Chương 17 · 102 chương

Mùa thu năm thứ 12 - Phần 1

Buổi chơi [note109389]

Hình dung tốt nhất về một buổi chơi là như một chương đơn lẻ của một chiến dịch. Mỗi buổi chơi là khoảng thời gian để toàn bộ người chơi cùng GM tụ họp và cùng nhau thúc đẩy câu chuyện tiến về phía trước.

Hãy để kẻ nào có lòng tự tôn chưa từng bị lay chuyển bởi những lời tán dương ngọt ngào của người khác lên án tôi trước tiên.

---

"Lạy Nữ Thần, thứ này đúng là ở một tầm cao khác."

"Bác thực sự nghĩ vậy sao?"

Tôi thấy mình ngượng ngùng gãi gãi má khi người thợ cả Dvergar - tôi đã phải tự dặn lòng không được gọi ông ấy là dwarf trong rất nhiều lần - của lò rèn duy nhất trong tổng kinh ngạc trước tác phẩm của tôi.

"Ta biết cậu có một đôi tay khéo léo, nhưng ta chưa từng nghĩ cậu lại có thể hoàn thành cả một bộ nhanh đến mức này."

Ông vừa nói vừa kinh ngạc vuốt chòm râu dày của mình. Có một bộ tượng gỗ được xếp thành hàng trên mặt bàn trước mặt ông. 25 loại quân cờ khác nhau, mỗi loại đại diện cho một quân cờ riêng biệt từ một trò chơi cờ bàn phổ biến ở Rhine và các quốc gia láng giềng.

Ehrengarde là một trò chơi có chút tương tự cờ Shogi, nó được chơi trên một bàn cờ lưới 12x12, trong đó mỗi người chơi cố gắng đánh tan hoàng đế và hoàng tử của đối phương. Các quy tắc độc đáo quy định sự di chuyển và tấn công của từng quân cờ gợi liên tưởng đến cờ Shogi truyền thống, nhưng không phải tất cả các quy tắc đều quen thuộc đến thế. Trong số 25 loại quân cờ, chỉ có các quân hoàng đế và hoàng tử là bắt buộc đối với cả hai người chơi. Sau đó, người chơi điền vào bốn hàng đầu tiên trên bàn cờ của mình bằng 28 quân cờ khác tùy chọn để bắt đầu trò chơi, tổng cộng là 30 đơn vị.

Sự phong phú của các đơn vị trên bàn cờ gợi liên tưởng đến một trò chơi thẻ bài đấu trí [note109390], và những sự phức tạp trong quá trình chơi cũng làm mọi thứ rối rắm theo một cách tương tự. Mặc dù trò chơi có được sức sống bền bỉ nhờ vào độ phức tạp và chiều sâu của nó, một người chơi mới vẫn có thể tự xoay xở với một bảng tóm tắt nhanh các quy tắc đặc biệt hơn. Tỷ lệ biết chữ tương đối cao của quốc gia này đã khiến trò chơi trở nên phổ biến ở Rhine và các nước chư hầu lân cận.

Các quân cờ có thể được chọn từ một đến 12 lần, dĩ nhiên, các quân cờ mạnh kiểu như hiệp sĩ chỉ có thể được chọn một lần, trong khi 12 quân tốt được phép chọn tùy thích. Sự cân bằng này dẫn đến một nắm các đội hình khuôn mẫu, nhưng không có đội hình nào bá đạo đến mức làm hỏng trò chơi. Trò chơi này phổ biến trong khu vực đến mức tôi từng nghe những câu chuyện về những người thuộc chủng Methuselah đã dành cả thế kỷ chỉ để nghiên cứu môn thể thao trí tuệ này.

Người ta có thể nghĩ rằng 144 ô vuông chứa 60 quân cờ sẽ dẫn đến thời gian chơi kéo dài, nhưng sự bất bình đẳng nảy sinh khi các quân cờ mạnh và yếu đan xen khiến trò chơi kết thúc nhanh chóng một khi một người chơi dồn ép được hoàng tử và hoàng đế của đối phương. Trò chơi có những ván đấu rất nhanh so với quy mô của nó.

Dĩ nhiên, các quân cờ cho một trò chơi cờ bàn phổ biến như Ehrengarde có nhu cầu rất cao. Giá cả của nó chênh lệch rất lớn tùy thuộc vào chất lượng, nhưng mỗi bộ làm ra sẽ đều có người mua. Với tư cách là người bán, điều này đơn giản hết mức có thể. Mỗi bộ yêu cầu tổng cộng 140 quân cờ, nên tôi chắc chắn không thiếu việc để làm, và tính phân biệt rõ rệt của các phân khúc thị trường mà tôi có thể phục vụ là một sự may mắn tuyệt vời. Suy cho cùng, không có nhiều hàng hóa có thể bán cho cả giới quý tộc lẫn bình dân như nó.

Một bộ các khối gỗ có khắc chữ lên đó thì rẻ như cho, nhưng một bộ tập hợp các quân cờ được thiết kế riêng cho giới quý tộc có thể mang lại một khoản tiền khá hời tùy thuộc vào chất lượng chế tác của nó. Hình như có những bộ tuyệt tác đến mức chúng có thể sánh ngang với giá trị của cả một dinh thự. Tôi đã dành trọn mùa hè năm 11 tuổi của mình để gọt giũa xong một mẻ quân cờ sẵn để dùng làm cơ sở cho khuôn đúc.

"Ta không thể tin được thứ này chỉ mất của cậu đúng một mùa hè."

Sau một nhịp dừng đầy suy tư, bác thợ rèn nói.

"Nếu ta có một học trò như cậu, ta chắc chắn những gã thợ rèn khác sẽ đập đục của họ xuống bàn trong tức tối vì đã không tìm thấy cậu trước."

"Ôi xin bác."

Tôi nói.

"Bác chỉ đang nịnh cháu thôi."

"…Ừm, ừ thì, hãy mừng vì cậu là một đứa trẻ đồng quê đi. Mọi chuyện sẽ trở nên khó khăn đối với những kẻ không biết nhìn nét mặt người khác đấy."

Hả? Là do mình nhạy cảm, hay ông ấy vừa xúc phạm thẳng mặt mình thế nhỉ?

Tôi gạt bỏ lời nhận xét thô lỗ sang một bên khi bác thợ rèn cao đến ngang hông mình nhấc quân hoàng đế lên với một tiếng cằn nhằn. Nó thể hiện một người đàn ông trung niên đang giương cao một lá cờ: hình mẫu chủ đạo là vị hoàng đế anh hùng, người cùng với con trai mình đã đẩy lùi một cuộc xâm lược liên hợp vào Rhine hơn 120 năm trước. Tôi biết rằng người Dvergar rất coi trọng bộ râu của họ, việc bác thợ rèn vuốt râu trong khi đắm đuối nhìn lá cờ đang tung bay trong một làn gió vô hình là một điềm báo tốt.

"Cháu thực sự rất tự hào về quân cờ đó đấy."

Tôi bảo ông ấy.

"Cháu dựa trên bức chân dung của Hắc Kỳ Đại Đế mà cháu từng thấy ở nhà thờ đấy ạ."

"Được đấy, ông ấy là một hoàng đế nổi tiếng mà. Ông ấy với Ngân Vương Tử là một cặp bố con ăn ý đấy, nên ta cá là hai quân hoàng đế và hoàng tử này sẽ bán chạy lắm cho xem."

Mặc dù không phải lúc nào các quân cờ cũng bán được với giá bằng cả một dinh thự, nhưng những quân cờ được chế tác tinh xảo vẫn có thể giao dịch được với những khoản tiền đáng kể. Tôi từng được nghe kể rằng vì nhiều vị khách chọn mua lẻ những quân cờ hợp mắt họ, nên các quân hoàng đế và hoàng tử luôn cực kỳ đắt hàng, đặc biệt là khi chúng khắc họa những vị quân chủ nổi tiếng. Chính vì vậy, tôi đã dành nhiều thời gian và công sức nhất để trau chuốt hai quân cờ đó thành những tác phẩm nghệ thuật thực sự.

Các quân cờ chính có chiều cao bằng một ngón tay trỏ, còn các quân cờ phụ chỉ cao bằng một ngón tay út. Việc đẽo gọt nên những tư thế uy nghi có thể đặt vừa vào phần bệ đỡ ở quảng trường của làng quả là một nỗ lực đầy gian nan.

"Thế nào ạ, bác thấy sao?"

Tôi thận trọng hỏi sau khi thấy người đàn ông đã kiểm tra kỹ từng quân cờ.

"Hừm… Được rồi, tốt lắm."

Ông ấy khoanh tay nói. Với một cái gật đầu dứt khoát, ông ấy chốt hạ hợp đồng và tuyên bố.

"Ta sẽ rèn cho cậu một bộ giáp."

"Cháu cảm ơn bác rất nhiều ạ!!!"

"Ta không nghĩ cậu lại có đủ khả năng để hoàn thành nó, mà cho dù có làm được, ta cứ tưởng nó phải mất ít nhất nửa năm cơ đấy. Làm tốt lắm, nhóc con."

Tôi cất tiếng cười ngượng ngùng. Thật là một cảm giác tuyệt vời khi thành quả lao động của mình được công nhận, và càng tuyệt vời hơn nữa khi tôi có thể đổi nó lấy thứ mình thực sự khao khát.

"Được rồi, lại đây để ta đo đạc nào. Lũ Mensch các cậu vẫn đang phổng phao lên đúng không? Ta sẽ làm một bộ mà cậu có thể tùy chỉnh lại được."

Người đàn ông nhảy xuống khỏi chiếc ghế đẩu ở quầy và dẫn tôi vào phía sau xưởng làm việc của mình, vừa đi vừa đung đưa hai vai để lấy khí thế. Suy nghĩ rằng một tháng làm việc chăm chỉ cuối cùng cũng gặt hái được quả ngọt khiến những sự sung sướng chạy dọc sống lưng tôi.

Tất cả bắt đầu vào mùa hè này, khi tôi tiến gần đến sinh nhật thứ 12 của mình: tôi cần tiền. Một bộ trang bị cùng một vũ khí là tiêu chuẩn tối thiểu đối với một mạo hiểm giả. Thật không may cho tôi, trang bị và vũ khí lại có giá đắt đến mức điên rồ. Nói một cách tổng quát, một bộ giáp xích kết hợp với giáp da cứng bên trong sẽ ngốn hết số tiền mà gia đình tôi chi tiêu để ăn uống trong cả một tháng trời.

Chẳng có cách nào lách được việc này, bởi riêng tiền mua nguyên liệu da và kim loại cần thiết đã rất đắt đỏ rồi. Tôi có thể đang hoạt động dựa trên một hệ thống TRPG, nhưng điều đó không mở rộng đến tài chính của những người xung quanh tôi. Thế giới này không hề nhân từ với các mạo hiểm giả đến mức chỉ cần ngủ ngoài đường vài đêm là có thể mua được cả một bộ giáp. Trong những bối cảnh hoài niệm của những ngày đã qua, nơi toàn bộ vũ trụ được xây dựng xung quanh khái niệm phiêu lưu, vũ khí hoàn toàn nằm trong tầm giá tiền tiêu xài vặt của một đứa trẻ. Nhưng ở đây, một thanh kiếm đồng cùi bắp cũng đã tốn cả một gia tài nhỏ.

Là con trai thứ tư, dĩ nhiên là tôi không có thể ăn xin từng chút tiền thừa. Hơn nữa, gia đình tôi gần đây đã xây một căn nhà nhỏ để chuẩn bị cho đám cưới của anh trai tôi, nên hầu bao của chúng tôi đã cũng không còn nhiều nữa. Với tiền dạm ngõ, phí tổ chức hôn lễ, và một cô dâu chính thức sắp sửa về nhà… không một lượng tình yêu thương nào của bố mẹ có thể bao biện cho việc bòn rút một đồng tiền thừa cho tôi.

Lựa chọn duy nhất tôi có là tự mình kiếm tiền. Tôi không não ngắn như một gã thợ săn nào đó từng mạo hiểm đi sâu vào lòng di tích để tìm kiếm xe tăng, hay đúng hơn là vũ khí nói chung [note109391]. Tôi cũng có thể nhìn thấy trước chi phí nguyên liệu thô sắp tới, nên tôi từ chối lấy các kỹ năng Rèn như một giải pháp tạm thời.

Bên cạnh đó, tôi có một phương tiện kiếm tiền khác. Để đảm bảo một con đường dễ dàng hơn dẫn đến sự độc lập (dù nghe có vẻ không thuyết phục cho lắm khi tôi lại là thốt ra), tôi đã làm các sản phẩm đẽo gỗ cho đến khi kỹ năng Đẽo Gọt Gỗ của tôi đạt đến Thang VII: Bậc Thầy. Tôi còn nhặt thêm một kỹ năng Kỹ Nghệ để cải thiện các chi tiết tinh xảo trên các quân cờ bàn, và khi nó đạt Thang V: Thành Thục, tôi lấy thêm một hiệu ứng đính kèm gọi là Họa Tả Thực Tế để hoàn thiện khả năng kiếm tiền của mình.

Gạt những lời bào chữa vụng về sang một bên, khi tôi lần đầu tiên mang một quân Tốt đến cho bác thợ rèn làm mẫu, ông ấy đã ấn tượng đến mức đề nghị làm cho tôi một bộ giáp để đổi lấy một bộ cờ Ehrengarde hoàn chỉnh. Hy vọng ban đầu của tôi chỉ là ông ấy sẽ mua lại nó từ tôi rồi dùng số tiền kiếm được để đặt rèn giáp, nên điều này đã vượt xa kỳ vọng lớn nhất của tôi. Tôi đã chớp lấy cơ hội mà không cần suy nghĩ.

Phải thừa nhận rằng, quá trình thiết kế và đẽo gọt 25 quân cờ khác nhau là một công việc mệt đứt hơi tai, nhưng suy nghĩ về bộ giáp của riêng mình đã giữ cho tôi làm việc với tốc độ thần tốc. Tôi đã không do dự giảm bớt công việc thủ công hàng ngày của mình và dành toàn bộ thời gian rảnh rỗi để tạo ra những quân cờ này. Vai tôi đã mỏi nhừ, nhưng là do trọng lượng thừa của Margit khi cô bé đu trên lưng để làm tôi chú ý, nhưng cô bé đã đền đáp cho tôi bằng một buổi mát-xa (hoàn toàn lành mạnh, tôi xin nói thêm như vậy), nên chúng tôi coi như hòa nhau.

Trái tim của bất kỳ ai yêu thích thể loại kỳ ảo nào cũng sẽ bùng cháy rực rỡ trước việc sở hữu một bộ giáp cá nhân. Sự nhiệt huyết đó, cộng hưởng với cảm giác bồn chồn rằng tôi chỉ còn khoảng hai năm lẻ vài tháng nữa là sẽ rời khỏi nhà, đã thúc đẩy tôi làm việc với một tốc độ mà tôi chưa từng đạt được trước đây. Và giờ đây, thành quả của tôi đang được công nhận khi tôi đứng yên để được đo đạc kích thước.

"Hừm, cậu sẽ cao thêm một hai cái đầu nữa đấy."

bác thợ rèn nói với một tay cầm thước dây, tay kia đặt lên vai tôi. Tôi đã dồn một lượng điểm kinh nghiệm khá lớn vào sự phát triển trong tương lai của mình, nên vóc dáng tối đa của tôi dự kiến sẽ nằm trong khoảng 180 cm.

"Bác có thể nhìn ra được sao?"

Tôi hỏi.

"Ngày trước, ta từng làm việc với rất nhiều mạo hiểm giả và binh lính khi còn ở lò rèn Innenstadt."

Ông ấy giải thích trong khi vội vã ghi lại các số đo tay và vai của tôi.

"Khi cậu đã chứng kiến vô số đứa nhóc biến thành những gã vạm vỡ như ta từng thấy, chỉ cần nắn nhẹ một cái là đủ biết rồi."

Innenstadt là một thành phố lớn nằm bên một con sông ở phía Tây Konigstuhl. Hàng chục nghìn người coi nơi đó là nhà, và bố tôi thường đến đó để bán buôn nông sản nhằm nộp thuế tiền mặt. Các anh tôi cũng từng đi nhờ xe của một thương đoàn để đến thành phố học nghề, nhưng thật không may, tôi thì chưa từng được đi. Nhưng điều đó khiến tôi thắc mắc: tại sao một người lại rời bỏ một lò rèn ở thành phố lớn để đến cái làng bé tí này?

"Cậu có thể trạng của một kiếm sĩ đấy."

Ông ấy nói. Rồi sau một nhịp dừng ngắn, ông ấy tự hỏi thành tiếng.

"Nhưng có thêm một chút cơ bắp ở một bên lưng và ngực của cậu ở đây… Cái này là do tập cung ngắn hay gì đó à?"

"Chà, bác đoán chuẩn thật đấy."

Tôi không khỏi ngạc nhiên vì ông ấy có thể nhận ra chỉ qua một cú chạm. Kiếm thuật là phương thức chiến đấu chính của tôi, nhưng tôi vẫn đang học cách sử dụng cung từ Margit như một kỹ năng phụ. Bất chấp cuộc gặp gỡ phi thường của tôi với vị pháp sư già, người đã trao cho tôi chiếc nhẫn, tôi vẫn chưa gặp lại đợt bùng phát phép thuật thứ hai, và tôi rất cần một lựa chọn tấn công tầm xa.

Tôi đang ngẫm nghĩ về việc tình cảnh của mình không mấy lý tưởng thì nhớ ra cô bạn thuở nhỏ của mình là một thợ săn. Tôi từng lo rằng cô bé sẽ từ chối vì đó là nghề gia truyền của gia đình, nhưng sự sợ hãi của tôi hóa ra lại vô căn cứ, cô bé đã ngay lập tức chấp nhận lời yêu cầu của tôi. Khi cả hai chúng tôi có thời gian rảnh, cô bé thường hướng dẫn tôi một số bài tập nhẹ nhàng với cung.

Nhờ có Margit, tôi đã mở khóa được các kỹ năng bắn cung cùng một loạt các kỹ năng lén lút và theo dấu khi chúng tôi rình rập trên những vùng núi rậm rạp. Những thứ này sẽ không bao giờ bị lãng phí đối với một mạo hiểm giả luôn phải di chuyển, không đời nào, không bao giờ. Không bao giờ luôn. Tôi tuyệt đối không phải đang tự nhủ điều này chỉ để đánh trống lảng khỏi kho dự trữ kinh nghiệm đang cạn kiệt của mình đâu. Bên cạnh đó, việc luyện tập của tôi là một nguồn thu nhập tuyệt vời, tôi thề đấy.

"Cung à, hừm… Chà, cung nằm ngoài khả năng của ta. Thật tiếc, nhưng ta không thể làm cho cậu một cây cung dù cậu có mang gì đến cho ta đi chăng nữa."

"Thật sao ạ?"

"Ta chỉ được phép làm bất kỳ loại giáp nào không phải giáp tấm, kiếm, và mũi giáo. Cung thì chịu. Chỉ vì ta vận hành lò rèn không có nghĩa là ta có thể làm bất cứ thứ gì mình muốn."

Trong hình dung của tôi, một bác thợ rèn địa phương là một người toàn năng có thể làm đủ thứ từ vũ khí, giáp trụ cho đến cả móc leo núi, nhưng nghề nghiệp ở đây lại có những hạn chế của nó. Trong lúc đo đạc cho tôi, người đàn ông Dvergar giải thích việc ông ấy là thành viên của một công hội thợ thủ công, có thể gọi là một guild, nơi cấp giấy phép cho phép các thợ rèn mở tiệm.

Để ngăn chặn những tiến bộ trong việc nấu luyện hoặc đúc kim loại rò rỉ sang các quốc gia khác, tất cả các xưởng rèn đều bắt buộc phải đăng ký với một công hội thợ thủ công. Họ là những người quyết định ai được phép tạo ra thứ gì. Điều này nghe có vẻ khá nghiêm ngặt, nhưng sự rò rỉ thông tin có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng, nên tôi đoán nó cũng hoàn toàn hợp lý.

Có nghĩa là, các thợ rèn cần có bằng cấp quốc gia… Đột nhiên, những người làm đinh hoặc đai cho xô và thùng gỗ ở các tổng nhỏ trông có vẻ ấn tượng hơn nhiều đối với tôi. Trong một thời gian dài, tôi vẫn coi ông thợ rèn ở đây chỉ là chủ của một cửa hàng bán đinh và dao bếp nào đó. Chắc là tôi vẫn đang tìm kiếm trong vô định một nơi để đặt giáp nếu Ngài Lambert không chỉ tôi đến đây.

"Nhưng bác có thể làm kiếm chứ ạ?"

"Tất cả những thanh kiếm đang đeo trên thắt lưng của lực lượng cảnh vệ đều do chính tay ta rèn ra đấy. Nếu cậu muốn một thanh cho riêng mình, hãy mang đến một bộ nữa giống thế này."

Ông ấy nói và các quân cờ gỗ. Mức giá khiến tôi hơi sốc một chút, nhưng lãnh chúa trong vùng của chúng tôi đã áp đặt mức giá tối thiểu đối với vũ khí chiến đấu vì mục đích an toàn công cộng. Bất cứ khi nào bác thợ rèn làm vũ khí cho ai khác ngoài lãnh chúa, ông ấy đều buộc phải bán nó với một mức giá cắt cổ.

Điều đó hoàn toàn có lý. Việc cho phép tiếp cận vũ khí quá dễ dàng chẳng khác nào gián tiếp mời gọi các băng nhóm thổ phỉ hình thành trong khu vực. Bất chấp bối cảnh kỳ ảo, thế giới này vẫn còn một khoảng cách khá xa so với những khúc ca kỳ ảo mà tôi từng mơ ước. Không chỉ dừng lại ở đó, mỗi một thanh kiếm đều được đánh số sê-ri và có một tờ giấy chứng nhận.

Cái gì thế này, bộ đây là một khẩu súng săn à?

Người thợ rèn Dvergar giảng giải cho tôi bằng cách giải thích rằng việc một công cụ có khả năng kết liễu người khác bị kiểm soát chặt chẽ là điều đương nhiên, và đúng là nó quá rõ ràng đối với một kẻ từng sống ở Nhật Bản hiện đại như tôi.

"Chà."

Ông ấy nói thêm.

"Ta nghe nói đây là nơi duy nhất gắt gao đến mức này đấy."

Sau khi hoàn tất việc đo đạc cho tôi, ông ấy gấp sổ lại và ngồi xuống một chiếc bàn kế hoạch lùn tịt, nơi ông ấy rút ra một tờ giấy sợi mỏng. Đến lúc này tôi đã quen với việc nhìn thấy giấy được đối xử như một loại hàng hóa hàng ngày trong thế giới trung cổ này. Dù vậy, nó lại khá thô ráp và dễ rách, nên việc ghi chép lâu dài vẫn luôn phải sử dụng giấy da.

"Để xem nào, ta đang có một đống đơn đặt hàng đinh với cọc và mấy thứ tương tự…"

Bác thợ rèn gập các ngón tay lại khi đếm các đơn hàng và lẩm bẩm điều gì đó về việc một trong số đó là dành cho chỗ ở mới của anh trai tôi.

"Ừm, ta sẽ hoàn thành nó trước mùa xuân."

Tôi không thể biết liệu nửa năm có phải là khoảng thời gian tiêu chuẩn để hoàn thành một đơn hàng trọn gói hay không. Tôi đã mua không ít bộ âu phục ở kiếp trước, nhưng đây là lần đầu tiên tôi đặt làm giáp (sẽ còn kỳ lạ hơn nếu không phải vậy), nên tôi không chắc phải đánh giá nó thế nào. Ngay từ đầu, việc liệu các quân cờ Ehrengarde của tôi có đủ để trang trải chi phí hay không đã là một điều mơ hồ.

Chà, ở một cái tổng nhỏ nơi ai cũng biết mặt nhau thế này, tôi nghi ngờ việc ông ấy sẽ giở trò bịp bợm với mình. Dvergar, cũng giống như những người họ hàng Dwarf trên bàn cờ TRPG của họ, họ sống rất thọ, khoảng 300 năm. Nếu ông ấy định dành toàn bộ khoảng thời gian đó ở cái làng nhỏ này, thì việc tôi áp dụng một chút phép lịch sự thông thường là hoàn toàn đúng đắn. Không mảy may bộc lộ bất kỳ sự lo lắng nào, tôi cúi đầu và cảm ơn ông ấy.

---

[Mẹo] Người Dvergar nổi tiếng với thân hình thấp bé, với chiều cao không bằng một nửa của một người thuộc chủng Mensch bình thường. Họ là một chủng tộc sở hữu bộ xương bằng sắt và dòng máu đỏ sôi sục. Đến từ những vùng núi giàu quặng, họ được ban phước với sức mạnh phi thường, khả năng kháng nhiệt và thị lực tuyệt vời trong bóng tối. Dvergar nam có vóc dáng vạm vỡ với chòm râu ấn tượng, còn phụ nữ thì nảy nở dù sở hữu gương mặt trẻ thơ. Dù thế nào đi nữa, họ rất dễ được nhận ra.

---

Trong những ngày tiếp theo sau sự việc tại lò rèn, tôi bắt đầu bước vào chuỗi công việc chuẩn bị cho mùa thu hoạch. Tôi lau sạch lớp dầu bảo quản trên liềm và cuốc, đánh bóng chúng thật kỹ rồi mài sắc các lưỡi dao trên đá mài. Điều này giúp việc gặt lúa mạch đen và yến mạch của chúng tôi trở nên dễ dàng hơn.

Đối mặt với ánh sáng tàn nhẫn lóe lên từ những công cụ đã được mài sắc, các chi tiết đằng sau đơn đặt hàng giáp của tôi lại trồi lên. Rốt cuộc, tôi đã dành quá nhiều thời gian để cố gắng mò mẫm xem mình thực sự muốn gì, vậy mà vẫn chưa có gì cụ thể.

Các kỹ năng Đức Tin vẫn nghe hơi ghê như mọi khi, nên tôi vẫn không muốn lấy chúng. Tôi chưa có những cuộc chạm trán dành cho phép thuật, và để thực tế hơn, chẳng có lý do gì để trông chờ vào một trải nghiệm đổi đời trước khi tôi trưởng thành. Những con đường mạo hiểm giả duy nhất khả thi với tôi chỉ là trở thành Kiếm Sĩ hoặc Trinh Sát, và việc kiêm nhiệm cả hai trong thế giới này cũng chẳng phải điều gì quá khó khăn.

Các Trinh Sát trong các trò TRPG thường là những nhân vật nhỏ nhắn, nhanh nhẹn (chính xác như Margit) với điểm yếu nằm ở chỉ số giáp mỏng như tờ giấy và sức tấn công thấp. Tuy nhiên, kho điểm kinh nghiệm của tôi cùng việc thiếu đi một rào cản ngăn cấm những gì tôi có thể làm khiến việc trau chuốt cả hai bộ kỹ năng theo ý muốn trở nên vô cùng đơn giản. Nếu tôi giữ cho tải trọng trang bị của mình nhẹ đi, tôi có thể đảm nhận cả hai vai trò cùng một lúc.

Cân nhắc tất cả những điều này, kế hoạch dự phòng mới của tôi là nâng cao kỹ năng kiếm thuật trong khi vẫn để lại một khoảng trống để chuyển đổi thành một ma kiếm sĩ [note109392] hoặc thánh kiếm sĩ [note109393] trong tương lai.

Kế hoạch này chính là lý do tại sao tôi dành nhiều thời gian và công sức đến vậy cho những quân cờ gỗ mà tôi đã trao đổi với bác thợ rèn. Xung phong ở tuyến đầu với chỉ số giáp [note109394] thấp lè tè thì thật là xấu hổ. Việc cố gắng chiêu mộ các thành viên trong tổ đội với tư cách là một ‘Kiếm Sĩ’ được trang bị một cái gậy và quần áo thô sơ chắc chắn sẽ thất bại, và hị vọng gia nhập một tổ đội nào đó của bạn cũng chẳng khá hơn là bao.

Nhận thấy chiến lược này là cơ hội thành công thực tế nhất của mình, bộ giáp chính là bước đi thực sự đầu tiên của tôi hướng tới việc định hình tương lai. Việc thuần thục kiếm và giáo chắc chắn sẽ là một lợi thế ở bất cứ nơi nào tôi đến, vì tự vệ là điều luôn luôn cần thiết.

Nếu tôi may mắn học được phép thuật, hoặc nếu tôi cuối cùng cũng quyết định ‘cắn răng’ nhúng tay vào tôn giáo, tôi luôn có thời gian để lồng ghép nó vào bộ kỹ năng hiện tại của mình. Nếu không, tôi vẫn có thể tiếp tục bước đi trên con đường của lưỡi kiếm. May mắn thay, trường phái chiến đấu mà tôi theo học không phân biệt đối xử các loại binh khí, nó cho phép tôi tự do sử dụng bất kỳ loại vũ khí nào phù hợp nhất.

…Điều đó có nghĩa là về cơ bản chẳng có gì thực sự thay đổi cả. Tôi chẳng thể làm gì khác với chuyện đó, vì kế hoạch này chỉ là dự phòng… rốt cuộc thì, tôi vẫn muốn dùng phép thuật nếu có thể chứ. Có người đàn ông nào lại không khao khát hạ gục kẻ thù trong khi thi triển những đòn phép thuật mãn nhãn, để rồi rời khỏi trận chiến và dùng tài năng của mình trong hàng loạt tình huống đời thường cơ chứ? Tôi khẳng định là không.

Tôi nhìn thấy những giấc mơ tương lai của mình lóe sáng cùng với chiếc liềm vừa được mài sắc và bật cười ngu ngơ. Tôi muốn mình trở nên sắc bén như lưỡi dao có lớp thép phản chiếu hoàn hảo khuôn mặt mình này. Nhưng hiện tại, tôi đã đánh bóng xong các trang bị của gia đình và chuẩn bị chuyển sang chăm sóc cho Holter. Chúng tôi không bao giờ hết thứ để chở trong mùa thu hoạch, và con ngựa kéo của chúng tôi sẽ sớm bận rộn như chính chúng tôi vậy.

Tôi dọn dẹp lại cái lán và đi về phía chuồng ngựa thì cảm nhận được một sự hiện diện nhảy ra khỏi nhà và bắt đầu bám theo mình.

"Anh ơi! Anh ơi!"

Mọi thứ lon ton đi theo sau tôi đều đáng yêu, và điều đó đặc biệt đúng với em gái tôi.

"Chào Elisa. Có chuyện gì thế?"

Elisa lao về phía tôi rồi bám chặt lấy thắt lưng tôi. Dù đã sáu tuổi, cô em gái bé nhỏ yêu quý của tôi mới chỉ vừa bắt đầu dám bước ra ngoài nhà. Thể trạng yếu ớt của em ấy vẫn không khá hơn là bao kể từ trận sốt kinh hoàng đầu tiên suýt chút nữa đã cướp đi tính mạng của em ấy. Có lẽ vì lý do đó mà sự phát triển của em ấy bị chững lại và sức ăn thì rất kém. Nếu chỉ nhìn qua diện mạo, người ta sẽ đoán bé không quá bốn tuổi. Điều đó cũng chẳng có gì đáng kinh ngạc, khi cân nhắc việc cô bé còn chưa từng đi qua trọn vẹn một mùa mà không bị cảm lạnh và luôn phải nằm bệt giường suốt cả mùa đông.

Việc em ấy giờ đây có thể bước ra ngoài vào những ngày ấm áp như hôm nay không khác gì một phép màu. Mặc dù trông như một phiên bản thu nhỏ của mẹ tôi, cô bé thực sự vô cùng mỏng manh.

Đừng bao giờ coi thường bệnh cảm lạnh thông thường.

Trong một thế giới không có kháng sinh, bác sĩ và trị liệu sư (loại sau là một dạng pháp sư hoặc linh mục) có giá đắt đến mức cắt cổ. Những đứa trẻ mỏng manh chết vì những bệnh tật đơn giản diễn ra như cơm bữa: tôi đã từng chứng kiến những đứa trẻ chập chọe chưa biết đi qua đời ngay tại cái tổng này. Mỗi năm, chúng tôi đều thấy cảm lạnh lấy đi mạng sống của một vài đứa trẻ yếu ớt, và ngay cả người lớn cũng không an toàn nếu họ gặp phải bất kỳ biến chứng nào.

Một tờ giấy chứng nhận sức khỏe tốt là một tài sản có giá trị không thể đong đếm nếu so với mức giá của nó ở Trái Đất hiện đại. Những ai không có được gia tài đó phải trả giá bằng tiền mặt nếu muốn nhìn thấy ánh mặt trời của ngày mai.

May mắn thay, tôi đã cung cấp cho gia đình một nguồn thu nhập phụ. Khi có thương đoàn ghé qua trấn, chúng tôi sẽ bán các sản phẩm của tôi cho họ, còn không thì bố tôi sẽ đi sang thành phố gần nhất để đổi các tượng gỗ của tôi lấy thuốc. Khi tôi thực sự dồn hết tâm huyết vào một bức điêu khắc, đôi khi đức giám mục thậm chí còn thi triển phép màu lên em gái tôi như một lời cảm ơn cho một khoản ‘quyên góp’ hậu hĩnh. Có một lần, tôi đã sửa lại một bộ bánh xe và trục xe mới cho một chiếc xe kéo bị hỏng đẻ kiếm về một khoản tiền hời đúng lúc Elisa bị viêm phổi. Thời điểm không thể tốt hơn, và chúng tôi đã lập tức dùng số tiền đó để đưa bé đến gặp trị liệu sư.

Chúng tôi vốn đã khá giả hơn hầu hết nông dân, nên những đóng góp thêm của tôi là đủ để bảo vệ mạng sống của một cô bé mà bình thường đáng lẽ đã qua đời từ nhiều năm trước. Mọi người trong gia đình đều làm việc chăm chỉ để chăm sóc cho phép màu nhỏ bé của chúng tôi, để cô bé có thể tự đứng trên đôi chân của mình.

Thế nhưng, vì một lý do vô cùng khó hiểu nào đó, bố mẹ tôi lại liên tục biến tôi, và chỉ riêng tôi, thành một người hùng. Bất cứ khi nào Elisa xị mặt từ chối uống liều thuốc đắng ngắt, họ sẽ nói.

"Anh trai con đã làm hết sức để kiếm thứ này về cho con đấy, nên con hãy cố gắng uống hết đi nhé."

Vào một thời điểm nào đó, tôi đã trở thành một tấm gương đối với cô bé, đó là lý do tại sao giờ đây em ấy cứ đi theo tôi như một con vịt con.

Thực ra tôi chẳng phải là ai đó quá đặc biệt, nhưng tôi không nỡ lòng làm sụp đổ hình ảnh người anh trai lý tưởng trong mắt cô bé. Tôi trưng ra nụ cười người anh tốt nhất của mình rồi quỳ xuống xoa đầu bé.

"Mẹ không chịu chơi với em! Mẹ lại đang làm mấy thứ kim chỉ nữa rồi."

Cái cách cô bé hờn dỗi phồng má hếch mũi đáng yêu đến mức một nụ cười tự nhiên hé mở trên mặt tôi.

"Ấy chà, nhưng em biết đấy, sắp đến đám cưới của anh Heinz rồi. Mẹ chắc hẳn phải bận rộn lắm."

Khi tôi sang tuổi 12, anh cả của tôi cũng bước sang tuổi 15 vào mùa thu này, đưa anh ấy vào độ tuổi có thể kết hôn. Chúng tôi đã hoàn thành việc dựng một căn nhà nhỏ (dù nói thật thì nó hơi to một tí để được gọi là một căn nhà nhỏ) cho anh ấy và vợ mình. Họ dự kiến sẽ tổ chức lễ cưới song song với hai cặp đôi khác trong lễ hội thu hoạch vào muộn thu.

Ở Konigstuhl, hay đúng hơn là ở Đế chế Rhine, các lễ cưới luôn được tổ chức vào mùa thu. Nữ Thần Thu Hoạch không chỉ cai quản đời sống thực vật và các chu kỳ tự nhiên, mà Người còn là đấng cai quản tối cao của hôn nhân. Giống như những cây trồng bội thu là kết quả của sự sinh sôi nảy nở, niềm tin cho rằng con người chúng ta cũng nên làm điều tương tự, kết hôn vào mùa thu khi quyền năng của Người đạt đến đỉnh cao.

Hơn nữa, đám cưới là một sự kiện trọng đại ở một ngôi làng nhỏ như của chúng tôi. Sẽ là một phiền phức lớn nếu tổ chức nhiều hơn một đám cưới, và chúng tôi chắc chắn có những lý do thực tế để gộp tất cả các nghi lễ với lễ hội thu hoạch, khi mà tiền bạc cũng đang lưu thông khắp tổng. Hơn thế nữa, đức giám mục sẽ tặng cho các cặp vợ chồng mới cưới một khoản tiền, dù thuế hôn nhân (thứ khiến bộ não người Trái Đất của tôi quằn quại trong đau đớn) về cơ bản đã triệt tiêu món quà này, cho phép tổ chức các cuộc ăn mừng lớn hơn nữa. Chúng tôi chẳng có lý do gì để không làm theo cách này.

Sự kiện lớn đang hiển hiện ở phía trước khiến gia đình chúng tôi rơi vào cảnh hỗn loạn trong chặng cuối cùng. Đầu tiên và quan trọng nhất, chúng tôi cần quần áo. May mắn thay, các gia đình khác là những người sẽ xử lý phần cầu kỳ nhất là trang phục cô dâu, nhưng chúng tôi vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Việc sử dụng lại lễ phục cũ sẽ khiến vị thế của gia đình bị giảm sút, nên cuộc hôn nhân của người con trai đầu lòng luôn mang lại sự hỗn loạn cho người mẹ. Tuy nhiên, những người con trai thứ hai trở đi thường mặc lại cùng một bộ lễ phục với một vài chỉnh sửa nhỏ để phù hợp với chiều cao.

Bên cạnh bộ trang phục của Heinz, lũ trẻ chúng tôi cũng cần có đồ để mặc với tư cách là quan khách tham dự. Đồ của chúng tôi không cần phải cầu kỳ như chiếc áo chẽn mà chú rể sắp mặc, nhưng những bộ quần áo mới hoặc các đường thêu bổ sung là điều bắt buộc. Điều này nhiều khả năng cũng là kết quả của một loại chính trị xã hội nào đó trong tổng mà tôi không được biết do tuổi tác của mình. Ngay cả khi còn là một đứa trẻ, tôi vẫn có thể nhận ra phần nào: thứ tự chỗ ngồi ở nhà thờ và thứ tự chúng tôi chào hỏi quan trị sự đều phản ánh vị thế của chúng tôi trong xã hội.

"Đám cưới là gì hả anh?"

Elisa hỏi.

"Ừm, đám cưới là một dịp rất vui vẻ."

Tôi giải thích. Đối với một cô bé rồi một ngày nào đó cũng sẽ được gả đi làm dâu, và đối với một đứa con trai thứ tư vốn mang số mệnh phải rời bỏ mái nhà của mình, không có điều nào trong số này thực sự liên quan đến chúng tôi.

"Ở đó có rất nhiều đồ ăn ngon. Elisa, em có nhớ những cô dâu xinh đẹp khi em đến lễ hội thu hoạch lần trước không?"

"Những chiếc váy màu trắng?"

"Đúng rồi. Những cô dâu với chiếc váy màu trắng rất đẹp."

Thật kỳ lạ, thế giới này cũng có lịch sử văn hóa tổ chức các lễ cưới với những chiếc váy cưới màu trắng. Điểm khác biệt duy nhất là (bất chấp lời ban phước và sự hướng dẫn của đức giám mục trong suốt buổi lễ) hôn nhân không được coi là một giao ước thần thánh: đó là một hợp đồng dân sự được nộp lên cho quan trị sự. Sự pha trộn giữa các yếu tố La Mã cổ đại và Châu Âu thời Trung cổ xoáy vào nhau tạo nên một nền văn hóa hết sức kỳ lạ.

Điều kỳ lạ hơn nữa là thời trang nữ giới mang những ảnh hưởng rõ rệt của phong cách Victorian và Art Deco thẳng từ nước Anh đầu thế kỷ XX, nhưng cũng chứa đựng cả những trang phục chần bông cổ đại và thậm chí còn lấy từ các thiết kế của Viễn Đông truyền thống. Có quá nhiều phong cách khác nhau đan xen đến mức toàn bộ mọi thứ như đang rơi vào trạng thái hỗn loạn.

Tôi đã nghi ngờ điều này được một thời gian, nhưng hẳn là thi thoảng lại có những người giống như tôi xuất hiện. Thời trang ở đây trải dài từ thời tiền sử của Trái Đất cho đến thế kỷ XX, và có một nắm các quy trình đã được hiện đại hóa, như việc làm giấy và mô hình chính quyền được cấu trúc tốt một cách đáng nghi… Càng tìm hiểu nhiều về quê hương mới này, tôi càng chắc chắn rằng sự kết hợp dị hợm giữa văn hóa cổ đại và hiện đại này hẳn phải là kết quả của sự ảnh hưởng từ bên ngoài.

Dĩ nhiên, tôi không nói rằng có điều gì không ổn với điều đó. Là một thằng đàn ông, việc nhìn thấy phụ nữ khoác lên mình bộ sưu tập các đồ trang trí đầy màu sắc chắc chắn là mãn nhãn hơn những bộ quần áo thô sơ không màu sắc (phẩm nhuộm đắt lắm!) mà tất cả chúng tôi đều mặc khi làm việc.

"…Em cũng muốn nữa."

Elisa nói.

"Em muốn mặc váy cưới sao?"

"Ừm hứm."

Tôi đoán là cũng dễ hiểu khi một cô bé cảm thấy thích mê một chiếc váy lộng lẫy. Ngay cả ở một cái tổng tiết kiệm như của chúng tôi, hầu như ai cũng diện đồ đẹp trong mùa này. Tôi chắc chắn rằng những đường xếp nhún bồng bềnh và ren hoa đã chạm đúng vào sở thích của cô bé.

"Nhưng Elisa này, em làm gì có ai để kết hôn đâu."

"Ừm, vậy thì với anh."

"Hả?"

"Em sẽ làm đám cưới với anh."

Ôi chao, em ấy nói những điều đáng yêu quá đi mất.

Là con út trong kiếp trước, tôi chưa bao giờ biết cảm giác chiều chuộng một đứa em nhỏ là như thế nào, nhưng… thứ này gây nghiện thật đấy. Tôi có thể hiểu tại sao một số người lại khẳng định rằng tất cả các người anh trai đều có một giai đoạn nuông chiều em gái vô điều kiện.

"Ha ha ha, em sẽ làm cô dâu của anh sao, Elisa?"

"Ừm hứm."

Tôi có thể nhận ra Elisa không thực sự hiểu rõ chuyện này, nên tôi bế cô bé lên và đặt cô bé lên bờ vai đang dần rộng ra của mình. Khí trời đầu mùa thu vẫn còn nóng, và tôi không muốn em ấy ở ngoài nắng quá lâu. Rõ ràng là cô bé rất dễ bị cảm lạnh vào mùa đông, nhưng cô bé cũng rất yếu trước sức nóng, nên tôi phải cẩn thận.

"Thế sao? Vậy thì chúng ta sẽ phải xin mẹ một chiếc váy thật đẹp rồi."

"Ừm."

Cô bé gật đầu một cái.

Tôi đã thấy mẹ tôi thoăn thoắt khâu vá đồ cho những người đàn ông trong nhà, và bà sẽ càng có thêm động lực đối với cô con gái út của mình. Dù sao thì, chúng tôi luôn có thể đi vào trấn để bán chiếc váy sau khi dùng xong, nên chẳng phải cắt giảm chi tiết làm gì. Suy cho cùng thì tất cả chúng tôi ở nhà đều yêu thương Elisa. Tôi chắc chắn cô bé sẽ xinh đẹp không kém gì chính cô dâu.

Một phần lý trí trong bộ não tôi nhìn cái tính sis-con ngu ngốc của mình và tự hỏi liệu tôi có được phép mong chờ chiếc váy của bé nhiều như vậy không.

Chà, nó làm mình hạnh phúc, nên mình đoán là hoàn toàn hợp lệ thôi.

---

[Mẹo] Luật gia đình tại Đế chế Tam quyền Rhine nằm trong số những luật cơ bản nhất. Trong đó, người thuộc chủng Mensch bị cấm kết hôn với bà con thân thích của mình, tức là bất kỳ người họ hàng nào trong phạm vi đời thứ hai hoặc gần hơn.

Bạn đã đến cuối chương 17.

Không gian đọc của bạn