Lần này xem ra chẳng ai buồn bắt tù binh.
Có bắt về cũng chẳng có cơm cho ăn, chỗ để giam lại càng không.
Dù vậy, trước khi kết liễu, đám lính bên này cũng không tàn nhẫn đến mức lột da sống đối phương như lũ dị tộc. Thấy ai nấy đều từ bi tiễn đối thủ bằng một nhát chém đứt đầu, có lẽ vì trận này quân mình ít người chết nên lòng dạ cũng còn chút thong thả.
Ở chốn này, hai chữ “từ bi” cũng chỉ mang cái nghĩa đến thế.
Bởi từ ngữ cứ mỗi lần chuyển dời địa điểm lại bị mài mòn đi đôi chút ý nghĩa.
Nhìn đám người ấy, tôi lại vô cớ rút kiếm vung thử một đường.
Quả thực… đã khác.
Kiếm vung ra nhanh hơn nửa nhịp so với sức nặng quen tay, và vươn dài hơn một ngón tay so với điểm tôi định dừng lại. Mọi tính toán ăn sâu vào thân xác đều bị lệch đi đôi chút.
Chắc sẽ cần không ít thời gian mới quen lại được… cơ mà, cứ nếm trải cận kề cái chết chừng mười đến hai mươi lần thì thể nào cũng quen ngay ấy mà.
Dù sao thì cảnh tượng sau mỗi trận chiến ở nơi này bao giờ cũng giống nhau. Thấy đồng đội ngã gục dưới đất thì kiểm tra xem còn thở không, chết rồi thì lột lại những thứ còn dùng được rồi vùi xác cho gọn.
Tang tóc hay thương xót vốn dĩ chẳng có chỗ chen chân. Kẻ có giá trị đến mức để người khác phải rơi lệ khi chết làm sao lại rơi vào cái địa ngục này.
Ai nấy đều tự biết mình chỉ là thứ rác rưởi bị vứt bỏ, nên cũng chẳng cầu mong ai rơi lệ vì mình. Mấy thứ đó chỉ tồn tại ở những nơi người ta được sống ra hồn người thôi.
Thứ gọi là tang lễ nếu có, cùng lắm chỉ là bữa tối hôm đó chia nhau phần bánh mì của kẻ đã khuất, vừa nhai vừa tán gẫu xem gã từng là hạng người thế nào. Dĩ nhiên là kể về mấy tật xấu ngu xuẩn nhiều hơn lời hay ý đẹp, nhưng nếu cứ toàn nói lời tốt đẹp thì không khí lại chùng xuống u ám mất, nên đành chịu thôi.
Đám lính đảo mắt nhìn quanh một lượt, rồi bắt đầu lôi xác lũ mọc sừng nằm la liệt kéo về phía bãi đất trống khá xa.
Gom lại một chỗ xong, chúng đào hố rồi lột sạch áo ngoài của lũ chết trận. Đa phần đồ chúng mặc đều lành lặn hơn của chúng tôi, giáp trụ cũng tốt hơn nhiều. May mắn thì còn vớ được thanh loan đao còn nguyên vẹn hay ngọn giáo chắc chắn.
Đồ lột được hôm nay tốt khác thường. Chắc là đám lính đánh thuê mới vào nghề đổ đống tiền sắm trang bị, nhưng thực lực lại chẳng đủ để dùng tới nơi tới chốn.
Từng cái xác của lũ mọc sừng lăn xuống hố.
Mỗi lần rơi xuống lại vang lên tiếng “bịch, bịch” trầm đục.
Chẳng có cầu nguyện, cũng chẳng có mặc niệm. Mấy thứ đó chỉ dành cho những kẻ chết đi mà vẫn được người đời tôn trọng. Còn ở chốn này, đến một nắm đất phủ lên xác lũ dị tộc người ta cũng thấy tiếc.
Đám lính phối hợp nhịp nhàng, trông thuần thục ra trò. Tôi cũng từng chen chân vào đó xúc vài xẻng đất… nhưng lần nào làm cũng chẳng thấy quen tay nổi. Cứ mỗi khi ngỡ mình đã quen thì y như rằng lại phải chôn một gương mặt thân quen.
May thay, thứ rơi xuống hố hôm nay hầu hết chỉ là lũ mọc sừng.
Mấy tên ngồi bệt bên miệng hố chuyền tay nhau điếu thuốc lọt vào tầm mắt tôi. Trông thong dong đến lạ so với những kẻ vừa liều mạng chém giết, nhưng tôi thừa hiểu ở cái chốn này, không giữ được cái vẻ thong dong ấy thì chẳng tài nào trụ nổi.
Bất chợt, tôi nhận ra ánh mắt đám lính nhìn mình dường như đã đổi khác đôi chút.
Xem chừng… là ánh mắt nhìn một kẻ đại loại như đồng đội.
Dĩ nhiên chẳng phải nhìn lên một nhân vật vĩ đại hay tràn trề tin tưởng gì. Tôi còn chưa chém bay đầu tướng giặc tai dài nào, nên cùng lắm họ chỉ nghĩ “thằng này hóa ra cũng không đến nỗi vô dụng”, thế thôi.
Dù vậy cũng đã là một bước tiến dài. Kẻ mới bị tống tới đây, bất kể trước đó ở đâu hay mang dòng máu nào, ban đầu cũng chỉ bị coi như sâu bọ.
Dẫn theo mấy người bên Đoàn Phán Tội với ánh mắt sáng rực mà cả đời tôi chưa từng thấy, tôi rảo bước về phía doanh trại. Đằng nào lần này cũng chỉ là một đợt tập kích bất ngờ của lũ mọc sừng nên đường về cũng chẳng mất bao lâu.
Mấy người bên Đoàn Phán Tội nãy giờ chẳng hiểu vui sướng điều gì, cứ lặng lẽ bám sau tôi nửa bước chân nhưng đôi mắt thì lấp lánh lạ thường. Tôi lau kiếm họ cũng cảm kích, tôi uống hớp nước họ cũng xúc động, cứ đà này khéo tôi mà nói mớ trong lúc ngủ họ cũng cắm cúi chép lại làm mặc khải mất.
“Nghe bảo anh đến nhậm chức Đội trưởng hả? Cuối cùng cũng có một người ra hồn tới đây. Trước giờ toàn mấy thằng đần dạt tới thôi!”
Ngoảnh lại về phía phát ra giọng nói, một cô gái cầm trượng đã bám sát bên cạnh tôi tự lúc nào.
Gương mặt thanh tú như búp bê vốn chẳng ăn nhập gì với chiến trường, vậy mà giữa bãi bùn lầy nhơ nhớp này sắc mặt cô ta lại không hề biến đổi, hồi đầu tôi từng thấy khó quen mắt vô cùng.
Phải chăng lòng dạ cô ta cũng đông cứng lại như một con búp bê?
Bởi bất kể chuyện gì xảy ra, cô ta cũng chỉ cười trừ cho qua chuyện rồi bận rộn buông mấy lời nhảm nhí.
“…Biết tôi là Đội trưởng thì cũng nên nói năng cho phải phép chứ?”
Cô gái nhún vai rồi sải bước vượt lên trước mặt tôi, chắp hai tay sau lưng, chỉ ngoảnh đầu lại tinh nghịch cất lời.
“Sáng nay thì cái kiểu… mặt mũi bảnh bao thế kia tôi cứ tưởng tướng chết yểu cơ… ai ngờ đâu không những sống nhăn răng mà còn đánh đấm ra trò thế này.”
“Ra trò gì.”
“Hì, kể cũng đúng. Mấy thằng mò tới hôm nay toàn một lũ ăn hại.”
Cô gái nở nụ cười tinh quái ai nhìn cũng thấy, buông lời thản nhiên.
Cô ta là kẻ vô cảm nhất trong số những người ở chiến tuyến này. Dù là theo nghĩa tốt hay nghĩa xấu.
Bởi ngay giữa tiền tuyến, cô ta vẫn sinh hoạt hệt như một người sống ở khu xóm bình thường.
Ở nơi mà đồng đội từng kề vai sát cánh bỏ mạng thì người ta chỉ liếc nhìn một cái, thở dài một hơi rồi vùi xác xuống hố. Riêng cô gái này thi thoảng vẫn sụt sịt khóc, và khác với những kẻ khác, cô ta chẳng buồn hành hạ hay ngược đãi lũ dị tộc bị bắt về.
Chỉ là… hễ có giao tranh thì làm tròn bổn phận của mình, có lẽ nên nói như vậy chăng.
Đó chẳng phải lời khen.
Nhìn cái cảnh cố bám víu lấy nếp sống bình thường giữa một chốn hoàn toàn bất thường, đôi lúc tôi lại rùng mình trước sự quái gở ấy.
Cơ mà tôi cũng đâu có tư cách nói người khác.
Một kẻ chém đôi người ta mà đầu ngón tay không run lấy một nhịp, lại đi phán xét sự vô cảm của người khác là quái gở này nọ.
Thế nên dẫu đã rời khỏi chiến tuyến, tôi vẫn hành xử như thể mình còn mắc kẹt ở nơi này.
Và chính vì thế, tôi mới giết Arin mà không chút ngập ngừng.
“Mà này, Đội trưởng là người của gia tộc nào thế? Trông giống xuất thân từ nhà hiệp sĩ nào đó ghê.”
“Grayan.”
“…Grayan á? Cái nhà Grayan đời đời sản sinh ra Kiếm Thánh đó hả?”
“Ừ.”
“Woa…”
Cô gái há hốc mồm săm soi tôi từ đầu đến chân, rồi một mình gật gù liên hồi.
“Hẳn nào, hèn chi mới ngày đầu tiên mà… trông đã khác hẳn rồi!”
“Dù ở ngoài kia tôi chỉ bị coi là đồ rác rưởi rồi bị đuổi cổ tới tận đây sao?”
“Tôi cũng như thế mà. Hơi khác một tẹo thôi.”
Hơi khác cái nỗi gì, tôi thấy khác một trời một vực ấy chứ.
Kiếp trước cũng diễn ra y như vậy.
Ngay từ ngày đầu tiên, sau khi chém giết hàng đống kẻ địch, tôi cứ mang vẻ mặt như mất cả thế giới mà chui rúc một mình nơi góc xó. Mọi người tưởng tôi là thằng điên nên ai nấy đều lảng tránh, riêng cô gái này cứ sán lại gần, lải nhải mấy câu phiền phức như hôm nay chém được mấy mạng.
Chẳng biết là không biết sợ, hay đã quên mất cách sợ hãi.
Nhưng nhờ thế mà tôi cũng bớt buồn chán.
“Cơ mà rốt cuộc anh đã làm cái trò gì mà người nhà Grayan lại dạt tới tận đây thế? Đã vậy còn dắt díu cả cấp dưới theo nữa. Anh cũng biết nơi này là cái… thùng rác mà, đúng không?”
“Ai mà biết. Tôi cũng chẳng rõ.”
Thấy câu trả lời hời hợt của tôi, cô gái bĩu môi.
Làm sao mà tôi lại trôi dạt tới tận chốn này được nhỉ?
Phát điên rồi tự tay giết sạch những người xung quanh, thấy làm vậy hình như không ổn nên quay ngược thời gian trở về, rồi lại tự vác xác chui đầu vào cái chốn mà ngày trước mình từng giãy giụa tìm mọi cách trốn chạy…
Nói thế liệu cô ta có tin?
Cô gái lặng lẽ nhìn tôi. Không nói đùa lại, cũng chẳng gặng hỏi thêm.
Rồi như có điều gì phật ý, cô ta quay phắt người bỏ đi một mạch.
Chẳng rõ điều gì đã làm phật lòng gương mặt như búp bê kia… nhưng thôi, kẻ không chịu trả lời như tôi cũng chẳng việc gì phải níu lại mà hỏi han.
Bóng lưng cô ta dùng đầu trượng chọc chọc vào bãi bùn lầy xa dần, chẳng hiểu sao lại nhanh hơn thường lệ nửa nhịp.
Tôi bước vào căn lều ngày trước Bá tước từng ở, tức căn lều dành cho Đội trưởng Đội Đột kích.
Bên trong dĩ nhiên rộng hơn chỗ tôi từng ở trước kia, nhưng lại hẹp hơn so với tưởng tượng. Xưa nay tôi vào căn lều này chỉ khi bị gọi tới nhận lệnh, hoặc họa hoằn lắm mới được chia nhau hớp rượu nho pha nước.
Thứ rượu nho hồi đó dở tệ vô cùng, vậy mà lạ lùng thay thi thoảng tôi lại nhớ tới.
Bên trong vẫn còn vương lại dấu vết của chủ cũ. Gia huy treo trên cột, hay đống rượu và xì gà chất nơi góc phòng, chắc là đồ giải khuây mang theo.
Trừ rượu và xì gà, tôi cho dọn hết mọi thứ bên trong ném ra ngoài. Chẳng phải vì kiêng dè đồ của người chết, nhưng dùng đồ của một thằng đần chết vì ăn đòn phép hay mũi tên cắm sau gáy thì kể cũng thấy rợn người.
Còn xì gà… thì xì gà có tội tình gì đâu.
Tôi rút một điếu ngậm vào miệng rồi châm lửa.
Khói êm, không bị khé cổ, chắc chẳng phải loại rẻ tiền. Cái ngữ đã chết toi rồi mà gu thưởng thức xem ra cũng dùng được phết.
Từ từ phả làn khói thuốc, tàn khói bảng lảng tan dần lên nóc lều.
Qua làn khói mờ ảo, từng gương mặt ban ngày lại lướt qua tâm trí tôi.
Đôi mắt sáng rực của mấy người bên Đoàn Phán Tội, rồi cả bóng lưng ngoắt người bỏ đi của cô gái kia.
Không trả lời làm cô ta phật ý đến thế sao?
Hay là… chẳng biết tự lúc nào trên mặt tôi đã để lộ điều gì?
Bởi khuôn mặt của một kẻ đang nuốt ngược vào trong việc mình đã tàn sát sạch mọi người, chắc chắn chẳng phải thứ gì dễ coi cho lắm.
Gác điếu xì gà lên chiếc ly rỗng, tôi cầm thanh kiếm lên lần nữa.
Từ ngày mai sẽ có khối việc phải làm.
Cả những thứ cần phải làm quen, lẫn những điều phải hoàn thành.


