Con người cần gì để sống?
Nếu hỏi một người hiện đại, chắc họ sẽ chẳng do dự mà đáp là tiền.
Dân Đế quốc thì có người chọn danh dự, có người chọn địa vị.
Biết đâu vẫn còn một kẻ lãng mạn cuối cùng của thời đại này sẽ nói rằng mình sống vì tình yêu.
Và nhân vật Ain Magnolia rõ ràng từng thuộc loại cuối cùng… nhưng đó là chuyện trước đây.
Giữa quảng trường Lumen, nơi thủ đô được mệnh danh là trái tim của Đế quốc, ánh sáng và những công trình điêu khắc chen nhau giữa các tòa nhà quét vôi sáng màu.
Những đôi tình nhân nắm tay dạo dọc bờ sông, bên cạnh khu vườn phủ đầy hoa hồng đỏ rực như chính sự nồng nhiệt của họ.
Cách nơi ấy chỉ vài dãy phố, trong một con hẻm xó xỉnh, có một quán rượu cũ kỹ giăng đầy mạng nhện và nồng nặc mùi khai.
Còn tôi, đang ngồi trong cái ổ đó, thứ cần để sống là rượu.
Rượu thì cũng phải có tiền mới mua được à? Ừ thì hết tiền cứ tự sát là xong.
Chỉ cần hồi quy là số tiền trong túi cũng quay về nguyên trạng mà? Ừ thì cũng chẳng phải khoản gì dư dả, nhưng chưa bao giờ tôi thấy nó đáng quý đến thế.
Thông điệp quá rõ ràng: uống hết tiền thì chết đi, quay lại rồi uống tiếp.
Và thế là động cơ vĩnh cửu đã hoàn thành. Xin quý vị dành một tràng pháo tay cho chủ nhân giải Nobel Khoa Học tiếp theo.
Dù sao tôi cũng chẳng quay về thế giới hiện đại được.
“Ợ… thêm một ly.”
Tôi đặt chiếc cốc xuống quầy rồi gọi thêm rượu.
Ly thứ mấy rồi nhỉ? Ban đầu tôi còn đếm bằng ngón tay, sau đó thì quên mất. Tất nhiên, tôi chỉ đếm bằng những ngón của một bàn tay thôi.
Thay đổi dễ nhận thấy đầu tiên kể từ khi tôi thôi làm Ain là tôi bắt đầu phân biệt được vị rượu.
Đời trước đã uống đến mức cái lưỡi đáng lẽ phải mục ra rồi, giờ còn bày đặt nói chuyện thưởng rượu nghe buồn cười lắm đúng không?
Nhưng hồi đó, dù là bia rẻ tiền ủ trong cái thùng từng nhúng râu người lùn hay whisky Bronze Beard 27 năm giá hàng chục đồng vàng một ly, với tôi cũng đéo khác gì nhau, miễn sao đủ sức làm mình say đến mất trí.
Ma túy còn khiến vị giác của tôi mờ dần theo thời gian, nên riêng thứ đó thì thôi. Lần này tuyệt đối không đụng nữa.
Bên trong quán chẳng khác mấy so với những gì mặt tiền hứa hẹn. Ở cửa là một gã ăn mày đang rít lên xin xỏ bằng cái giọng nghe như dây thanh quản vừa bị cưa qua. Sau quầy là ông chủ mặt béo phị, trông chẳng có chút ý định buôn bán nào.
Và cuối cùng là tôi.
Đó là toàn bộ khách khứa và nhân viên.
Mà giữa lúc mặt trời còn treo giữa trời, có mấy ai mò vào quán uống rượu đâu.
Nghe trần nhà kêu cót két từ nãy đến giờ thì chuột chắc đông hơn người nhiều. Cơ mà cũng tốt, ít ra tiếng chúng chạy đủ để lấp bớt sự huyên náo từ quảng trường vọng tới.
Cầm cái đùi gà trên đĩa lên cắn một miếng. Lớp da giòn vỡ dưới răng, nước thịt béo ngậy lan trong miệng. Một ngụm whisky phảng phất mùi mật ong trôi xuống cổ, cuốn sạch lớp dầu còn đọng lại.
Đây chẳng phải sung sướng với kết thúc có hậu rồi còn gì? Đã đạt tới thứ mình muốn rồi thì phiền trả tôi về nhà nhanh hộ cái.
Vẫn là sống nhờ vào rượu như đời trước, nhưng đằng nào cũng định chết thì ít nhất nên chết cho sang. Tôi quyết định trước khi sang thế giới bên kia sẽ uống cho đã những thứ đắt tiền mà trước kia còn chẳng buồn nhìn tên.
Két…
Cánh cửa cánh lật bật mở, để thứ ánh nắng tôi ghét cay ghét đắng đâm thẳng vào mắt.
Một gã đàn ông béo phị bước vào. Mặt mũi hắn ta đỏ gay, nhìn qua là biết đã làm vài chén ở đâu đó trước khi tới đây. Hắn lia đôi mắt đầy tia máu sang phía tôi rồi quát lớn:
“Cái gì đây? Thằng công tử bột nào giữa ban ngày ban mặt đã ngồi nốc rượu thế kia?
Chủ quán! Ông làm ăn kiểu gì vậy?”
Tôi vốn thấy chỗ này gần nhà, còn định biến thành quán ruột, nhưng nhìn cái cảnh này thì thôi nhé. Còn thua cả sân trước chuồng chó, từ nay cạch mặt.
Gã đàn ông bỏ qua cả đống ghế trống, cố tình bước đến ngồi ngay bên cạnh. Mà tôi mặc nguyên đồng phục Học viện, giữa giờ này lại ngồi lì trong quán chỉ biết rót rượu xuống cổ, muốn không gây chú ý chắc cũng khó.
“Người lớn đang nói chuyện mà thái độ kiểu gì thế? Con cháu nhà quyền quý đứa nào cũng mất dạy thế à?”
Thay đổi dễ nhận thấy thứ hai: tôi vui tính hơn hẳn!
Tôi quay ống tay áo trống không và vết sẹo bên mắt về phía gã đàn ông có khuôn mặt tròn vo đến mức tôi chỉ muốn gọi hắn là Hũ Tham Lam[note108556] trong Yu-gi-oh, rồi đáp:
“Thử thành một thằng thương binh tàn phế như tao đi. Để xem tính mày có còn tử tế nổi không.”
Tự giễu là một trong những cách nhanh nhất để rút ngắn khoảng cách với người lạ. Còn nghe xong mà nổi nóng lao vào thì đánh nhau thôi. Tôi đã học được cách ứng phó khá linh hoạt với mấy trò kiếm chuyện kiểu này.
Nói trắng ra là tôi không nhịn nữa.
Gã Hũ Tham Lam có vẻ cáu, ngón tay gõ cộc cộc lên mặt bàn một hồi rồi mới lên tiếng.
“… Không biết cậu là người có công với đất nước, tôi lỡ lời rồi. Trẻ thế mà… tiếc thật. Ly tiếp theo để tôi mời, coi như xin lỗi.”
Trái ngược hoàn toàn với vẻ ngoài, hắn lại có tấm lòng khá chất phác. Hắn ta giơ hai ngón tay về phía chủ quán, ra hiệu gọi thêm rượu.
Những vết thương này đến đám con cháu nhà quyền quý còn chỉ biết đem ra cười nhạo, tôi chưa từng được ai cảm ơn vì chúng lấy một lần.
Thấy chưa, chỉ đổi cách sống một chút mà chuyện tốt đã tự tìm đến rồi.
Biết đâu cuộc đời này cũng sống được đấy chứ.
Ừ thì rồi một ngày tôi có thể không chịu nổi những cơn ác mộng gõ cửa mỗi đêm, cầm con dao trên bàn ăn mà lần này không cắt bít tết nữa, chuyển sang cắt cổ tay. Hoặc gan bị ngâm trong rượu đến mục như mẫu vật.
Hoặc gia tộc muốn xóa sạch tôi khỏi mọi hồ sơ nên thuê sát thủ, để một đêm nào đó tôi biến mất trong ngõ tối chẳng ai hay.
Hoặc xui xẻo hơn nữa, lúc say rượu kiếm chuyện lại nhằm đúng một đại pháp sư mạnh vãi cả đái đang đi ngang, rồi bị nướng vàng ruộm như con gà quay trên đĩa.
Dù theo cách nào thì cái kết chắc cũng chẳng khó đoán.
Tôi đã từ bỏ chuyện lạc quan về tương lai từ lâu.
Việc chết rồi cũng chỉ hồi quy về với cái thân tàn phế này là cú sốc lớn nhất đối với tôi kể từ ngày còn tiểu học phát hiện ra ông già Noel không tồn tại.
Tôi đang chìm trong nỗi u sầu, nâng ly lên uống thì một bóng người quen thuộc che mất mặt bàn.
“Sao em không đến lớp…? Đồng phục cũng mặc rồi mà…”
Một cái bóng còn sót lại từ quãng đời mang tên Ain, dính lấy tôi như viên kẹo chảy dưới nắng.
“Ngày mai hội học sinh sẽ triệu tập em vì chuyện kỷ luật… Nhất định phải tới nhé… Coi như vì chị cũng được…”
Nếu bỏ qua màu mắt, soi cả người cũng khó tìm được điểm nào giống tôi. Cô gái với mái tóc xanh nhạt mềm mại được tết gọn gàng, đồng phục phẳng phiu chẳng một nếp nhăn, trông hoàn toàn lạc lõng trong quán rượu này.
Iris Magnolia, chị gái cùng cha khác mẹ của Ain.
Khi tôi vẫn còn sống dưới bóng gia tộc, tôi từng tin chắc rằng chị là người duy nhất đứng về phía mình.
Đến lúc lệnh trục xuất thật sự được đưa ra, Iris lại là người đầu tiên trong nhà rời bỏ tôi.
Suy cho cùng, thứ chị dành cho tôi chỉ là chút thương hại và nghĩa vụ với người cùng huyết thống.
À, nhớ ra rồi. Sau đó chị còn nhặt một con mèo về rồi đặt tên nó là Ain nữa chứ. Ha ha, con điên.
Tôi đứng dậy mới nhận ra ông chú Hũ Tham Lam ngồi cạnh đã biến mất từ bao giờ. Chắc thấy hoa mộc lan thêu trên quần áo Iris nên thấy rén mà chuồn trước.
Có khi đó là người bạn đầu tiên tôi kết được ngoài Giselle cũng nên. Ông ta còn mua rượu cho tôi nữa, mà người chịu mua rượu cho mình thì chắc chắn là người tốt.
Tôi móc vài đồng vàng trong túi, rải xuống trước mặt chủ quán.
“Tiền thừa mua kẹo cho trẻ con đi.”
“…? Có ai tính tiền kiểu này không hả? Này! Này! Đứng lại đó!”
“Ư… xin lỗi… Phần còn thiếu tôi sẽ thanh toán…”
Tôi bỏ ngoài tai tiếng reo mừng trước sự hào phóng của mình từ ông chủ, lẫn giọng Iris theo sau, rồi bước ra khỏi quán.
“A-Ain, chờ một chút…”
Nhưng viên kẹo dính dưới chân ấy xem ra chẳng chịu rơi.
Chẳng mấy chốc Iris đã đuổi kịp, chỉ cách sau lưng tôi chừng hai bước.
“Ngày mai em sẽ đi.”
Tôi đáp cho có, vòng qua góc hẻm rồi tiến về một khoảng nắng ở rìa quảng trường.
Lấy thuốc ra ngậm, tôi quẹt diêm lên bức tường đầu ngõ. Một tia nắng mảnh như dòng nước vừa khéo nối thẳng với đầu thuốc đỏ lửa, chói đến nhức mắt. Tầm nhìn vốn quen bóng tối bỗng bị ánh sáng tràn vào, nhòe đi trong chốc lát.
Và giữa màn mờ ấy, một hình bóng tôi tuyệt đối không thể quên hiện ra.
“……”
“… Nên chị mới bảo em chờ một chút mà.”
Iris khẽ thở dài sau lưng.
Từ chiếc xe ngựa dừng cạnh đài phun nước, một đôi súc vật đẹp mã đang bước xuống.
Người đàn ông mặc áo lông thú trái mùa chắc hẳn là vị Đại công phương Bắc trong lời đồn.
Hắn mở cửa xe, lịch thiệp đưa tay ra. Tiếp đó, một bàn tay trắng trẻo nắm lấy tay hắn, rồi mái tóc vàng ngà quen thuộc từ trong xe hiện ra.
Giselle.
Ánh mắt chúng tôi chạm nhau.
Cũng như tôi có thể nhận ra cô từ cách vài dặm, tôi biết Giselle sẽ nhận ra mình chỉ bằng một cái liếc mắt…
…và đôi mắt đỏ như máu ấy khẽ run lên.
Vị Đại công đang hộ tống Giselle dường như cũng nhận ra thứ nằm ở cuối ánh nhìn của cô, Hắn bước nhanh về phía tôi rồi cất tiếng:
“Ôi chao. Xem ai đây này?”
“Chẳng phải thằng con hoang què quặt đang là đặc sản số một của Đế quốc dạo gần đây sao?”
“Với cái mắt phế ấy còn nhìn đường nổi không vậy?”
Cách ăn nói tuyệt vời đến mức khiến tôi bỗng nhớ ông chú say rượu trong quán da diết.
… Mà công nhận buồn cười thật.
Phải có tài ăn nói cỡ này mới ngang nhiên ve vãn người phụ nữ của kẻ khác à?
Đã thế còn biết lạnh lùng với cả thế giới nhưng dịu dàng với riêng người mình yêu, cái kiểu tương phản đủ sức đánh thẳng vào tim thiếu nữ
…
ghen tị chết mất.
Có điều, trò tự giễu có một nhược điểm: nó chỉ có tác dụng khi chính mình nói về mình. Đến lượt người khác nói thì chẳng còn là đùa nữa, chỉ là chửi thẳng vào mặt thôi.
Chắc đi dạo không rảnh đến mức phủ sẵn ma pháp bảo hộ đâu nhỉ.
Tôi vung cánh tay còn lại ra sau lấy đà, rồi tung hết sức đá thẳng vào ống chân Đại công. Hắn lộn nguyên một vòng trên không rồi úp mặt xuống đất.
Tôi bỏ mặc vị Đại công nằm đó, bước thẳng tới trước Giselle.
Cô chẳng nhìn hắn, cũng chẳng nhìn tôi, chỉ ngây người nhìn một khoảng đường trống rỗng bên cạnh.
Tôi nở nụ cười, hạ giọng chỉ đủ để Giselle nghe thấy.
“Em nên dạy chó cho kỹ hơn đấy, Giselle. Anh thích cái giẻ nhét trong mồm nó rồi, nhưng nó cứ thích cắn bậy.”
Tôi đi lướt qua Giselle, hướng về con đường dẫn về nhà. Tôi cứ thế đi xuyên qua vùng nắng, về phía con đường dẫn tới nhà.
Dù cuối con đường ấy chỉ có căn nhà còn tối hơn cả một nấm mồ.
“Chắc lại bị cộng thêm kỷ luật nữa rồi…”
Tiếng than khe khẽ của Iris lọt vào tai khi tôi rời đi.
“… về… với… em… Ain…”
Hình như tôi thoáng thấy môi Giselle mấp máy thành tiếng.
Thứ âm thanh mà tôi đã lâu rồi không được nghe thấy. Lâu đến mức chẳng nhớ nổi lần cuối tôi thấy đôi môi ấy mở ra trước mình là khi nào.
Nhưng giờ chẳng còn liên quan gì đến tôi nữa.
Vụ ồn ào vừa rồi hình như đã kéo cả đám đông tới, và phải vất vả lắm tôi mới chen qua được biển người. Trong lúc va vai với ai đó, điếu thuốc đang lỏng lẻo trên đôi môi khô cũng tắt ngóm.
Tới khi rẽ vào con đường rợp cây vắng người ven sông, tôi mới lấy điếu khác ra châm.
Bóng cây che bớt nắng, bước chân cũng nhẹ hơn hẳn. Tôi đi rất lâu theo con đường chạy xuống chân đồi, cuối cùng về đến mái nhà thân yêu.
Tất nhiên, trong căn nhà này chẳng có gì đáng gọi là “thân yêu”, càng không có cái gọi là “chúng ta”.
Kẽo kẹt.
Cánh cửa mở ra bằng tiếng rên quen thuộc, như thể đang chào chủ nhân trở về.
Ngồi xuống giường, vật lộn với ống tay áo trống rỗng hồi lâu mới cởi được đồng phục.
Mà khoan, ban đầu tôi mặc thứ này để làm gì nhỉ? À, sáng nay vốn định đến Học viện, nhưng cánh tay cụt đau nhức làm tôi bực quá nên quay đầu vào quán rượu luôn.
Tôi mở cửa sổ cho mùi cũ kỹ trong nhà bay bớt, rồi tới tủ lấy rượu và ly.
Vì Iris mà kế hoạch hoàn hảo, ngồi lì trong quán tới tận đêm, đã tan tành.
Nhưng cũng không sao cả, bởi đêm còn dài mà, bắt đầu uống nghiêm túc từ bây giờ vẫn kịp.
Đổ đầy ly xong, tôi vào phòng tắm, định ít nhất cũng rửa mặt.
Đứng trước bồn rửa, nhìn vào thứ vẫn luôn chọc đúng vào cơn bực bội của mình: chiếc gương.
Mặt kính vỡ nứt chằng chịt vì từng bị đập mạnh, như thể nó còn hiểu tâm trạng tôi hơn bất kỳ ai.
Đối diện hình ảnh mất nét trong đó, tôi chợt nghĩ ra nhược điểm thứ hai của trò tự giễu.
Tôi tuyệt đối không phải loại người có thể phát triển sở thích bị hành hạ.


