Tôi đang mặc lại áo thì nghe tiếng bước chân lọt qua khe cửa mở.
Một cái bóng giẫm qua vũng máu tươi trên sàn rồi xuất hiện. Tôi lập tức chĩa kiếm tới, lần này định dọa trước rồi mới hỏi.
Vừa rồi nóng quá, tôi giết sạch hai tên kia rồi mới nhớ mình còn chưa biết Mace bị nhốt ở đâu.
Nhưng chẳng mất bao lâu, tôi nhận ra người mới tới không có ý chống cự.
Cô ta giơ hai bàn tay mở cạnh đầu theo tư thế đầu hàng.
Haze.
Cô bạn cũ của Mace đang run bần bật khi nhìn cảnh tượng tan nát trong phòng. Không thấy chiếc nỏ từng bắn tôi, trên người cũng chẳng mang vũ khí như hai tên canh gác.
“E-Em biết Mace ở đâu…”
“Nói.”
Haze nuốt khan.
Chắc cô ta vẫn chưa quên lưỡi kiếm từng kề sát cổ trong lần đầu gặp.
“N-Nếu em nói… anh sẽ để em sống chứ?”
“Nghe xong rồi tính. Không muốn chết ngay thì nói.”
“Em không xin mạng mình!”
Tôi đẩy mũi kiếm sâu thêm một chút.
Một giọt máu trào khỏi vết cắt rồi chảy dọc cổ cô ta.
“Nhỏ giọng thôi.”
“…Em sẽ dẫn anh tới. Xin anh đưa Mace trốn khỏi đây. Em xin anh.”
“Anh chán bị đâm sau lưng lắm rồi. Nếu cô giở trò, anh sẽ biến cô thành giống thứ đang dính trên trần kia.”
Tôi dùng mũi kiếm chỉ vào mảng thịt đang chậm rãi chảy từ trần xuống sàn.
Haze nhìn theo, mặt trắng bệch.
“…Theo em.”
Cô ta quay người đi, chẳng buồn gật đầu.
Tôi cầm kiếm trần theo sát phía sau. Chắc cho tới khi rời hẳn nơi quái quỷ này, tôi sẽ chẳng muốn buông nó khỏi tay.
May là chúng chỉ cử người canh tôi.
Khu trú ẩn vẫn im ắng. Có lẽ chúng nghĩ trói được là đủ, hoặc vẫn chưa biết chính xác chuyện vừa xảy ra.
Từ vài căn nhà còn vọng tiếng ngáy.
Haze dừng trước nơi tôi từng nghĩ là kho của cộng đồng. Trong lễ hội, họ chuyển rượu và thức ăn từ đây ra nên tôi mặc định như vậy.
Bước vào rồi mới biết mình sai.
Nói là lò mổ còn đúng hơn.
Nhìn ngoài chỉ là một kho sạch sẽ, đầy bao tải và thùng gỗ. Nhưng mùi máu tanh bám trong không khí dày đến mức chẳng thể lau sạch chỉ bằng giẻ ướt.
Nặng nhất là từ cánh cửa hầm dưới sàn mà Haze đang kéo lên.
Khí lạnh từ dưới lòng đất tràn ra, kéo theo mùi máu đặc quánh đến mức gần như có thể nếm được.
Haze đi trước xuống những bậc đá phủ rêu, một tay bịt mũi.
Tôi thì hết tay mà bịt.
Tính độ sâu, căn hầm chỉ nằm dưới mặt đất vài mét.
Vậy mà mùi xác thối như thức ăn để lâu chẳng thể nào đoán được nếu chỉ nhìn từ bên ngoài.
Không thể nhầm nó với mùi mốc.
Hai bên tường đều có giá đuốc, vài ngọn vẫn đang cháy. Chỉ vậy thôi cũng đủ biết nơi này không phải căn hầm bị bỏ mặc.
Ánh lửa yếu như bình minh để lộ những dãy song sắt kéo dài hai bên.
Song không hề gỉ.
Mới dựng gần đây.
Có lẽ để đổi hẳn công dụng của căn hầm.
Chẳng hạn nhốt những thứ mang hình người đang thở dốc phía sau, mỗi khi nghe tiếng bước chân lại giật lên rồi gào như phát bệnh.
Ban đầu tôi còn tưởng họ nuôi súc vật.
Những kẻ trong lồng phát ra âm thanh đặc quánh như đờm, hoặc lẩm bẩm liên tục những từ chẳng hiểu nổi.
Ánh đuốc soi rõ tay chân gầy trơ xương, da thịt rách ra như dây điện bị tuột lớp vỏ.
Dấu tra tấn.
Khó đoán họ dùng thứ gì.
Trông như có gì trong tay thì lấy thứ đó chém, đâm, rạch.
Tôi chẳng có thời gian nhìn kỹ, cũng không muốn ở đây lâu hơn cần thiết.
Đi sâu một đoạn dài, cuối cùng tôi thấy một bóng người quen đang co lại trong tối.
Mace cũng bị nhốt sau song, nhưng may là không bị thương. Trên quần áo cô chẳng có lấy một vệt máu nhỏ.
“…Nghe nói nó có màu vàng.”
Mace vẫn vùi mặt giữa hai gối như hôm qua bên mạch nước.
Dù biết người đang lay song sắt ngoài này là tôi, cô cũng chẳng ngẩng lên.
“Một thứ vàng nhạt giống cánh bướm đêm.”
Haze lùi lại một bước, như cố để riêng khoảng trống cho hai chúng tôi.
Nếu không có tiếng gào và khóc từ những ô khác, tôi gần như sẽ tưởng trong bóng tối này chỉ còn hai đứa.
“Người ta nói xương của những vị tử đạo đã chịu khổ hạnh sẽ ngả màu vàng ấy, và đó là biểu tượng của thần thánh.”
“Mace, nhìn anh.”
“Bà ấy bảo thứ ánh sáng đó sẽ thành ngọn lửa hiệu cho thánh chiến, thành hy vọng của dân chúng, sẽ làm tôn giáo đang lụi tàn sống lại như một vị thánh. Rồi bà ấy bảo em chết đi. Rằng em chắc chắn sẽ phát ra ánh sáng sáng hơn bất kỳ ai, nên cứ yên tâm mà chết.”
Mace chậm rãi ngẩng đầu.
Dấu tích của một trận khóc dữ dội vẫn còn rõ trên mặt, nhưng giờ chỉ còn một nụ cười yếu ớt cùng đôi mắt đục đi.
“Rốt cuộc… thứ này là gì? Có ý nghĩa gì chứ…?”
Giọng vừa tưởng đã lặng lại bắt đầu run.
“Em biết nơi này. Tầng hầm tu viện. Cái tầng hầm lạnh mà mẹ từng nhốt em mỗi khi phạt… mùi y hệt. Kỳ lạ thật. Rõ ràng đây là lần đầu em tới.”
Vậy đây chẳng phải chuyện họ mới bắt đầu một hai ngày.
Chắc đã lặp lại không biết bao nhiêu lần, dù là dưới tay đám tín đồ Elysia hiện tại hay những kẻ đứng đầu Giáo quốc mà bà ta từng chửi là mục nát.
“Ha… ha ha…”
Mace bật cười.
“Em đúng là ngu hết chỗ nói. Buồn cười không, Ain? Anh cứ cười thoải mái.”
“Không buồn cười.”
Đó là kiểu cười trống rỗng tôi chưa từng nghe từ Mace.
Ồn ào, cường điệu như gõ vào một lon rỗng, nhưng chẳng có lấy chút vui nào.
“Em thì chỉ còn biết cười. Ngay cả việc gửi em tới Đế quốc… tất cả cũng chỉ để dựng lại cái tôn giáo quỷ quái này. Họ làm em khổ đủ rồi, sau đó định gọi cái chết của em là tử đạo. Thế mà bảo không buồn cười sao? Lạ thật.”
Tôi chỉ đứng nắm song sắt nhìn cô.
Mace cười giật từng nhịp một lúc lâu rồi lại rũ xuống.
“Thôi. Được rồi. Mình chạy đi. Dù sao em cũng bỏ rồi. Giờ chẳng còn liên quan tới em nữa.”
Nghe giọng tuyệt vọng ấy, tôi chợt nghĩ tới sự khác nhau giữa tự mình vứt bỏ và bị người ta vứt bỏ.
Khác nhau ở người ra quyết định.
Tự mình vứt bỏ thì chỉ cần bước ra bằng chính chân mình rồi đi thẳng, chẳng cần ngoái lại.
Còn bị vứt bỏ là bị đá, bị ném đá, bị quẳng xuống một nơi xa lạ cùng những thứ mình chẳng muốn mang theo.
Tôi biết cảm giác đó.
Từng trải qua rồi.
Vậy nên tôi hiểu ít nhiều Mace đang nghĩ gì khi phát hiện thứ cô từng tin là lựa chọn của mình thật ra chỉ là một cơn vùng vẫy rỗng, chẳng ai để tâm, thậm chí còn yếu ớt hơn ngọn nến chỉ chực tắt.
Nhưng giống ban ngày, tôi vẫn chẳng biết phải an ủi cô thế nào.
“Em đã cố đủ rồi.”
“Không phải lỗi của em.”
“Em đã làm hết sức.”
Những câu rẻ tiền ấy nếu đặt trước mặt Mace lúc này, hoặc đặt trước mặt tôi ngày bị vứt bỏ, chắc chỉ đổi lại một tiếng cười khẩy.
Tôi có thể làm gì cho người vừa phát hiện cả đời mình đã đổ vào một thứ vô nghĩa?
Có cách nào chứng minh nước mắt và mồ hôi Mace từng bỏ ra vẫn có giá trị không?
Chắc không.
Hỏi bất kỳ hiền giả nổi tiếng nào cũng chẳng có câu trả lời.
Giống cuộc chiến tôi từng trải qua chẳng có nghĩa gì với Giselle, quãng đời Mace dành cho đức tin cũng rõ ràng chẳng có ý nghĩa gì với những kẻ đã lợi dụng nó.
Tôi bất lực.
Ở vòng trước, Mace từng kéo một phần trái tim tôi sống lại.
Còn tôi thì chẳng đủ để kéo cô đứng dậy.
Lời nói kém hơn hành động, hành động của người khác lại kém hơn việc tự mình an ủi lấy mình, mà tự an ủi cũng chẳng đủ lấp cái hố rỗng trong lòng.
Vậy nên thứ tôi có thể làm không phải lấp đầy.
Mà là xóa sạch.
Giống cách tôi đã bóp méo gia tộc, Iris và Giselle cho tới khi ý muốn quay về cùng mọi nỗi nhớ đều chẳng còn hình dạng.
Để một ngày nào đó Mace không thể ngoái lại quãng đời đã phí đi mà tiếc nữa.
Để mỗi khi nhớ tới, thứ duy nhất dâng lên tới cổ họng chỉ còn là vị máu.
Chặt nát.
Đốt sạch.
Rồi đọc một bài điếu văn.
“Em muốn chạy thật à?”
“…Anh bảo vậy mà. Em thấy thế là đủ.”
Ai muốn chửi tôi ngu cũng được.
Tôi chỉ chọn cách duy nhất mình biết làm.
Khác hôm qua ở chỗ, lúc này ít nhất tôi hiểu được một mảnh cảm xúc của cô.
“Em còn muốn thứ khác. Còn do dự gì?”
“…Em không muốn gì cả. Em chỉ muốn biến mất.”
“Nói cho đúng. Em muốn khiến chúng biến mất.”
Chắc chắn là giận.
Giận đến nghiến răng, đến mức muốn bẻ cong chính cái lồng đang nhốt mình.
Móng tay Mace từ nãy vẫn cào trên nền đá.
Cô còn giận tới mức muốn giết sạch những kẻ mình từng tin sẽ chăm lo cho mình, nhưng cuối cùng lại phản bội.
Tôi chắc như vậy.
“Muốn gì thì nói. Anh nghe.”
“…Không có. Mình chạy thôi…”
“Nói thứ em thật sự muốn. Chỉ chạy thì em chẳng thỏa mãn đâu. Đòi anh thứ đủ để em thỏa mãn. Cứ tham lam, cứ mặt dày mà yêu cầu. Những gì đã bị lấy mất không thể lấy lại. Nhưng ít nhất hãy bảo anh khiến em không còn phải khóc vì muốn đòi chúng lại nữa.”
Mace do dự đúng như tôi đoán.
Nhưng câu trả lời chắc đã có từ lâu.
Cô muốn thứ giống tôi từng muốn.
Dù Chúa có tái lâm, cô cũng sẽ muốn như vậy.
Trả đũa.
Một cơn gió đủ mạnh để thổi bùng đốm lửa.
Máu.
Đủ nhiều để phủ lên cơn ác mộng đen kịt.
Cô muốn nghe tiếng hét của những kẻ từng bắt mình phải hét.
Mace cuối cùng nói, từng câu ngắt quãng nhưng giọng không còn run.
“…Em chỉ nghĩ trong đầu thôi. Nên coi như độc thoại nhé.”
“Anh đang nghe.”
“…Em muốn tất cả biến mất trong một lần. Mẹ em, người Giáo quốc, cả thứ đức tin em từng tin. Tất cả.”
“Cuối cùng cũng nói chuyện được rồi. Tránh ra.”
Tôi đá mạnh vào song sắt.
Kim loại bật tung khỏi nền, cả khung lồng bị phá nát cùng phần thanh gia cố.
Tôi bước qua, nắm tay Mace kéo cô đứng dậy.
“Đi thôi.”
Tôi cười.
“Đi giết mẹ vợ anh.”
Trên đường rời tầng hầm, tôi nhét vài đồng vào tay Haze rồi bảo cô ta chạy thật xa.
Đúng lúc ấy, một ý nghĩ bỗng hiện lên.
Rốt cuộc ở đời này, tôi vẫn chưa thể yêu Mace.
Vậy tôi chịu bao nhiêu phiền phức thế này vì một người mình không yêu để làm gì?
Mẹ kiếp, còn phải hỏi sao.
Con chó mình nuôi bị kẻ khác giết còn khiến người ta tức đến run người.
Yêu hay không chẳng quan trọng.
Mace là người tôi đã gắn bó. Thứ cô coi trọng bị giẫm nát, sao tôi có thể không giận.
Mạng này vốn đã bị tôi vứt đi từ lâu.
Giờ muốn dùng thế nào là việc của tôi.
Chẳng ai có tư cách trách.
Cũng chẳng có ai cổ vũ.
Khi mở cửa kho ngụy trang để bước ra ngoài, một mũi tên nỏ bay tới.
Có lẽ chỉ định dọa, nếu tôi đứng yên nó sẽ cắm vào tường.
Tôi cố tình chém nát nó giữa không trung cho tất cả cùng thấy.
Bên ngoài đang rạng sáng.
Elysia đứng giữa đám người đã tụ lại vì nghe động, gần như toàn bộ dân trong khu trú ẩn đều có mặt.
“Ồ, thật sự gạt được.”
Bà ta vẫn cười như chẳng có chuyện gì.
“Ghê thật. Tôi còn bán tín bán nghi.”
Tôi để chuyện xé cái mặt cười ấy sau.
Trước hết phải đếm số người cầm vũ khí dưới lệnh Elysia.
Khoảng ba mươi.
Giáp, giáo, kiếm, nỏ, đủ loại trang bị chắp vá. Tất cả đều nhìn tôi và Mace sau lưng bằng ánh mắt dữ dằn.
Trong số đó có cả những kẻ tối qua còn cười nói thân thiết với Mace.
Có người đã nhìn cô từ lúc còn nằm nôi.
Haze cũng đứng trong đám, nghiến răng nhìn sang đây.
“Đầu hàng đi. Cậu biết số đông có thể nghiền nát một người thế nào mà.”
Không chỉ Elysia.
Cả đám tín đồ cũng khiến tôi thấy buồn nôn.
Dù vốn đã biết họ ghê tởm.
“Con phù thủy…”
“Biết ngay mà… thiêu sống nó…”
“Xiên lên cọc…”
“Lũ trời phạt…”
Những từ họ lặp lại nghe giống một cơ chế tự vệ.
Có lẽ họ cần bẻ cong suy nghĩ để hợp thức hóa những thứ mình đã làm.
Hoặc Elysia chỉ đơn giản quá giỏi rót lời ngọt vào tai.
Dù lý do nào, họ cũng cần một chỗ để đổ cơn đói và đức tin đã mất phương hướng.
Tôi chợt nhớ câu tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.
Thật ra tôi chẳng quan tâm.
Nếu đây là hiện thực, có khi tôi còn chẳng thấy buồn nôn đến mức này trước thứ tư duy muốn dùng một mạng người để đổi lấy cuộc sống yên ổn cho số đông.
Nhưng đây là fantasy mà.
Các người đang sống trong một thế giới của phép màu.
Dù không phải thiên đường chảy sữa và mật, ít nhất nó cũng không nên là địa ngục chỉ có thể vận hành bằng cách dùng một cô gái làm linh kiện.
Không thể dồn hết mọi thứ lên Mace rồi nằm ngủ ngon.
“Quỳ xuống ngay.”
Tôi lấy điếu thuốc cuối cùng ra ngậm, nhìn Elysia.
“…Có vẻ tôi nghe nhầm.”
“Cầu xin vị thần các người tin. Nói mình sai rồi. Nói không nên phạm tội. Đập đầu xuống đất mà xin, rằng tất cả là lỗi của các người. Sau đó xin lỗi Mace y như vậy, lặp tới khi cô ấy chịu tha.”
Tôi châm thuốc.
“Làm được thì tôi giết không đau. Đó là mức nhân từ lớn nhất tôi có thể cho.”
Họ cười.
Dĩ nhiên.
Elysia cười, đám tín đồ cũng cười như vừa nghe một chuyện khôi hài.
Tôi ném que diêm xuống đất rồi rút kiếm.
“Ừ. Biết ngay mà. Thật ra tao cũng chẳng mong gì.”
Tôi cắn điếu thuốc.
“Thế thì chết sạch ở đây đi, lũ chó. Từ hôm nay, đại lục không còn tôn giáo nữa.”


