anh chứ." và mọi chuyện sẽ ổn thôi.

Kỳ vọng của Elisa không quá xa rời thực tế. Dù mang những nét tính cách thừa hưởng từ người mẹ hiền hậu, Erich lại là một người có đôi mắt tinh anh và có cô bạn thuở nhỏ đầy tài năng đang ngồi trên vai. Cả hai có thể dễ dàng phát hiện ra những dấu vết rõ mười mươi của một đứa trẻ trong chớp mắt.

Cho thêm vài phút nữa thôi, người anh trai yêu dấu, lo xa và có phần mù quáng vì cưng chiều em gái của Elisa sẽ đến tìm cô thôi. Rồi anh ấy sẽ xin lỗi dù cho cô bé mới là người sai khi bỏ nhà ra đi, anh ấy sẽ đãi cô kẹo đá, và ba người bọn họ sẽ cùng nhau đi chơi lễ hội.

"Này cô bé, một tiểu thư ăn diện lộng lẫy thế này mà lại làm gì ở đây thế nhỉ?"

Giá như cô bé có được thêm vài phút ấy. Mặt trời đột ngột bị che khuất bởi một kẻ bất ngờ xuất hiện, và Elisa bỗng thấy mình rơi vào bóng tối. Cô bé hoảng sợ quay người lại và nhìn thấy bóng dáng của một gã đàn ông to lớn.

Gã này chẳng có gì gọi là khả nghi cả. Làn da gã sạm đen vì phơi nắng lâu giờ, và gã mặc cùng một loại vải lanh sờn cũ giống như bất kỳ thương nhân du lịch nào khác. Gã trông chẳng khác nào hình ảnh của một tiểu thương đang dựng sạp hàng tại lễ hội. Thực tế, Erich từng nhắc đến việc năm nay có một vài thương đoàn tình cờ ghé qua làng, nên khu chợ sẽ có nhiều hàng quán hơn mọi khi.

Vẻ ngoài của gã chẳng có điểm gì bất thường. Dù giắt một con dao găm bên thắt lưng, nhưng sẽ khó hơn để tìm thấy một thương nhân lữ hành nào mà lại không có lấy một con dao. Gã trông hoàn toàn chẳng có điểm nào giống với những kẻ phản diện xuất hiện trong các câu chuyện của thi sĩ lang thang. Gã sạch sẽ và được tắm rửa đàng hoàng.

Tuy nhiên, một nỗi sợ vô hình bỗng hóa thành cái lạnh thấu xương chạy dọc sống lưng Elisa. Thực ra, bản năng của cô bé đã đúng: suy cho cùng, nơi duy nhất mà kẻ phản diện trông giống kẻ phản diện chỉ có trong các câu chuyện kể mà thôi.

Sức lực trong cơ thể Elisa bỗng chốc tan biến và khiến cô bé quỵ xuống gối như thể vừa có ai đó rút cạn đi phần lõi của mình. Thế giới xung quanh mờ ảo dần, hệt như khi một cơn sốt cực nặng làm tầm nhìn của cô bé trở nên vẩn đục. Suy nghĩ cuối cùng của cô bé không phải là cơn chóng mặt không tài nào hiểu nổi, mà đúng hơn là cô không muốn làm bẩn bộ quần áo xinh đẹp mà gia đình đã chuẩn bị cho mình.

Elisa đơn giản là không tài nào tưởng tượng nổi chuyện gì đang xảy ra. Lớn lên trong vòng tay yêu thương và sự tử tế của gia đình, khả năng tồn tại những kẻ ác tâm sẵn sàng làm điều tồi tệ với mình chưa từng xuất hiện lấy một lần trong tâm trí cô bé. Chỉ trong vỏn vẹn vài giây, cô bé đã chìm vào một giấc ngủ sâu, và gã lữ khách đã kịp đỡ lấy phần thân trên mềm oặt của cô bé ngay trước khi nó ngã sập xuống đất.

"Chà, đồ của đại ca phê thật đấy. Nào, để xem tiểu thư đáng yêu này kiếm được bao nhiêu nhỉ."

Gã lẩm bẩm và rút một chiếc bao bố gấp gọn từ trong túi ra. Với một đôi tay thuần thục, gã nhét đứa trẻ đang ngủ say vào trong và buộc hờ miệng túi lại. Phần miệng túi có luồn một ống gỗ để duy trì luồng không khí trong lành, nhưng từ bên ngoài nhìn vào thì không thể nào nhận ra được điều đó.

"Húp."

Gã ục ịch kêu lên một tiếng, vác món ‘hàng’ lên vai hệt như cách người ta vác một bao lúa mì lớn. Chẳng có tên bắt cóc khả nghi nào cả - chỉ có một gã thương nhân lữ hành đang mang tâm địa đi buôn bán hàng hóa của mình mà thôi.

Đế chế Tam quyền Rhine thừa nhận hình thái nô lệ dưới dạng khế ước lao động, nhưng nghiêm cấm chế độ nô lệ dựa trên tầng lớp và công khai lên án nạn buôn người. Bí mật đằng sau bộ luật hình sự của Đế chế quy định những hình phạt thể xác nghiêm khắc đối với bọn buôn người: hình phạt nhẹ nhất mà một kẻ có thể nhận được là bị rút xương hoặc mất đi cả tứ chi. Đây tuyệt đối không phải là một tội danh nhẹ.

Tuy nhiên, cũng giống như những trọng tội như cưỡng hiếp và giết người vẫn tiếp tục hoành hành thế giới này, sẽ chẳng bao giờ có hồi kết cho những thành phần mờ ám tìm kiếm lợi nhuận hấp dẫn từ thị trường nô lệ. Nhật Bản năm nào cũng bắt các vụ buôn bán ma túy bất chấp các quy định ngặt nghèo khét tiếng của họ, và chẳng có số lượng tội phạm nào bị treo cổ dọc các tuyến đường cao tốc công cộng có thể ngăn cản những đồng hương người Rhine tiếp tục bắt cóc trẻ em.

Gã đàn ông thản bước đi về căn cứ trong khi huýt sáo một giai điệu vui tươi. Gã sẽ không bao giờ lén lút hay rón rén như một tên trộm vặt. Nếu không thể giữ được nét mặt tỉnh bơ và trưng ra cái vẻ rằng hành lý của gã chẳng qua chỉ là đống hàng hóa tẻ nhạt nào đó, gã sẽ không tài nào kiếm sống nổi bằng cái nghề này.

Hỡi ôi, đây là cảnh tượng quá đỗi quen thuộc. Hàng năm, những đứa trẻ chết vì bệnh tật, và cứ cách vài năm lại có một đứa trẻ đi lạc một mình để rồi không bao giờ quay trở lại nữa - liệu chúng bị bắt cóc, bị thú dữ tấn công, hay bị tóm bởi một thứ gì đó tồi tệ hơn nhiều thì chỉ có trời mới biết.

Dù Đội Cảnh Vệ có nỗ lực đến đâu, họ cũng không thể quét sạch mọi tội phạm. Những kẻ liên tục qua mặt được những chuyến tuần tra dày đặc trong cái nghề này đều vô cùng xảo quyệt. Suy cho cùng, trong một lĩnh vực mà ngay cả khách hàng cũng là kẻ thù, một cái đầu ranh mãnh chính là điều kiện tiên quyết để sinh sống.

Thế là một cô bé sắp sửa biến mất khỏi Konigstuhl vĩnh viễn. Thông thường, bi kịch sáo mòn này sẽ kết thúc với những giọt nước mắt của cha mẹ và sự xôn xao trong thị trấn một thời gian ngắn. Không có các hệ thống quản lý thông tin và giao thông đúng nghĩa, một tên bắt cóc vô danh sẽ hoàn toàn nhởn nhơ một khi hắn bước qua ranh giới của tổng.

Tuy nhiên, dù là phúc hay là họa, cô bé này lại chẳng hề bình thường chút nào.

---

[Mẹo] Nạn buôn người đã là phi pháp kể từ khi Đế chế thành lập, nhưng luật pháp không phải lúc nào cũng được tuân thủ. Nếu đúng như vậy, sẽ chẳng có quốc gia nào cần đến lực lượng cảnh sát nữa cả.

---

"Này, đợi đã… Elisa đâu rồi?"

Sau khi thong thả chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho chuyến lên đường, tôi nhận ra cô bé lẽ ra phải đang ngồi ngóng ở phòng khách lại chẳng thấy tăm hơi đâu.

"Nhờ cậu nhắc tớ mới để ý, tớ chẳng thấy con bé ở đâu cả."

Margit lên tiếng. Tôi thấy hơi chạnh lòng khi nghe cô ấy nói vậy, xét đến việc cô ấy cứ huyên thuyên không ngớt suốt công đoạn chuẩn bị (dù phần lỗi cũng nằm ở chỗ tôi cứ hăng hái đáp lời mọi câu hỏi), nhưng tung tích của đứa em gái lúc này vẫn quan trọng hơn là đôi co với cô ấy.

Tìm kiếm người lạc đường là một trong ba mô-típ kinh điển của các cuộc phiêu lưu trong TRPG - hai mô-típ còn lại là thám hiểm hầm ngục và một cái nữa xin phép nhường lại cho bạn đọc tự suy ngẫm - nhưng việc cái trò này cứ lặp đi lặp lại mãi thì chẳng lấy gì làm lý tưởng cho lắm.

"Giày của em ấy biến mất rồi."

Tôi nói sau một thoáng đảo mắt quan sát căn phòng. Mối quan hệ của Elisa với chiếc giường đã khiến cô bé sinh ra sự chán ghét việc đi giày, nên cô luôn cởi phăng giày mỗi khi ngồi xuống. Việc để chân trần là một hành vi thiếu nữ tính, nhưng tôi chưa bao giờ nỡ mắng mỏ khi em ấy ngước đôi mắt cún con ngấn lệ lên phàn nàn rằng giày chật đến mức nào.

Điều đó có nghĩa là, dù chẳng tự buộc nổi dây giày, cô bé hẳn đã tự xỏ chân vào và bước ra ngoài. Tôi hạ thấp người xuống và kiểm tra khu vực xung quanh chiếc ghế. Việc xâu chuỗi các lần kiểm tra độ nhận thức [note109490] nhỏ nhặt để đạt được một mục tiêu thế này là một chuyện cơm bữa.

GM này, cho tôi thấy gì đi.

Mặc dù mang tính chất thử vận may nửa đùa nửa thật, tôi chẳng thể tìm thấy manh mối hữu ích nào cả. Người mẹ cuồng công việc của tôi có thể được xem là hình mẫu nội trợ tiêu biểu với mức độ dung thứ cho bụi bẩn gần như bằng không. Gia đình tôi đã tụ tập lười biếng trong phòng khách hồi đầu ngày, nhưng bà ấy đã quét dọn sạch sẽ mọi hạt bụi hay vết bẩn có thể giúp tôi lần theo dấu vết của Elisa.

Nhân tiện, nếu có ai dám bước vào nhà mà không chịu chùi sạch bùn đất bám trên giày, mẹ tôi sẽ xơi tái kẻ đó ngay tức khắc. Mặc dù thói quen này cực kỳ hợp với nết sinh hoạt mang hơi hướng Nhật Bản của tôi, nhưng nó lại trở thành một vật cản tồi tệ cho khả năng suy luận của tôi.

"Tớ nghĩ con bé đi theo hướng đó."

Ứng cử viên trinh sát trong đội hình lý tưởng của tôi lên tiếng. Hôm nay, cô nàng thợ săn nhỏ nhắn vẫn đang vắt trên vai tôi.

"Cậu nhìn ra được cơ à?"

"Chà, đương nhiên rồi. So với lũ thú hoang trong rừng, Mensch chẳng khác nào đang cất cao tiếng hát mỗi khi họ cố trốn cả."

Phép ví von đầy của Margit chẳng hề khiến tôi bực mình sau khi đã chứng kiến cô ấy săn ngỗng suốt những năm tháng tuổi thơ của chúng tôi. Hồi nhỏ tôi rất thích nghe những lời khoác lác kiểu đó, rồi sau này lại thấy chán ngấy, nhưng phải đến tận bây giờ tôi mới nhận ra chúng có sức nặng nhường nào khi thốt ra từ miệng một kẻ có thực tài.

"Mẹ kính yêu của cậu có lẽ rất thích giữ nhà cửa sạch sẽ."

Cô bạn arachne của tôi giải thích thêm.

"Nhưng dù có giỏi đến mấy thì bác ấy cũng chẳng thể ngăn được vô số hạt bụi bay lọt vào từ bên ngoài. Tớ nghĩ Elisa đã lẻn ra ngoài bằng cửa nhà bếp."

Cách Margit dùng cụm từ ‘Mẹ kính yêu’ để ám chỉ mẹ ruột của tôi lọt vào tai khiến tôi khựng lại một nhịp, nhưng tôi quyết định lờ đi.

Mình dám cá là ngôn ngữ của Đế chế có hẳn hai từ hoàn toàn khác biệt để chỉ mẹ của người khác và mẹ chồng.

"Ồ."

Tôi chợt nhận ra.

"Ban đầu tụi mình dự định đi chơi chỉ có hai người thôi mà. Hay đó là lý do khiến con bé nổi giận nhỉ?"

"Chà, vậy sao?"

Margit nói.

"Nếu cậu nói với tớ trước, tớ đã rất sẵn lòng để dịp khác đi cùng rồi."

"Tớ không muốn làm phiền cậu như thế."

"Tớ đâu có cô đơn đến độ không tìm nổi cách giết thời gian trong lúc chờ công chúa nhà cậu chạy chán chê rồi lăn ra ngủ đâu, biết chưa?"

Cô nàng khúc khích cười. Tôi thực sự ước gì cô ấy đừng cười ngay sát tai mình như thế, bởi vì mỗi lần như vậy, cảm giác tê rần chạy dọc sống lưng tôi lại chẳng cách nào biến mất được.

"Dù sao thì, em gái cậu bám cậu quá nhỉ."

"Ừ, cậu vẫn nhớ vụ việc năm ngoái chứ?"

Margit ngay lập tức nhận ra sự kiện đáng ghét mà tôi nhắc đến và lại phả vào người tôi một tràng cười khúc khích khiến tôi gai cả người.

"Cậu đúng là đã tạo được một cú hích lớn cho tên tuổi của mình đấy, Quý Ngài Kiếm Sĩ ạ."

"Thôi nào, xin cậu… Xấu hổ chết đi được."

Tôi rên rỉ. Sự náo động tột cùng mà người cha đáng kính của tôi gây ra tại lễ hội mùa xuân năm ngoái đã dạy cho cô em gái bé bỏng yêu quý của tôi một bài học hoàn toàn sai lệch.

"Dù sao thì, kể từ khi vớ được viên ngọc trai từ vụ đó, con bé bắt cứ đinh ninh rằng cứ đi bên cạnh tớ là thể nào cũng có chuyện hay ho xảy ra."

Có lẽ Elisa sẽ chẳng bao giờ có cơ hội cầm trên tay một viên ngọc chất lượng đến thế nếu không có sự can thiệp của tôi, nhưng việc cô bé mặc định sự hiện diện của tôi đồng nghĩa với những điều tuyệt vời sắp xảy ra lại là một vấn đề lớn. Em ấy gần như dính chặt lấy lưng tôi mỗi khi chúng ta ra ngoài đi chơi, và nó liên tục tìm mọi cách để giành thời gian ở riêng với tôi.

Có lần, chúng tôi chơi trò đóng vai (tất nhiên không phải đóng vai mạo hiểm giả với mấy ông anh của tôi rồi. Hồi đó tôi đang trông nom con bé và vài đứa trẻ nhỏ hơn trong xóm) và tôi vào vai một pháp sư, để rồi Elisa lại xung phong làm… người hầu cận của tôi. Con bé chớp lấy cơ hội để đảm nhận một vai trò mà bất kỳ đứa trẻ nào khác cũng sẽ chê bai - có lẽ em gái tôi rất có duyên với những vị trí ngách thế này.

Tương tự như vậy, đã có vài lần trong kiếp trước của tôi, khi tôi sắm vai một anh hùng kinh điển để rồi nhận lại vẻ mặt ngơ ngác đến mức khó hiểu từ mọi người xung quanh trong bàn chơi. Xét đến việc phong cách chơi của tôi là chủ động né tránh những mạch truyện chính thống, có lẽ kiểu tính cách này đã ngấm ngầm chảy trong huyết mạch của cả hai anh em chúng tôi.

"Hi hi."

Margit cười khúc khích.

"Nếu đó là điều cậu muốn tin."

"Nghe có vẻ ám muội quá đấy…"

"Chắc là do cậu tự tưởng tượng ra thôi."

Cô nàng vừa nói vừa cười suốt dọc đường. Tôi bước ra từ cửa sau trong khi phải chịu đựng một loạt tràng cười làm rung rẩy cả người, đồng thời sử dụng kỹ năng Lẩn Trốn Thang III để quan sát xung quanh. Cỏ mọc tỉa tót vẫn còn sót lại dọc theo lối đi dẫn ra từ nhà bếp, và những bước chân dẫm đạp không kiêng nể gì của một đứa trẻ đã để lại những dấu vết rõ mồn một cho tôi thấy.

Đúng như tôi dự đoán: Elisa chẳng mảy may nghĩ đến việc mình sẽ bị theo dõi khi đi bộ, và thật dễ dàng để nhận ra vết chân của con bé trên lớp đất mềm thế này. Dù tôi phải tập trung cao độ mới thấy được chúng, nhưng bất kỳ ai với kiến thức tối thiểu cũng có thể lần theo một manh mối thế này.

"Hừm."

Margit trầm ngâm.

"Em ấy đứng ở đây khá lâu ấy."

"Cậu chỉ nhìn lướt qua mà cũng nhận ra á?"

Tuy nhiên, các kỹ năng của tôi so với một chuyên gia thì chỉ đáng xách dép. Có khi tôi thà khỏi thử còn hơn.

"Nếu tớ biết chiều cao và cân nặng của mục tiêu, tớ hoàn toàn có thể đưa ra ước tính tương đối chỉ bằng cách kiểm tra tình trạng của mặt đất."

Margit nhảy tót khỏi vai tôi và chẳng hiểu sao không để lại một dấu chân nào khi cô nàng thoăn thoắt bò về phía những vết tích. Lại quan sát kỹ hơn, tôi nhận ra trọng lượng nhẹ bẫng của cô kết hợp với một kỹ thuật đặc biệt là mỗi bước chân sau đều đè khít lên đúng vị trí dấu chân của chân trước. Tôi bật ra một tiếng thở dài đầy thán phục trước màn độc diễn của bậc thầy này.

"Mẹ tớ còn đỉnh hơn nhiều. Chỉ cần một vết in trên mặt đất là đủ để bà không chỉ phân biệt được loài thú nào, mà còn biết rõ cả giới tính, độ tuổi, cân nặng và thậm chí là cả hương vị nữa cơ."

"Nghe… đáng sợ thật đấy."

Tôi nhận xét.

Hừm, mình học kỹ năng Lẩn Trốn để dùng trong môi trường đô thị, nhưng có cảm giác sự đầu tư đó đổ sông đổ biển rồi đây..

. Nếu Margit có thể tìm ra tất cả thông tin này chỉ bằng cách kích hoạt kỹ năng theo dấu thú vật của cô ấy, liệu tôi có cần tiếp tục phân bổ điểm kinh nghiệm cho thể loại này nữa không? Suy cho cùng, việc giữ cho các vai trò trong tổ đội tách biệt rõ ràng chính là một trong những quy tắc nền tảng của việc xây dựng một tổ đội cơ bản mà.

Tôi rảo bước đuổi theo cô bạn nhỏ đang thoăn thoắt bò đi trước khi cô khựng lại đột ngột. Ngay khi chúng tôi vừa khuất tầm nhìn khỏi ngôi nhà của mình, dấu vết mà tôi có thể nhìn thấy bỗng biến mất hoàn toàn. Cỏ dại mọc xanh mướt ở cả hai bên lối đi, và thảm thực vật um tùm đang bận rộn ca tụng khúc hoan ca mùa xuân đến mức chẳng thèm hé lộ bất kỳ gợi ý hữu ích nào. Đây chính là kiểu địa hình mà một GM sẽ từ chối kiểm tra độ nhận thức trừ khi tổ đội đưa ra được một lập luận cực kỳ thuyết phục.

"Chắc là lại vào rừng chơi rồi."

Tôi nói.

"Haizz, tớ đã dặn con bé là không được đi quá xa nhà cơ mà. Chắc hẳn nó đang giận lắm đây vì…"

"Cho tớ một phút."

Margit cắt ngang với giọng điệu nghiêm nghị và đôi mắt dán chặt vào một đám thực vật bình thường. Dường như có âm thanh lăn xúc xắc trong đầu cô ấy đang văng vẳng quanh tôi. Hệt như đang tìm kiếm một dấu vết vô hình, cô trinh sát trẻ tuổi chạm tay vào thảm cỏ và bắt đầu lẩm bẩm với vẻ đầy quyết đoán.

"Hai chân, và bước sải này… Là một Mensch ư? Khoảng cách bước chân quá đều đặn để có thể là người già, và… hắn ta đã được huấn luyện chiến đấu."

"Margit?"

Cô bạn đồng hành bỗng giơ một ngón tay về phía tôi mà không hề ngước nhìn lên: ký hiệu ra hiệu ‘Im lặng’ mà chúng tôi hay dùng trong những chuyến đi săn. Cô ấy đã dạy tôi rất nhiều ký hiệu như vậy và bảo rằng kiểu giao tiếp không lời này là tiêu chuẩn trong giới thợ săn, nhưng việc cô dùng nó ở đây đồng nghĩa với việc bộ não của cô đã chuyển số sang chế độ săn mồi.

"Ăn mặc khá nhẹ nhàng cho một Mensch… nhưng bên đó lại nặng hơn nhiều…"

Vẫn giữ tư thế sát mặt đất sau khi đứng dậy, nữ thợ săn bậc thầy ngấu nghiến phân tích những thông tin mà đôi mắt tôi hoàn toàn bỏ lỡ. Sau một thoáng suy ngẫm, mắt cô mở lớn và quay phắt lên nhìn tôi với một giọng run rẩy mà chưa bao giờ trong đời tôi được nghe thấy.

"Ch-Chúng ta phải làm gì đây?"

"C-Có chuyện gì vậy?"

Tôi lo lắng hỏi.

"Ôi, Erich! Tệ rồi - tệ lắm rồi! Ôi không!"

Tôi chưa bao giờ thấy Margit bị dồn ép đến mức biến thành một cô bé hoảng loạn như thế trước đây. Tôi quỳ xuống ngang tầm mắt và cô lao chồm vào người tôi. Cách nói năng quý tộc gần như bất khả chiến bại của cô sụp đổ, và cô bắt đầu lắp bắp như một dân thường.

"Ch-Chúng ta phải - không, chuyện này không thể xảy ra được… Không thể nào…"

"Bình tĩnh nào, bình tĩnh xem nào. Chuyện gì thế, Margit? Tớ sẽ chẳng biết gì nếu cậu cứ không chịu nói."

Tôi vừa nói vừa vỗ nhẹ vào lưng cô. Đôi tay đang ôm lấy tôi bỗng siết chặt cả vạt áo lẫn da thịt, và những ngón tay run rẩy đã tố cáo một nỗi kinh hoàng vượt xa cả những lời nói hoảng loạn của cô. Việc thấy cô biến thành một đứa trẻ sợ hãi là điều vượt quá sức tưởng tượng đối với tôi - tôi còn không thể hình dung nổi cô sẽ hành xử thế này trước khi chúng tôi gặp nhau.

Quái quỷ gì có thể khiến cô ấy…

"Tớ nghĩ Elisa bị bắt cóc rồi!"

…Cái gì?

Bộ dạng sợ hãi của cô bạn thuở nhỏ đang đứng trước ngõ bỗng đổ thẳng một gáo nitơ lỏng vào mọi ngóc ngách trong hộp sọ tôi, nó đóng băng tâm trí tôi ngay tức khắc. Tuyên bố của cô ấy vô lý đến mức khiến tôi suýt tưởng đó là một trò đùa, nhưng các bằng chứng đã rành rành trước mắt: tôi đã tận mắt chứng kiến cô chứng minh năng lực chuyên môn của mình hết lần này đến lần khác.

Hơn thế nữa, từ những lời lẩm bẩm của cô ấy, tôi suy luận rằng cô đã nhìn thấy dấu vết của một bên thứ ba. Một gã Mensch trẻ tuổi đã để lại dấu chân ở gần đó, và những bước chân của Elisa bỗng biến mất. Nếu trọng lượng của gã đàn ông đó bỗng dưng thay đổi đột ngột, thì chỉ có hai khả năng duy nhất xuất hiện trong đầu tôi.

Khả năng đầu tiên, mang tính ấm áp và lông bông hơn, là một gã đàn ông tốt bụng nào đó đã nhặt được một cô bé đi lạc để đưa con bé về với gia đình. Tuy nhiên, khoảng cách quá gần với nhà chúng tôi đã loại bỏ ngay lập tức khả năng đó. Dù Elisa có ngây ngô đến đâu, cô bé cũng không đời nào đi lạc trên một con đường thẳng tắp dẫn từ nhà ra.

Khả năng thứ hai, và cũng là kịch bản có khả năng xảy ra cao nhất, là có kẻ đã tóm lấy Elisa và mang cô bé đi mất. Mục đích của chúng quá rõ ràng: xét cho cùng, công chúa của chúng ta chính là cô bé dễ thương nhất trên đời này.

"Ôi, Erich, chúng ta phải làm sao đây? Erich…"

Margit hoảng hốt lên tiếng.

"Margit."

Tôi kiên quyết đáp lại, gỡ đôi tay cô ấy khỏi vai mình. Tôi nhìn sâu vào đôi mắt đẫm lệ của cô, hai viên ngọc phỉ thúy không còn vẻ đáng yêu thanh cao thường ngày, mà thay vào đó lại khơi dậy bản năng bảo vệ trong tôi… nhưng bây giờ không phải lúc.

"Cậu có tìm được em ấy không?"

"Hả, nhưng mà, chúng ta nên đi tìm người lớn…"

Cô lắp bắp.

"Họ say mèm hết rồi, chẳng giúp gì được đâu."

Tôi quả quyết.

Vào bất kỳ ngày nào khác, kế hoạch của Margit sẽ là hoàn toàn chính xác, nhưng hôm nay lại là ngày hội. Tôi đã ở trong nhà chờ Elisa tỉnh giấc, nhưng mọi người khác đều đã đi trẩy hội mất rồi. Dù là dạo xem hàng quán hay tận hưởng không khí ở quảng trường, tôi thừa hiểu rằng ai nấy cũng đã say mèm. Đội Cảnh Vệ Konigstuhl cảnh báo người dân không được quá đà, nhưng tôi chỉ có thể trông đợi vào vài mống có thể còn tỉnh táo mà thôi.

Dương nhiên, nếu tôi chạy thẳng đến chỗ Ngài Lambert, ngài ấy sẽ không đời nào phớt lờ lời báo cáo của tôi như một trò đùa trẻ con, nên phương án đó cũng có vài điểm hợp lý. Nhưng ngoại trừ những đoàn thương nhân do chính lãnh chúa địa phương mời đến, thời điểm rời đi của từng thương nhân là vô cùng khó đoán. Trong khi một số người ở lại qua đêm để thu mua trái cây mùa xuân, thì những kẻ khác lại dọn hàng ngay khi đợt cao trào giữa trưa dịu xuống. Một tên bắt cóc chẳng có lý do gì để cứ nán lại hiện trường gây án cả.

"Trời sắp tối rồi."

Tôi giải thích.

"Sẽ chẳng ai mảy may nghi ngờ nếu một hoặc hai thương đoàn đóng cửa tiệm rồi rời đi cả. Và nếu chúng tẩu thoát, chúng ta sẽ không bao giờ được gặp lại Elisa nữa."

Tôi thừa hiểu rằng hai đứa trẻ truy đuổi tội phạm chẳng khác nào một việc làm ngốc nghếch. Dù Margit chỉ còn một năm nữa là đến tuổi trưởng thành và cơ thể tôi cũng đang phát triển với tốc độ chóng mặt, chúng tôi vẫn còn cách xa thời kỳ sung mãn nhất.

Cho dù tôi đã trải qua bao nhiêu buổi huấn luyện đi nữa, tôi vẫn thiếu đi yếu tố tối quan trọng nhất trong chiến đấu: kinh nghiệm. Tôi có thể theo kịp sức mạnh quái dị của Ngài Lambert khi đấu tập, nhưng thành thật mà nói, tôi không dám chắc mình có thể đối phó nổi khi có một thứ vũ khí thật sự chĩa vào mình.

Tuy nhiên, tôi chắc chắn rằng tình hình này đang thôi thúc chúng tôi phải hành động. Có khả năng kẻ thủ ác muốn thong thả rời đi, thậm chí có khi chúng sẽ ở lại cho đến tận hoàng hôn để bắt cóc càng nhiều trẻ em càng tốt. Tất cả những người lớn say xỉn sẽ đều đinh ninh rằng một hoặc hai đứa trẻ đi lạc chỉ là đã tự ý đi về nhà, và sẽ chỉ nhận ra sự vắng mặt của chúng vào sáng hôm sau - có lẽ những ngày lễ hội chính là mùa thu hoạch của lũ cặn bã tồi tệ này.

Tuy nhiên, cũng có khả năng phương thức hoạt động của chúng là chỉ thẫm lặng bắt đi một hoặc hai đứa trẻ từ mỗi tổng để qua mặt thiên hạ. Hoặc nhỡ đâu chúng còn có một nguồn thu nhập chính thứ hai, và vụ này chỉ là một dự án phụ của chúng thì sao?

Chúng tôi cần phải lường trước kịch bản tồi tệ nhất cho mọi chi tiết nhỏ nhặt. Hơn thế nữa, người ta vẫn bảo một bản phát hành thử nghiệm lỗi còn hơn là một kiệt tác chẳng ai thèm nhìn ngó tới, và những tình huống thế này đều xoay quanh việc phải đi đúng bước đầu tiên. Hai chúng tôi sẽ tìm cho ra Elisa rồi quay về huy động càng nhiều người lớn còn tỉnh táo càng tốt. Đó là tất cả những gì cái đầu bấn loạn của tôi có thể nghĩ ra lúc này.

"Làm ơn đi Margit, tớ xin cậu đấy."

Tôi van xin từ tận đáy lòng và áp trán mình vào trán cô. Việc kéo Margit vào vòng nguy hiểm đè nặng một tảng đá trong tôi, nhưng tôi không thể tự mình làm nổi điều đó. Ngay cả khi tôi dốc toàn bộ số tiền tiết kiệm vào các kỹ năng theo dấu, chỉ số của tôi vẫn chẳng thể nào sánh bằng cô ấy.

"Giúp tớ với. Vì Elisa… vì tớ."

"Vì… tớ ư?"

cô hỏi.

"Đúng vậy, làm ơn đi. Tớ không muốn mất em ấy, nhưng tớ biết mình không thể làm được một mình. Điều đó có thể khiến tớ trở thành một người anh tồi tệ, nhưng tớ vẫn muốn cứu Elisa!"

Tôi sẽ may mắn biết bao nếu tất cả chuyện này chỉ là một sự hiểu lầm. Nếu Elisa chỉ vì quá giận dỗi mà nhờ một người lạ tốt bụng đưa đến quảng trường, thì toàn bộ sự việc này sẽ chỉ là một kỷ niệm xấu hổ để bạn bè và gia đình trêu chọc tôi trong nhiều năm tới mà thôi.

Nhưng trực giác tồi tệ trong lồng ngực tôi lại mách bảo điều ngược lại. Tôi không phải là một kẻ may mắn. Tôi chui ra từ bụng mẹ với một chỉ số bị khuyết thiếu, và nếu phân tích thống kê những lần tung xúc xắc trong đời tôi, kết quả sẽ không còn có thể gọi là hài hước nữa mà lao thẳng vào vũng nước mắt. Giá trị kỳ vọng chính là hiện thân của vận may, và tôi từng khiến cả tổ đội của mình bị quét sạch chỉ vì quay ra năm ‘mắt rắn’ liên tiếp trong một buổi duy nhất.

Phần tồi tệ nhất là những lần tung xúc xắc cho có lệ ở những bài kiểm tra không thể trượt lại luôn lòi ra những con số cao đến mức phát tởm. Dù tôi tung 2D6 hay 1D10, từng cục nhựa vô tri đó đều đùa giỡn với tôi. Đó là lý do tại sao tôi quay lưng với chỉ số May Mắn và các vị thần xúc xắc để bám víu lấy những giá trị cố định.

Kết quả là, tôi tự khắc ghi một điều: tôi sẽ mất đi người mình trân quý nếu lúc này tôi tỏ ra thỏa hiệp. Nếu quả thực không còn chút hy vọng nào để cứu cô bé, thì có lẽ tôi đành buông xuôi sau khi đã khóc lóc, nguyền rủa và gào thét vào mặt số phận đến mức hộc máu. Thế nhưng, nếu vẫn còn dù chỉ là một tia hy vọng mong manh rằng tôi có thể làm điều gì đó, tôi sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho sự chần chừ của bản thân.

Ai là kẻ đã nói rằng những tầng sâu của địa ngục đều nằm ngay trong hộp sọ của một kẻ nông cạn nhỉ?

"Được rồi."

Sau một thoáng im lặng kéo dài, Margit nói.

"Ừ, được thôi!"

Cô hít hít cái mũi đang sụt sịt, lau đi đôi mắt mờ sương và bĩu môi.

"Tớ sẽ lùng theo bọn chúng cho cậu. Theo dấu Mensch thì chẳng khác nào trò trẻ con."

Cô nàng Arachne nghiêng đầu, kéo khuôn mặt đang chạm sát của chúng tôi lại gần nhau hơn nữa. Cô cọ mũi vào mũi tôi, và chúng tôi cùng hòa chung một nhịp thở. Với nhãn cầu gần như chạm vào nhau, những viên ngọc hổ phách ấy đã làm tôi mê mẩn không biết bao nhiêu lần. Có lẽ do cái bóng mà chúng tôi đang đổ lên nhau, đôi mắt trong tầm nhìn của tôi bỗng rũ bỏ sắc màu thường nhật để chuyển sang một thứ ánh sáng vàng óng rực rỡ.

"Nhưng tớ muốn cậu phải trả ơn đấy… Cậu hiểu chứ?"

"Gì cũng được."

Tôi đáp ngay lập tức.

"Tớ thề trước Nữ thần đấy.”

Nói câu này ở một thế giới mà các vị thần luôn hiện hữu đây đó chẳng khác nào việc ký vào một tờ séc trắng chưa điền số tiền. Cô ấy hoàn toàn có thể đòi lấy mạng tôi và tôi vẫn sẽ phải tuân lệnh.

Tôi không hề xem nhẹ chuyện này vì nghĩ rằng cô ấy sẽ không đưa ra yêu cầu vô lý nào đâu. Ngược lại là đằng khác: đây chính là Margit cơ mà. Tôi mà lại đi đánh giá thấp cội nguồn của sự áp đảo vô tận, những giọt mồ hôi lạnh, và cảm giác vừa dễ chịu vừa kinh hoàng được gọi là Margit ư? Thôi đi, tôi đâu phải loại người ngu ngốc đến mức thò đầu vào miệng hổ đang ngủ.

Quyết tâm của tôi không hề mỏng manh đến mức sẽ hối hận vì quyết định này. Tôi chẳng mảy may lăn tăn gì nếu bị sai làm mấy chuyện ngớ ngẩn… miễn là Elisa được bình an trở về nhà.

"Cậu chắc chứ?”

Cô hỏi, nụ cười thường trực bỗng vụt tắt trên môi như muốn nói rằng sẽ chẳng còn đường lui nào một khi đã vượt qua ranh giới này. Mặt khác, điều đó cũng đồng nghĩa là tôi vẫn còn cơ hội để quay đầu ngay bây giờ.

Thế nhưng, tôi sẽ là loại người gì nếu cứ thế chùn bước đây? Margit rõ ràng còn đáng sợ hơn cả ác quỷ dưới địa ngục hay những cú ném xúc xắc bất định của số phận, nhưng tôi sẽ không lùi bước. Trong kịch bản xấu nhất, hôm nay tôi hoàn toàn có thể phải cuốn vào một trận đấu kiếm sinh tử, tôi không thể chần chừ trước một điều kiện thế này được.

"Tớ chắc chắn."

Tôi quả quyết.

"Tớ ghét những lời dối trá, và tớ sẽ làm mọi cách trong khả năng để ngăn bản thân trở thành một kẻ nói dối.”

Khoảnh khắc tung xúc xắc đã cận kề. Dù chúng có ra mặt nào đi nữa, một cú lật bàn là con đường duy nhất để tiến về phía trước. Cuộc đời sẽ thật bình yên biết bao nếu mọi thứ chỉ toàn là những đoạn cắt cảnh, nhưng là một kẻ say mê những đỉnh cao và vực sâu hoành tráng mà chỉ sự thất thường của hai khối đa diện lăn lóc mới mang lại, tôi đã sẵn sàng đón nhận định mệnh của mình.

"Tuyệt vời! Tớ khiêm nhường tiếp nhận khoản thanh toán này của cậu. Việc tìm ra em ấy sẽ chỉ tốn chưa đầy một nốt nhạc.”

Khóe môi Margit cong lên thành nụ cười quen thuộc. Nữ thợ săn Arachne nhe hàm răng nanh dài và quay phắt người đi để tìm kiếm mục tiêu.

Nào, hãy cùng nhìn vào chiếc khay xúc xắc xem sao.

---

[Mẹo] Tóm những tên tội phạm đã vượt qua ranh giới khu vực là một việc làm đầy thử thách. Vì thiếu đi ảnh hay điện thoại khiến thông tin quá chung chung để có thể tìm ra một cá nhân cụ thể. Độ khó này đúng với cả việc truy lùng thủ phạm lẫn nạn nhân.

---

Ngoại trừ rất ít ngoại lệ, bất kỳ ai cũng từng có lúc tự cho mình là nhân vật đặc biệt. Dù sự tự tin thái quá ấy xuất phát từ cái tôi trẻ con hay từ lòng dũng cảm hừng hực của một kẻ muốn chứng minh bản thân, hiện tượng này vẫn luôn gắn liền với tâm can của mọi con người phàm trần.

Và một kẻ như thế đang nằm ngả ngớn trong thùng xe ngựa chở hàng đỗ giữa khu trại của thương đoàn. Gã đang ở độ tuổi giữa đôi mươi với một vóc dáng bình thường: không quá cao cũng chẳng quá thấp, và cũng lửng lơ giữa ranh giới gầy gò hay mập mạp.

Điểm nổi bật nhất trên người gã là mái tóc đen chĩa ngược hình cái xoáy và đôi mắt thâm quầng, trũng sâu lờ đờ. Một cây trượng dài được trang trí bằng vô số bảo thạch và phụ kiện nằm dài bên cạnh gã, còn chiếc áo choàng thì được thêu kín những câu thần chú nhiều như cả một thư viện. Mùi thảo mộc nồng nặc vương vất trên người chính là nét chấm phá cuối cùng khẳng định rằng, không còn nghi ngờ gì nữa, gã là một pháp sư.

Bỏ qua độ hiếm của các pháp sư Mensch, gã đàn ông này chẳng có gì là đặc biệt cả. Gã chỉ dẫn đầu một thương đoàn nhỏ gồm chục mống người. Người ta có thể dễ dàng bắt gặp những gã pháp sư hết thời lang thang ở mọi ngóc ngách của Đế chế. Việc các nhà nghiên cứu ma pháp xin tài trợ bằng cách đi gõ cửa khắp quốc gia là chuyện như cơm bữa, và nhiều người lập ra thương đoàn không phải để kinh doanh, mà như một phương thức hiệu quả hơn để cấp vốn cho các dự án cá nhân của chính họ.

Đã có lúc, gã thực sự đặc biệt: gã sinh ra với ký ức của một tiền kiếp. Những chi tiết phức tạp về quá khứ đó sẽ không được nhắc lại dài dòng nữa. Thứ nước đã đổ thì không thể hốt lại, và bản thân gã cũng đã quên đi phần lớn nguồn gốc của chính mình. Chỉ cần biết rằng kẻ chuyển sinh ấy từng có cơ hội tình cờ chạm trán với một đấng tối cao nào đó, vị thần đã ban cho gã một điều ước duy nhất trên con đường bước chân đến thế giới mới này.

"Nếu đây là một thế giới có ma thuật, tôi muốn có tài năng về nó."

Vị thần mỉm cười và tha thứ cho gã vì tội dám ngắt lời Ngài rồi ban cho gã món quà mà gã hằng mong ước. Những hành động hỗn láo nhỏ nhặt chẳng làm thần linh bận lòng, và Ngài đã quá quen với lòng tham không đáy của những linh hồn phàm tục. Cân nhắc đến việc có kẻ khao khát thứ sức mạnh sánh ngang với các vị thần sáng thế, thỉnh cầu nhỏ nhoi của gã chỉ đổi lấy một nụ cười hiền hậu.

Thế là, gã trở thành một đứa trẻ với cái tôi nguyên vẹn và tài năng thiên bẩm về ma thuật. Câu chuyện diễn ra sau đó chẳng có gì đáng kể. Gã cứ thế xuôi chèo mát mái cho đến khi đụng phải một bức tường, và thành công của việc dùng tài năng thô để áp đảo mọi thứ không còn là một kết quả được định sẵn nữa.

Năm 10 tuổi, gã là một thần đồng; năm 15 tuổi, gã là một thiên tài; đến năm 20 tuổi, gã bị thuột lùi trở thành một kẻ bình thường. Câu ngạn ngữ cũ mà gã từng nghe thời đi học cách đây cả một đời người hóa ra lại hoàn toàn chính xác. Bạn bè và gia đình tung hô gã như một thiên tài, và gã dần trổ tài dưới sự dìu dắt của vị thầy mo ở tổng mình ở. [note109491]

Cậu nhóc có thể tạo ra ngọn lửa mà không cần bất kỳ sự hướng dẫn nào, kỹ năng pha chế dược liệu vượt xa bất kỳ đứa trẻ nào, và thậm chí còn bắt đầu thử nghiệm với thứ ma pháp bẻ cong không gian mà phần lớn mọi người coi là một nghệ thuật đã thất truyền. Gã chính là hình ảnh thu nhỏ của sự rực rỡ.

Nếu gã bằng lòng làm pháp sư địa phương của tổng, có lẽ cuộc đời gã đã rẽ sang một hướng khác. Được bao bọc trong tình yêu thương của người thầy và những người bạn tri kỷ, gã có thể đã xây dựng nên một thế giới hạnh phúc nơi bản thân được tất cả mọi người tin tưởng và trông cậy.

Thế nhưng, chàng trai trẻ lại có sức đề kháng quá yếu trước sự cám dỗ của hư vinh. Được ca tụng và tán dương, gã đi tìm sự tôn vinh mới và rời bỏ ngôi làng của mình để phục vụ cho vị quan trị sự.

Với lá thư giới thiệu từ trưởng làng, cậu thiếu niên 15 tuổi đã giành được vị trí cố vấn ma thuật cho quan trị sự và được hào phóng ban cho một ngôi nhà ở một thành phố tầm trung. Nguồn ma lực vô tận đồng nghĩa với việc gã có thể tận dụng tối đa, hoặc lạm dụng, sự thông thạo của mình đối với những thứ nghệ thuật hắc ám đã bị lãng quên, và chủ nhân của gã rất coi trọng sự phục vụ đó.

Nếu gã dừng chân ở đây, khả năng cao là gã sẽ được ban phước với một dòng chảy hạnh phúc chậm rãi nhưng bền vững. Trong lúc làm việc cho quan trị sự, gã có thể mở một cửa hàng nhỏ chuyên buôn bán các món đồ trang sức được yểm phép và sống những ngày tháng trọn vẹn. Được tôn trọng bởi người thầy và các đồng môn, lại may mắn sở hữu địa vị cao, gã sẽ chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc tìm kiếm một người phụ nữ để chia sẻ cuộc đời trong khi vẫn tận hưởng những xa hoa vượt xa tầm với của bất kỳ thường dân nào. Dù hoàn toàn khác biệt với tương lai chưa từng thành hiện thực ở quê nhà, đây cũng là một viễn cảnh tràn ngập hạnh phúc.

Thế nhưng, cảm giác thèm thuồng cứ đòi hỏi cơn nghiện ấy phải được thỏa mãn. Đắm mình trong sự sung sướng của công trạng và địa vị xã hội của một viên chức nhà nước, gã bắt đầu chìm trong biển vinh quang mờ ảo.

Vị trí cố vấn chẳng đòi hỏi ở gã mấy, và trong lúc rảnh rỗi, gã tình cờ gặp được một người mang danh hiệu học giả ma pháp [note109489]. Giới học giả ma pháp hoàn toàn khác biệt với các pháp sư thông thường và thuật sĩ, nhưng cuộc sống ở vùng nông thôn trước đây đã không cho hắn cơ hội nào để gặp gỡ bất kỳ học viên nào từ Học Viện Ma Pháp Hoàng gia.

Qua điều tra, gã biết được rằng ‘học giả ma pháp’ là một danh hiệu dành riêng cho những ai được Học Viện Ma Pháp tại đế đô công nhận. Hơn thế nữa, những người được nhận làm giảng viên sẽ được ban tước vị quý tộc, nhận một phòng thí nghiệm chính thức và được cấp phép buôn bán thành quả nghiên cứu của mình dưới mọi hình thức thương mại khác nhau. Chưa hết, nhà nước còn cấp cho mỗi học giả ma pháp một khoản trợ cấp để thúc đẩy nghiên cứu, và thậm chí có người còn trở thành những nhà hoạch định chính sách có ảnh hưởng lớn đến quốc gia. Giới học giả ma pháp thực sự vượt trội hơn hẳn so với những pháp sư thông thường.

Làm sao mà một kẻ với cơn khát danh vọng trẻ con như gã có thể cưỡng lại được cơ chứ? Sự kiên nhẫn của gã chỉ kéo dài vỏn vẹn vài ngày: việc biết rằng có một thứ gì đó cao quý hơn đã hạ thấp vị trí hiện tại của gã xuống mức không thể chấp nhận được.

Sau một năm làm việc dưới quyền quan trị sự, gã đột ngột từ chức, bán sạch đồ đạc trong nhà và khăn gói lên đường ra đế đô. Từng tận mắt chứng kiến những năng lực không có gì ấn tượng của một học giả ma pháp trước đó, gã đinh ninh rằng mình sẽ nằm danh hiệu đó trong tầm tay một cách dễ dàng.

Trên chuyến xe ngựa quá giang cùng một thương đoàn trên đường đến đế đô, gã lại gặp thêm một học giả ma pháp khác. Để thỏa mãn cái tôi trẻ con của mình, gã bắt đầu khoác lác như một tên bợm rượu.

Gã thể hiện kỹ năng của mình và bắt đầu tự nâng cao bản thân hết mức có thể để nhanh chóng kiếm được một lời giới thiệu. Cho đến tận lúc đó, kẻ khoác lác này vẫn luôn dùng tài năng không thể chối cãi của mình để bịt miệng mọi kẻ hoài nghi và chẳng bao giờ phải nhận lại gì ngoài sự ngưỡng mộ. Chưa từng nếm mùi thất bại, gã chắc mẩm rằng vị học giả ma pháp kia sẽ phải quy phục trước mặt mình (dù rằng cúi đầu là một phần của văn hóa người Rhine, việc quỳ rạp xuống đất thì không) và công nhận sức mạnh phi thường của gã. Nhưng một câu châm chọc đã khiến gã hoàn toàn ngẩn người.

"Ồ. Sao phép thuật này lại lãng phí ma lực thế?"

Âm điệu sắc lạnh, thờ ơ của vị học giả ma pháp cùng bản chất khó hiểu trong những lời nói ấy đan xen vào nhau và đâm thẳng vào tâm trí gã. Đối với một kẻ từ trước đến nay chỉ sử dụng ma thuật thông qua trực giác thuần túy, câu hỏi được đặt ra trước mặt gã là một bài toán không thể giải mã.

Cả một hệ thống phương trình gần như toán học cho phép người ta can thiệp vào vật lý, chuỗi hành động logic được thực hiện để bẻ cong các hiện tượng tự nhiên theo ý muốn, hay thậm chí là khái niệm chung về lý thuyết ma thuật, tất cả đều xa lạ đối với gã. Câu hỏi… không, phải là cuộc thẩm vấn ấy đã khiến gã hoàn toàn bối rối.

Bản tính thần đồng chưa bao giờ cho phép gã phải suy nghĩ. Đối với gã, phép thuật chỉ đơn thuần là một thứ tự xảy ra. Thần linh đã ban cho gã một tài năng trực giác, thứ đã bỏ qua quá trình tư duy phiền toái vốn thường là điều kiện bắt buộc.

Ngẫm lại kỹ hơn, đấng tối cao đó đã đưa ra một quyết định hoàn toàn hợp lý. Để trao cho một kẻ gà mờ một kỹ năng không thể tưởng tượng nổi, việc ném cho hắn một ‘nút bấm ma pháp’ thực hiện sẵn mọi thứ sẽ đơn giản hơn rất nhiều so với việc cố nhồi nhét đủ loại lý thuyết vào bộ não gã. Vị thần ấy thừa hiểu rằng ngay cả công nghệ ấn tượng nhất cũng trở nên vô giá trị trong tay kẻ thiếu đi kiến thức cần thiết để sử dụng nó.

Dù là phép thuật hay mẹo vặt, tất cả đều tuân theo những nguyên lý siêu hình nhất định, và do đó bị ràng buộc, chi phối bởi lý trí. Lý trí, thứ chỉ có thể đạt được thông qua sự học tập chuyên cần, về bản chất lại đối lập hoàn toàn với thứ tài năng tiện lợi mà gã từng khao khát. Nhưng với quyền năng của các đấng tối cao kèm uy quyền tuyệt đối, các quy tắc của thế giới đã bị bẻ cong. Gã không cần phải hiểu biết để thế giới nghĩ rằng gã hiểu biết, và món quà có thể san bằng thế giới ấy đã cho phép gã sử dụng ma thuật cho đến tận thời điểm này.

Làm một pháp sư thị trấn nhỏ thì chừng đó là quá đủ. Thế nhưng, Học viện không đơn thuần chỉ là nơi tập hợp của những pháp sư cỏn con. Đó là một viện nghiên cứu, một cơ sở học thuật. Những thí nghiệm khác nhau được tiến hành bởi những bộ óc ưu tú nhất, tức là các giảng viên, không phải để trưng cho đẹp mắt. Nghiên cứu của họ chính là lý do chính họ có mặt ở đó.

Học tập là quá trình nuôi dưỡng trí tuệ bằng cách mài giũa, tinh luyện và chắt lọc tư duy sâu sắc hết lần này đến lần khác cho đến khi tất cả những gì còn lại chỉ là chân lý cô đọng. Viên ngọc trí tuệ lấp lánh không có chỗ cho một vết nhơ mang tên kẻ ‘cứ thế mà làm đại cho xong’. Đối với Học viện, nơi cẩn thận mài giũa những vết xước kiểu này cho đến khi biến mất hoàn toàn, thứ ma thuật của gã chẳng khác nào một vết mẻ khổng lồ trên viên kim cương tuyệt đẹp mà họ sẽ không bao giờ chấp nhận.

Cảm thấy bị xúc phạm tột cùng sau khi nghe vị học giả ma pháp nói thế, gã liền hầm hầm tiến thẳng đến Học viện, để rồi nhanh chóng bị tống cổ ra ngoài với một kịch bản quen thuộc: sự thờ ơ và khinh miệt. Thấy sự nhiệt tình của gã, một vài vị học giả ma pháp đã viết cho gã mấy bức thư giới thiệu cốt để gã nếm mùi đời thực, và công bằng mà nói, gã đáng lẽ phải thấy biết ơn vì mình còn được phỏng vấn đàng hoàng. Sự ngạo mạn của gã vốn dĩ đã đủ để bị đuổi thẳng cổ ngay từ cửa rồi.

Đối với một tâm hồn uyên bác, sự dốt nát và thất bại chỉ là những bước đệm đầu tiên để vươn tới sự trưởng thành và thành công. Học hỏi từ những vấp ngã và tìm kiếm những con đường mới chính là thứ đã dẫn dắt mọi nền văn minh phát triển vượt bậc.

Giá như gã chịu bắt đầu nghiên cứu những cội nguồn logic của ma thuật ngay từ lúc đó, câu chuyện của gã chắc chắn đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác so với cái kết cục cuối cùng của gã. Với tài năng thiên bẩm và năng lượng ma thuật vô tận, Học viện đã có thể không ngần ngại mà thu nhận gã làm học viên. Nếu gã thực tâm cống hiến cho việc học hành chân chính, không nói quá khi nói rằng gã hoàn toàn có thể để lại dấu ấn của riêng mình trong vũ đài lịch sử.

Nhưng gã đã gục ngã. Thứ duy nhất mà gã đặt trọn niềm tin bị gạt phăng đi như một thứ vô giá trị, việc đó đau đớn đến mức bẻ gãy tâm hồn mỏng manh của gã. Chẳng có gì yếu ớt hơn thứ sức mạnh không có một nền móng. Những câu thần chú mà gã chẳng tốn một giọt mồ hôi công sức nào để sử dụng lại quá ư là mỏng manh để có thể làm trụ cột cho một kẻ đã gắn liền bản ngã của mình với việc thi triển chúng.

Xét về mặt sử dụng ma thuật, gã vẫn nằm trong tầng lớp trên, thậm chí là trên quy mô toàn cầu. Thế nhưng, tư chất của gã với tư cách là một nhà nghiên cứu hay một con người thì chỉ ở mức thô kệch là cùng. Giới học giả ma pháp chưa từng chùn bước trong hành trình vĩnh cửu nhằm thay đổi ngành nghiên cứu ma pháp bằng chính đôi tay của họ. Niềm đam mê của gã hoàn toàn lép vế trước họ, gã không có đủ ý chí để sống cuộc đời mình như dòng chảy cuồn cuộn của một con sông lớn.

Thất bại chí mạng này đánh dấu khởi đầu cho sự sụp đổ của gã. Gã không thể quay về chỗ quan trị sự sau khi đã bỏ bê vị trí chỉ sau một năm làm việc. Dù là phúc hay là họa, xã hội này luôn đề cao lòng trung thành, và một kẻ quá chìm đắm trong sức mạnh của bản thân đến mức chẳng thèm màng đến hậu quả từ hành động của mình thì chẳng có chỗ đứng nào dưới trướng ai cả. Một bề tôi trung thành vẫn đáng giá hơn nhiều so với một tên thiên tài kiêu ngạo, và việc sụt giảm một chút kỹ năng chỉ là một cái giá nhỏ để đổi lấy sự tận tụy.

Vậy còn quê nhà của gã thì sao? Nhưng hỡi ôi, sự chào đón ở đó cũng lạnh nhạt không kém, đó là hệ lụy từ thái độ vô ơn khi gã khăn gói lên thành phố trước kia. Một du khách vô lễ chưa bao giờ được chào đón, và ánh mắt của người thầy cùng những người bạn thuở nhỏ đã bày tỏ sự ghê tởm của họ trước sự trở về của gã mà không cần câu chữ nào. Gã lại quay lưng bỏ trốn khỏi tổng lần thứ hai, chạy trốn khỏi những ánh nhìn ấy.

Với xu hướng tự huyễn hoặc bản thân, gã vẫn nghĩ về những người con gái sẽ luôn yêu thương mình, nhưng mộng tưởng và thực tế chẳng bao giờ dung hợp với nhau. Chẳng ai tha thứ cho gã vì dám vấy bẩn những năm tháng thanh xuân của họ bằng cách bỏ rơi tất cả để đi tìm thứ vinh quang lớn lao hơn. Khơi mào sự phẫn nộ của những người phụ nữ có tầm ảnh hưởng chính là con đường ngắn nhất để tự tước đi chỗ đứng trong bất kỳ cộng đồng nào, bất kể gã có điểm gì ưu việt đi chăng nữa, và gã đã phải nếm trải bài học đó.

Sự kiêu ngạo đã tước đi của gã cả tước vị lẫn mái nhà, nó khiến gã nhanh chóng trượt dài xuống đáy xã hội. Bị dỗ ngọt và lợi dụng, gã dùng ma thuật của mình để đi đường tắt trong mọi việc. Mất đi chỗ đứng ở nơi này lại đẩy gã sang nơi khác, rồi tiếp tục ở một chốn khác, cho đến khi gã pháp sư lang thang chẳng còn lựa chọn nào ngoài việc trôi dạt đến những vùng đất xa lạ chẳng một ai quen biết.

Lũ đàn em xung quanh gã chẳng qua chỉ là những con ký sinh muốn trục lợi từ sức mạnh của gã. Bè lũ khốn khổ ấy kéo tâm tư gã lún sâu vào vũng bùn, để rồi giờ đây gã lại dấn thân vào việc tống tiền và buôn bán trẻ em dưới vỏ bọc kiếm lời.

Hình bóng hào quang của một nhân vật chính mà gã từng biết nay đã chẳng còn thấy đâu nữa. Chỉ cần nỗ lực một chút, gã đã có thể trở thành một anh hùng, nhưng tất cả những gì còn sót lại chỉ là một cái vỏ rỗng tuếch.

"Này đại ca, đại ca ơi!"

"Gì thế?"

Trong lúc đang đờ đẫn nhìn bầu trời xanh thẳm và kìm nén nỗi đau day dứt, không thể thốt nên lời trong lồng ngực, tiếng gọi của một tên tay sai đã kéo gã bừng tỉnh. Tên đàn em này là một trong hai cánh tay đắc lực của gã. Kẻ kia từng là một tay chuyên làm giả giấy tờ, nay chuyên bán các sổ hộ khẩu trắng. Còn tên đang đứng trước mặt đây lại là một kẻ thuộc thế giới ngầm từ trong trứng nước, và chính hắn đã góp phần không nhỏ vào sự suy tàn của gã pháp sư.

Trong khi nhe nanh cười đầy ghê tởm, tên tay sai lặng lẽ ra hiệu cho thủ hạ bước tới. Gã pháp sư phớt lờ thái độ vô lễ ấy và đứng dậy, gã thừa biết có những chuyện không thể tùy tiện bàn bạc công khai.

Gã đi theo tên côn đồ đến một khoảng trống giữa các lùm cây và trông thấy một chiếc bao bố. Bao bố là thứ quá quen thuộc với đám thương nhân chở hàng, nhưng vẻ bí mật cố tình che đậy lại ngầm ra hiệu rằng thứ bên trong này là một loại ‘hàng hóa’ hoàn toàn khác biệt.

"Hàng họ thế nào rồi?"

Gã pháp sư hỏi.

"Một mẻ lúa mì thượng hạng."

Tên tay sai đáp.

"Kết cấu mịn màng, màu sắc hạng nhất, và tôi chắc chắn nó sẽ làm ra loại bánh mì trắng xứng tầm với quý tộc.”

Gã đại ca huýt sáo tỏ vẻ ấn tượng. ‘Lúa mì’ là tiếng lóng trong nghề dùng để chỉ những nạn nhân bị bắt cóc đem đi bán. Kết cấu dùng để chỉ chất lượng, màu sắc biểu thị chủng tộc, và loại bánh mì đại diện cho người mua tiềm năng. Dịch ra nghĩa đen, câu nói đó có nghĩa là món ‘hàng’ hắn tóm được là một đứa trẻ Mensch dễ nhìn, chắc chắn sẽ kiếm được một khoản kha khá dù là đem đi đòi tiền chuộc hay bán. Gã pháp sư mở chiếc bao ra để ngó thử, rồi chỉ một thoáng sau, hắn phải đưa tay che miệng lại.

"Mày kiếm con ranh này ở đâu về thế hả?”

Gã hỏi.

"Hả?”

Tên đàn em ngơ ngác đáp.

Nếu chỉ đánh giá cô bé qua mái tóc vàng óng ả và làn da trắng không tỳ vết, gã có thể hiểu vì sao ai đó lại nghĩ con bé là con nhà quý tộc. Trẻ con nhà nông thường dành phần lớn tuổi thơ ở ngoài trời, và công việc đồng áng khiến ngay cả những đứa nhỏ nhất cũng có những vết chai sần hay dấu hiệu đặc trưng trên bàn tay và đầu gối. Cô bé không hề có những khuyết điểm đó, nhưng chiếc váy con bé mặc lại là thứ hoàn toàn có thể dễ dàng mua được ở thị trấn, và nó lại lạc điệu hoàn toàn với phần còn lại của vẻ ngoài ấy. Dù khoảng thời gian làm việc dưới quyền quan trị sự của gã có ngắn ngủi thế nào đi nữa, một năm cũng đủ để gã nếm trải mùi vị của thời trang quý tộc. Chẳng có đứa con gái quý tộc đàng hoàng nào lại khoác lên mình thứ trang phục có chất lượng tầm thường đến thế.

Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề quan trọng đối với gã. Gã đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu lần những kẻ ngốc nghét cạn túi chỉ để diện cho con cái chúng một bộ đồ thật đẹp trong dịp lễ hội ở đủ mọi tổng. Thay vào đó, gã nhìn thấy giá trị thực sự ở chính bản thân cô bé.

"Mặc kệ đi."

Gã lạnh lùng cắt ngang.

"Khi nào thì chúng ta rời đi được?”

"Hả?”

Tên tay sai lại ngớ ra.

"À, thì, đây cũng chẳng phải làng lớn gì, nên chúng ta có thể chuồn trước khi trời tối tẻ…”

"Tốt, chuẩn bị lên đường ngay trước khi chiều buông.”

"Cái gì?! N-Này, thôi nào, đang lễ hội mà! Không thể tranh thủ ghé qua làm vài vại rượu miễn phí được chắc?”

Sự thật là tên tay sai đã đánh giá thấp gã pháp sư. Hắn từng dễ dàng dắt mũi chủ nhân của mình trước đây, và với tư cách là kẻ đã dạy cho gã những bước cơ bản của ‘việc kinh doanh’, tên tội phạm cộm cán này đã trở nên quá tự mãn vào khả năng thao túng người khác của mình.

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, táo mục nát thì hỏng cả giỏ. Tên tay sai cũng mù quáng chẳng kém gì tên pháp sư sa ngã kia… nhưng lẽ ra hắn nên ghi nhớ điều này: kẻ đang đứng trước mặt hắn hoàn toàn có thể thổi bay cả một tổng chỉ bằng ma thuật nếu muốn.

"Nghe đây."

Gã pháp sư hằn học.

"Từ khi nào mà tao cho phép mày đặt tay lên vai tao thế?”

"Ái!”

Tên tay sai ré lên khi bị chủ nhân trừng mắt nhìn từ trên xuống dưới.

Cơn thịnh nộ vì bị bật lại khiến nguồn ma lực của gã pháp sư chao đảo, và đôi mắt đờ đẫn của gã lóe lên ánh vàng theo nhịp đập của mạch đập. Mái tóc gã quằn quại như một sinh vật sống, và sức ảnh hưởng từ cơn giận dữ tuôn trào ra ngoài, biến ngọn gió thành một tiếng gầm thét dữ dội. Màn thể hiện sức mạnh không kiềm chế này chẳng mang lại lợi ích gì cho gã, nhưng nó quá đủ để dằn mặt tên bề dưới xấc láo kia.

"Hiểu chưa?”

Gã nhếch mép.

"V-Vâng thưa đại ca! Em đi chuẩn bị ngay đây.”

Thực ra, thế là quá đủ rồi. Hai chân của tên côn đồ như khuỵu xuống, nhưng hắn vẫn lết đi để thực hiện mệnh lệnh, và gã pháp sư bị bỏ lại một mình với cái bao bố đựng cô bé.

Hắn xách chiếc bao lên với một nụ cười rạng rỡ, thứ nụ cười từng thường trực trên môi hắn khi còn trẻ và ngây thơ, dù cho nụ cười lúc này chẳng còn chút thiện lương nào: sự cống hiến thuần khiết cho những điều đen tối trong vài năm qua chỉ để lại một lớp vỏ giả tạo nông cạn và mạ vàng.

"Nếu bán con nhóc này đi, mình vẫn còn cơ hội. Mình có thể có nhiều hơn là một gã chủ thương đoàn già nua, mệt mỏi. Còn hơn thế nữa…”

Một lưỡi kiếm gãy đôi đôi khi vẫn có thể đâm thủng mục tiêu. Gã nhìn thấy chút hy vọng, chút mục tiêu để theo đuổi, cho tâm trí tan vỡ của mình, hệt như cách gã từng làm trước đây. Ký ức về những vinh quang đã bị lãng quên vẫn cứ bám riết lấy gã.

Than ôi, gã đã bỏ lỡ một chân lý giản đơn: một lưỡi kiếm cong vênh chỉ để lại những vết cắt méo mó. Một khi đã gãy, chẳng có thanh kiếm nào có thể lấy lại hình hài nguyên vẹn thuở ban đầu của nó.

---

[Mẹo] Ngay cả những màn trình diễn ma thuật kỳ diệu nhất cũng bị chi phối bởi những quy luật tự nhiên bất di bất dịch.

Bạn đã đến cuối chương 23.

Không gian đọc của bạn