Tôi không muốn chạm mặt Iris, nên ngay cả khi đã tới Học viện, tôi vẫn vòng qua khu nhà chính như thể cố tình tránh né nó. Một phần cũng vì chẳng muốn đi qua những nơi dễ khơi lại ký ức về Giselle.
Thong thả bước dưới mái vòm của hành lang khu thực hành. Từ sân luyện võ phía xa, tiếng kiếm gỗ va vào nhau vọng qua lan can, kéo theo cả ký ức về những ngày tôi luyện đến phồng rộp hai tay.
Có thể toàn tâm toàn ý vào một thứ gì đó vốn là chuyện tốt. Thành quả chẳng đáng là bao mà ngày ấy tôi vẫn cố đến thế, chắc cũng vì trước mắt còn có một mục tiêu để hướng tới.
Hôm nay tôi vẫn đeo kiếm bên hông như mọi khi. Chỉ tiếc giờ đến vung cho ra hồn còn khó, nó gần như đã trở thành một món trang sức.
Tôi cũng chẳng có hứng xuống sân luyện võ đổ mồ hôi làm nóng người.
“Loại như mày mà cũng mong tao gọi là anh à?”
“…Cút đi. Mày chẳng thể làm gì cho tao…”
Không cần nhìn cũng biết ở đó kiểu gì chẳng có cái bản mặt khiến tôi khó chịu nhất đang nghênh ngang qua lại.
Tôi cứ thế đi tiếp, tìm một chỗ khác cho tới khi tiếng kiếm gỗ phía sau dần chìm hẳn. Chẳng bao lâu sau, bước chân đưa tôi vào một tòa giảng đường nhỏ nối liền với khu nhà chính.
Nơi này yên tĩnh đến mức chỉ còn tiếng phấn lách cách trên bảng và giọng giảng bài đều đều của giáo viên.
Hồi cuộc đời còn đỡ nát hơn bây giờ, tôi chưa đến mức học sinh xuất sắc nhưng cũng chẳng bị gọi là đội sổ. Thậm chí có một thời gian, điểm lý thuyết của tôi còn khá tốt.
Nhưng sau chiến tranh thì tất cả đã khác. Trở lại Học viện, chữ nghĩa có nhồi thế nào cũng chẳng chịu chui vào đầu, nên tôi đã buông sạch.
Các lớp ở khu này vốn ít người. Toàn những môn tự chọn chẳng mấy ai quan tâm tụ cả về một chỗ, nên tôi ngó qua vài cánh cửa đang mở rồi chọn lớp có vẻ vắng nhất.
Trong căn phòng gần như trống không chỉ có hai học viên. Một người trong số đó còn đang gật gù vì không thắng nổi cơn buồn ngủ.
Tôi đại khái gật đầu chào người đứng trên bục rồi ngồi xuống hàng cuối.
Giáo viên là một nữ tu trẻ, cùng lắm cũng chỉ trạc tuổi tôi.
Chiều cao thì… nếu kiễng chân lên, chắc đầu cô ấy mới tới được ngực tôi.
Dưới lớp chỉ có đúng một người ở hàng đầu còn nghiêm túc cắm cúi ghi chép, vậy mà cô vẫn giảng hăng say như đang diễn thuyết trước một đại giảng đường kín chỗ. Trái với những động tác luôn tay luôn chân ấy, giọng nói lại mềm và êm, nghe khá dễ chịu.
Ra là Thần Thánh học. Bảo sao chẳng có ai học.
Tôn giáo ở Đế quốc đã mất đi hào quang từ lâu. Ma pháp phát triển quá nhanh, nhanh đến mức người ta chẳng còn bao nhiêu lý do để bấu víu vào đức tin nữa.
Khá giống việc kỹ thuật ở thế giới hiện đại dần chiếm lấy vị trí từng thuộc về tôn giáo, chỉ khác là quá trình ở đây diễn ra nhanh hơn đến mức chẳng thể đem ra so sánh.
Đức tin đòi hỏi hiến dâng cả vật chất lẫn tinh thần. Tu hành là cuộc vật lộn với chính mình, còn người bước vào hàng giáo sĩ thì phải liên tục thử thách lòng nhẫn nại.
Không có phần thưởng tức thời nào ra hồn. Muốn sử dụng được thứ gọi là “chúc phúc”, người ta phải dốc cả bản thân cho một vị thần vô hình và một thế giới bên kia còn chẳng biết có tồn tại thật hay không.
Hiệu quả của chúc phúc tạm gác sang một bên, chỉ riêng ngưỡng cửa ấy cũng đủ khiến Thần Thánh học bây giờ trở thành thứ khó mà tiếp cận chỉ vì tò mò.
Ma pháp thì ngược lại: Tiện, đẹp mắt, lại dễ dùng.
Chỉ cần có mạch ma pháp, gần như ai cũng có thể học.
Trong đời sống hàng ngày cũng đầy chỗ dùng tới nó. Xòe tay là phun được lửa, nhắm mắt lẩm nhẩm vài câu là có thể kéo sét từ bầu trời không một gợn mây xuống… bảo sao người ta không mê cho được.
Tôi không dùng được ma pháp, nhưng vẫn thích nó. Bao nhiêu tiện nghi tôi được hưởng cũng nhờ nó cả.
Chẳng hạn như chuyện rót bia lạnh hơn cả nước đá vào một chiếc cốc đã được ướp đông. Chỉ riêng phát minh ấy thôi cũng đủ để tôi dành cho ma pháp chút thiện cảm.
Nhờ Học viện, con cháu quý tộc nào muốn học cũng có thể theo một chương trình bài bản, được chỉ dạy từ đầu tới cuối. Ngưỡng vào thấp đến đáng thương.
Mà kể cả không học chuyên ngành ma pháp, sách liên quan cũng đầy đường. Hôm trước tôi còn thấy hai đứa trẻ chừng tám tuổi dùng gió giữ một quả bóng lơ lửng trên không rồi chuyền qua chuyền lại cho nhau.
Ngay cả nữ tu đang đứng trên bục kia cũng là người từ một giáo quốc nhỏ ở rìa lục địa, đơn độc tới Đế quốc truyền giáo mà chẳng có lấy một giáo sĩ đồng hành.
Nghe đồn vì vướng quan hệ ngoại giao nên Học viện không tiện đuổi, đành nhét cho cô một vị trí giáo viên còn trống. Một điều mà bản thân nữ tu đang say sưa đọc Kinh Thánh kia chắc nằm mơ cũng chẳng biết.
Có lẽ hiệu quả lưng chừng của chúc phúc cũng góp phần khiến tôn giáo thất thế.
Chúc phúc hồi phục à?
Mở sách, làm theo công thức, ném nguyên liệu mua ngoài chợ vào bình rồi khuấy đại một hồi là ra thuốc chữa thương. Tiện hơn nhiều so với để một giáo sĩ làng nhàng ôm lấy mà cầu nguyện cả ngày.
Nếu ngay cả thế còn thấy phiền, cứ bước vào một cửa hàng tạp hóa bất kỳ rồi mua thành phẩm là xong.
À, nghe bảo chúc phúc còn giúp giảm mệt mỏi, thứ thuốc bình thường không làm được, kiểu như xoa bóp chắc?
Dù sao ma pháp hay chúc phúc cũng không thể phục hồi những bộ phận cơ thể đã mất vĩnh viễn.
Nói cách khác, chẳng có cách nào lấy lại mắt và cánh tay của tôi.
Còn chúc phúc trừ tà?
Nếu trên đời thật sự có ma, tôi cũng muốn biến thành một con để đêm nào cũng mò về ám lũ khốn nhà Magnolia cho tới khi cả đám tự sát sạch.
Nhưng đáng tiếc là thế giới kỳ ảo này cũng chẳng có ma quỷ kiểu ấy.
Tôi từng xem một buổi trừ tà tổ chức giữa bãi đất trống. Nói cho cùng cũng chỉ là một màn diễn để kéo tín đồ.
Tóm lại, tôn giáo đã bị Đế quốc vứt bỏ.
Nghĩ đến đây, tôi thậm chí còn thấy đồng bệnh tương lân. Có điều nữ tu kia trông hoạt bát hơn tôi nhiều.
Tháo thanh kiếm bên hông, đặt lên chiếc ghế trống cạnh mình rồi gục mặt xuống bàn. Giữa tiếng giảng bài đầy nhiệt huyết của cô, mí mắt tôi chậm rãi khép lại.
…
Chỉ chợp mắt một lúc mà cũng gặp ác mộng, xem ra lượng rượu vẫn chưa đủ.
Mí mắt nặng trĩu như bị bóng đè không tài nào mở nổi. Cả cơ thể cứng đờ như đá, còn nơi cánh tay và con mắt đã mất thì nóng rẫy như đang bị thiêu sống.
Ác mộng của tôi phong phú lắm.
Con chó bị treo cổ, những lời nhục mạ nghe mãi trong gia tộc, chiếc nhẫn Giselle ném đi.
Đương nhiên, chiến tranh thì càng không thiếu.
Đồng đội nằm vương vãi dưới đất như những cái bao tải. Tiếng gầm thét từ mấy khẩu đại pháo khốn kiếp. Những thi thể bị ma pháp xé thành từng mảng thịt, cùng máu bắn lên che kín tầm mắt mỗi lần lưỡi kiếm rạch qua da thịt.
Nhưng vị khách hôm nay lại là cái đầu của một tên địch từng bị tôi giết.
Một mảnh ác mộng tưởng đã bị chôn sâu rồi lấp đất lên kín mít, vậy mà thỉnh thoảng vẫn chẳng thèm báo trước đã tự tiện mò về.
Đáng lẽ đừng làm chuyện khác thường, cứ ngoan ngoãn chui về nhà nằm lì có phải hơn không.
Cái đầu ấy sắp mở miệng.
Vết chém năm đó không ngọt, tôi phải bổ xuống liên tiếp mấy lần mới cắt được, thành ra mặt cắt ở cổ nham nhở đến ghê người.
Rồi đôi môi sẽ tách ra, để lộ hàm răng bê bết máu va vào nhau lách cách, khe khẽ đọc một bài cầu nguyện.
Tôi muốn bịt tai, nhưng thiếu mất một bàn tay. Mà kể cả có đủ, cơ thể này cũng chẳng nhúc nhích nổi.
Trong cảnh tượng đang nhìn thấy bằng đôi mắt đã nhắm, tôi chỉ mong mình có thể nhắm mắt thêm một lần nữa.
Miệng của cái đầu từ từ há ra, rộng như một cái hang muốn nuốt trọn tôi.
Tôi không muốn nghe. Không muốn nhìn. Sợ. Đáng sợ quá.
Giselle, Iris… ai cũng được. Làm ơn kéo tôi ra khỏi đây.
“A…”
Thế nhưng chờ mãi, bài cầu nguyện vẫn không vang lên.
Thay vào đó là một giọng hát mảnh như tiếng chim.
Không lời, chỉ có tiếng ngân nga trong trẻo và dễ nghe.
Bóng tối quanh tôi dần được nhuộm sáng, từng chút một, như bầu trời lúc rạng đông đang chậm rãi đón lấy mặt trời.
…
Thông thường, mỗi lần thoát khỏi ác mộng tôi đều bật dậy trong tiếng hét. Cảm giác rơi thẳng xuống vực ngay khoảnh khắc mở mắt sẽ luôn kéo theo một cơn hoảng loạn.
Bởi vậy, tỉnh dậy với mái tóc rối bù và đầu óc khoan khoái như vừa ngủ được một giấc ngon thế này là chuyện cực hiếm.
“À, tỉnh rồi.”
Tiếng hát là của nữ tu đang chống tay lên bậu cửa sổ trước mặt tôi.
Nắng chiều xuyên qua khung cửa rồi vỡ thành từng mảng, che khuất phần lớn gương mặt cô. Tôi chỉ nhận ra nhờ bộ tu phục đen như gỗ mun và chiếc dây chuyền bắt sáng lấp lánh trước ngực.
“Đồ sâu ngủ.”
Giọng nói đẹp như tiếng hát kia hẳn đang gọi tôi.
Dưới ánh nắng, đôi mắt xanh của cô vẫn chẳng nhạt đi chút nào, cứ thế nhìn thẳng vào tôi.
Tôi cúi đầum gỡ sợi tóc dính trên má rồi đảo mắt quanh lớp. Hai học viên còn lại đã biến mất từ lúc nào. Nhìn màu nắng phủ trong phòng, có lẽ tôi đã ngủ ít nhất ba bốn tiếng.
“Lớp của tôi chán đến thế sao?”
Cô rời khỏi bậu cửa. Gió lùa qua lớp học, làm mái tóc nâu lay nhẹ quanh gương mặt.
“Bình thường tôi khó ngủ lắm.”
Nghe lời biện hộ ấy, nữ tu khúc khích cười. Cô đưa tay gỡ nốt một sợi tóc còn dính trên mặt tôi rồi thổi nhẹ, để nó bay ra ngoài cửa sổ.
“Thấy anh ngủ ngon lắm mà. Còn chảy cả nước dãi nữa.”
“…Tôi không có đức tin.”
“Ra là một kẻ bất kính.”
Miệng gọi tôi như vậy mà nụ cười trên mặt cô chẳng hề tắt.
Ánh mắt ấy dừng ở ống tay áo trống rỗng của tôi. Không những không tránh đi, cô ấy còn nhìn một cách đầy tò mò, chống cằm suy nghĩ rồi lần lượt quan sát con mắt và cánh tay đã mất.
Tôi chịu không nổi ánh nhìn ấy, miệng lưỡi cũng lập tức mọc gai.
“Thấy một thằng tàn phế nên thương hại à?”
“Vâng.”
…Hả?
Có phải mình nghe nhầm không? Cô ấy vừa đáp gọn lỏn thế à?
“Cô vừa nói gì cơ…?”
“Anh hỏi tôi có thương hại vì anh là người tàn phế không, nên tôi bảo có!”
“À. Ra vậy. Cô lấy giúp tôi thanh kiếm đằng kia được không?”
À mà thôi, nữ tu quý hiếm duy nhất của Học viện mà còn bắt chạy việc thì thất lễ quá.
Tôi tự với tay nắm lấy chuôi kiếm, đang nghiêm túc cân nhắc xem đánh vào đâu thì cô sẽ bớt đau nhất.
Nhưng trước khi kịp hành động, một ống tay áo trắng đã lướt qua trước mặt, những ngón tay thanh mảnh không chút do dự chạm lên vết sẹo nơi khóe mắt tôi.
“Thương xót người yếu thế vốn là chuyện đương nhiên mà.”
Nữ tu nói vậy, đầu ngón tay chậm rãi vuốt dọc theo đường sẹo chạy thẳng trên da. Gương mặt ấy dịu dàng và ấm áp đến mức chẳng có nổi một chút giả tạo.
Tôi đã quá quen với việc bị coi là kẻ yếu, cũng từng nhận đủ thứ thương hại miễn cưỡng chỉ vì hai chữ người nhà.
Nhưng thứ hơi ấm đang tiến lại gần, bình thản coi lòng thương xót như một bổn phận hiển nhiên, lại là điều tôi chưa từng được trải qua.
“Chắc đau lắm nhỉ.”
Tôi hận việc người khác coi nỗi đau của tôi như một thứ để ngắm nghía.
Tôi ghét những kẻ chẳng biết gì mà vẫn làm bộ hiểu hết, tự tiện bước vào khoảng cách của tôi.
Tôi căm cả những tiếng xì xào nổi lên bốn phía mỗi khi tôi đi qua.
“Ơ? Mà sao anh lại cầm kiếm thế?”
“…Không cầm thì thấy bất an. Đây là thanh kiếm yêu thích của tôi đấy.”
Vậy mà tôi lại không thể gạt bàn tay vẫn còn đặt trên mặt mình ra.
Rượu thì còn hiểu được, chứ mình đâu đến mức khát tình thương như vậy.
Chỉ là… tôi bỗng mong hơi ấm ấy đừng rời đi quá sớm.
“Anh tên gì?”
“…Cô không biết tôi à?”
“Anh nổi tiếng lắm sao?”
Gì đây, cô ấy vậy mà không biết tôi là ai? Người ta còn hay nói tôi là đặc sản của Đế quốc cơ mà.
“Tôi hơi tách biệt với mọi người trong trường… nên chẳng nhạy với tin đồn cho lắm.”
Nói xong, nữ tu tinh nghịch lè đầu lưỡi. Chỉ nhìn hành động ấy với giọng nói kia thôi thì chẳng khác gì một cô gái bình thường trạc tuổi tôi.
“Vậy là tìm được điểm chung rồi. Tôi cũng bị cô lập.”
“…Tôi không bị cô lập. Là tôi cô lập người khác.”
“Mấy người bị cô lập thường nói thế lắm.”
Cô bật cười khúc khích. Cơ mà tôi đâu có định pha trò.
Cười xong, cô vẫn không rút tay về mà nhìn thẳng vào mắt tôi.
“Tôi là Mace. Tôi dạy Thần Thánh học ở Học viện. Lớp hơi chán thật, nhưng thỉnh thoảng anh tới ngủ trưa tiếp nhé?”
“…Ain. Cứ gọi Ain thôi.”
Sau khi trao tên, Mace nở một nụ cười rạng rỡ đến mức đôi mắt cong lại.
Nụ cười ấy giống mặt trời của một ngày trong trẻo, sáng hơn cả ánh chiều đang đổ ngoài cửa sổ.


