Chương 44 · 68 chương

Đi tìm tình yêu (2)

Giáo hội đã đụng tới cả hai nhà Công tước lẫn những người ở thủ đô, chuyện tiếp theo xảy ra là điều ai cũng đoán được.

Chỉ có nội chiến.

Có điều hơi hụt hẫng là cứ ngỡ sẽ nổ ra một cuộc chiến ác liệt ra trò, ai ngờ Giáo hội dường như đã chờ đợi ngày này từ rất lâu rồi.

Nói đến sự chuẩn bị thì hẳn chính là thế này.

Lãnh địa nào có đoàn hiệp sĩ nào đóng quân, ngân khố của gia tộc nào nằm ở đâu, quý tộc nào sẽ bắt tay với quý tộc nào, tất cả đều đã được họ nắm tường tận.

Chỉ việc chờ đợi… trong tư thế sẵn sàng hành động bất cứ lúc nào.

Và đến khi nhà Grayan sụp đổ cùng Công tước Avenberg bị bắt sống, dường như không thể khoanh tay đứng nhìn mãi được nữa, cuối cùng họ cũng ra tay.

Các lãnh chúa mà chống cự được thì đã may, đằng này phần lớn còn chưa kịp dấy binh đã bị tóm rồi lôi xệch về Giáo hội.

Nghe đâu chuyện một lãnh địa đổi chủ chỉ sau một ngày diễn ra như cơm bữa.

Đáng ra có thể chốt chặt cổng thành mà cố thủ, nhưng hầu hết đều vội vã mở toang cửa.

Bởi chẳng ai muốn bị thiêu sống cùng cả tòa thành.

Biết mở cửa là giữ được mạng nên ai nấy đều chọn cách khôn ngoan ấy.

Nếu là nhà Grayan thì thà bị thiêu chết chứ dứt khoát không đời nào chịu cúi mình.

Dù sao thì hầu hết quý tộc đều bị Giáo hội gán cho đủ thứ tội danh rồi nhốt vào tháp, hoặc nể nang danh phận cao quý mà giam lỏng trong những căn nhà lành lặn.

Tội của đám quý tộc cùng lắm chỉ là lười biếng và trễ nải chứ có làm hại ai đâu.

Họ cũng đâu có hành xử như lũ điên giống tôi.

Tội danh đại loại là thế này.

Báng bổ thần linh, hậu thuẫn tà giáo, bao che dị đoan. Toàn những thứ tội thích gán cho ai, gán thế nào mà chẳng được.

Vốn dĩ đâu phải vì có tội mới bắt, mà vì đã định bắt nên mới gán tội.

Ai cũng hiểu thứ tự đã bị đảo ngược, nhưng biết là một chuyện, nói ra lại là chuyện khác, và những cái miệng có thể lên tiếng trong Đế quốc giờ chẳng còn lại mấy ai.

Khi nhà Grayan sụp đổ hoàn toàn, đến cả hậu thuẫn tài chính như nhà Avenberg cũng ngã quỵ, đám quý tộc còn làm được trò trống gì nữa.

Tóm lại là mọi chuyện kết thúc một cách khá nhạt nhẽo.

Thứ gọi là nội chiến nghe ngượng cả miệng ấy kết thúc chỉ sau ba tháng, và suốt nửa năm đó, tôi đã đi khắp nửa Đế quốc, gõ cửa không biết bao nhiêu dinh thự.

Gõ mà mở thì cứ thế bước vào, không mở thì phá cửa xông vào.

Chẳng buồn đếm xem mình đã phá bao nhiêu cánh cửa. Đếm cũng vô nghĩa.

Cũng có vài nơi đáng gọi là chiến trường.

Mấy vị Bá tước Biên cảnh ở phương Bắc liên minh lại cố thủ, ở đó đao kiếm va vào nhau cũng ra trò.

Thế nhưng khoảng cách giữa một kẻ sống sót trở về từ Mặt trận phương Bắc với đám hiệp sĩ chỉ quanh quẩn săn bắn trong lãnh địa, thi thoảng múa kiếm cho giãn gân cốt quả thực quá lớn.

Đến mức việc cố không giết mà chỉ nhắm vào cổ tay bọn chúng còn tốn công hơn.

Và hôm nay, tôi đang ở phòng làm việc của nhà Monvern.

Đúng hơn là đang ngồi trên chiếc ghế vốn thuộc về Hầu tước Monvern, phì phèo điếu thuốc.

Tôi đến từ ban sáng… giờ đã giữa trưa nên chắc cũng khoảng hai tiếng trôi qua.

Chiếc ghế của Hầu tước chẳng êm ái như tôi tưởng.

Chiếc ghế dát đầy tiền của mà phần tựa lưng lại cứng một cách kỳ lạ.

Hoặc cũng có thể do người ngồi có vấn đề.

Trên bàn, giấy tờ Hầu tước chưa kịp dọn chất đống, lọ mực mở nắp đang dần khô cạn.

Trước khi bị tôi lôi đi, chắc ông ta vẫn đang viết dở thứ gì đó.

Tôi chẳng buồn dòm ngó xem ông ta viết gì.

Và trước mặt tôi, Adelaide đang ngồi đó.

Lần đầu gặp mặt, trên môi cô còn vương nụ cười, nhưng giờ thì chẳng còn cười nữa.

Gương mặt khi trút bỏ nụ cười trông non nớt hơn rất nhiều.

Adelaide mím chặt môi nhưng không hề gào thét hay tỏ vẻ giận dữ với tôi.

Dù cha bị lôi đi nhưng tôi đã bảo cô rằng cứ chịu đựng độ một hai tháng, nộp chút tiền chuộc thì Giáo hội sẽ tự khắc thả người.

Họ không thả thì tôi tự thả, thế là xong.

Nên tôi đâu có nói dối.

Adelaide đặt tách trà xuống.

“Đột nhiên biến mất khỏi thủ đô… rồi đủ thứ tin đồn quái lạ rộ lên, để rồi giờ lại xuất hiện trước mặt tôi bằng cách này.”

“Tin đồn quái lạ gì?”

“Rằng đứa con hoang trở về từ bãi rác đã bán đứng gia tộc cho Giáo hội, rằng anh đã lật đổ nhà Avenberg chỉ trong một đêm. Ban đầu ai cũng bảo đó là tin đồn nhảm. Nhưng dạo này chẳng còn ai nói đó là chuyện bịa đặt nữa.”

“Tin đồn nhảm thôi.”

“Vế nào cơ?”

“Tôi chưa từng bán đứng… cũng chẳng hề lật đổ.”

Adelaide không cười.

Gương mặt cô thoáng nét như định cười rồi lại thôi.

Tôi thầm nghĩ nếu là Roselin, hẳn cô đã bật cười ở chỗ này.

Chắc cô sẽ vừa cười vừa buông những lời cay độc để bêu rếu tôi.

Có cố bắt chước Roselin đi nữa, cái cảm giác sắc nhọn trần trụi đặc trưng ấy cũng chẳng ai học đòi theo được.

Tôi rít một hơi thuốc.

Tàn thuốc đã dài.

Không có gạt tàn nên tôi gõ tàn thuốc vào đĩa lót tách trà.

Chân mày Adelaide khẽ động nhưng cô không nói gì.

“Tôi có chuyện muốn hỏi.”

“Anh cứ hỏi đi. Dù sao tôi cũng đâu ở vào vị thế có thể từ chối.”

“Cứ từ chối cũng được. Không phải thẩm vấn, chỉ là tôi tò mò thôi.”

“…Anh hỏi đi.”

Tôi ngẫm nghĩ một thoáng xem nên bắt đầu từ đâu.

“Một ngày nọ mở mắt ra, không có cửa ra, chẳng có cửa sổ… mà trên cổ lại bị tròng một sợi xích móc thẳng lên trần nhà.”

“…Xích cổ sao?”

“Ban đầu tôi chỉ tìm cách từ từ tháo nó ra. Nhưng không tài nào tháo nổi. Cổ thì cứ ngày một nghẹt lại. Vào cái lúc chẳng nghĩ ra nổi cách nào để thoát, nếu là cô thì cô sẽ làm gì?”

Adelaide ôm chặt tách trà bằng cả hai tay lắng nghe.

Trà hẳn đã nguội ngắt từ lâu. Đầu ngón tay cô bấu chặt vào thành tách đến trắng bệch.

Chẳng rõ cô đã siết chặt như thế từ đoạn nào của câu chuyện.

Nghe tôi nói xong, Adelaide khẽ cười.

“Chịu thôi, thực tình tôi chẳng hiểu anh đang nói gì cả.”

“Cũng phải.”

“Mà anh hỏi chuyện lạ lùng thật đấy. Không lẽ đúng như lời đồn, đầu óc anh có vấn đề thật rồi sao?”

“Tôi vốn dĩ đã chẳng bình thường rồi.”

“…Ngẫm lại thì đúng là vậy thật.”

“Dù sao thì, một ngày nọ tôi bỗng nghĩ muốn cởi được sợi xích cổ ấy… thì chỉ cần chém một kẻ vô tội là xong. Chẳng có chứng cứ, chẳng có gì chắc chắn, chẳng có lấy một lý do đàng hoàng nào, chỉ đơn thuần là trong lòng thôi thúc bảo phải làm vậy.”

“Anh chém rồi sao?”

“Cô nghĩ sao?”

“Anh có hỏi tôi thì cũng chịu thôi. Tôi đâu phải người chuyện gì cũng tỏ tường như vị nghe đồn vừa chết đuối dưới hồ đợt này.”

Nhìn Adelaide nhấp một ngụm trà nguội, tôi bồi thêm một câu.

“Sau này cô tính sao?”

Adelaide nhún vai như thể chẳng biết.

“Tính sao là sao?”

“Dù sao hôn ước này cũng chỉ định đoạt qua loa như vứt rác, tôi với cô vốn chẳng thân thiết gì. Đêm dạ vũ ấy… đúng là có men theo bầu không khí, nhưng giờ thì làm gì còn không khí nào để say sưa nữa.”

Điếu thuốc cháy rụi.

Hơi thuốc cuối cùng lúc nào cũng đắng nhất.

Nuốt trôi vị đắng ấy, tôi dụi mẩu thuốc vào đĩa lót tách trà.

Mặt trời ngoài cửa sổ đang dần nghiêng bóng.

Khu vườn nhà Monvern hẹp hơn nhà Avenberg, nhưng lại rộng hơn nhà Grayan.

Dù là bên nào, giờ đây chúng đều có chung một điểm: là những khu vườn không còn chủ nhân.

Trong vườn chẳng thấy bóng dáng người làm vườn hay người hầu nào.

Nghe bảo cái ngày đám hiệp sĩ tràn vào, một nửa đã bỏ trốn, nửa còn lại chỉ lẳng lặng ra dọn dẹp qua loa rồi cố hết sức lẩn tránh ánh mắt người khác.

“Tối nay anh có ở lại ăn tối không?”

“Chắc phải ăn rồi mới đi.”

“Hôn ước… giờ này có còn quan trọng nữa đâu. Thời thế đang đổi thay rồi. Từng có mấy ai ngờ rằng Giáo hội lại ngóc đầu dậy lần nữa chứ? Ai cũng ngỡ họ sẽ mãi cúi đầu, chỉ lặng lẽ đón nhận đức tin thôi mà.”

“Adel.”

“Vâng.”

“Vì bản thân muốn sống… mà giết người khác, liệu có được không?”

“Chẳng có gì là không được cả.”

“Thế rồi sao?”

“Dù vậy người đời vẫn có từ để gọi những kẻ như thế đấy thôi.”

“Từ gì?”

“Cặn bã, rác rưởi.”

Trước khi chém người ta đã bị gọi như thế, sau khi chém rồi cũng vẫn bị gọi y hệt.

Ngày trước mỗi lần nghe thấy, tôi luôn giật mình hoảng hốt rồi cuống cuồng phủ nhận rằng mình không phải loại người đó. Nhưng có lẽ dù là Rihen hay tôi, cái mác rác rưởi ấy đều giống hệt nhau.

Người ta bảo phải đến đường cùng con người mới chịu nhận sai, hối hận và sám hối, nhưng cảm giác bực bội vẫn cứ cuộn trào trong tôi.

Bởi ngay cả sám hối mà phần lớn cũng chỉ làm vì sự an toàn của bản thân, và tôi cũng chẳng khác gì.

Thứ đó mà thốt ra thành lời thì cũng vô nghĩa, nên lúc nào nó cũng chỉ dừng lại trong lòng.

Tôi cũng chẳng buồn vung kiếm về phía Adel để thử vận may.

Đến nước này dẫu có chém bay đầu đứa con gái yếu ớt kia, đời nào lại có ai khen tôi làm tốt lắm rồi kéo tôi ra khỏi đây.

Muốn thoát khỏi thế giới này hay cố tìm cách ra ngoài, xét cho cùng cũng chỉ là trốn chạy.

Hệt như khi tôi tìm đến Arin.

Và đáng lẽ tôi đâu cần phải nổi cơn lôi đình chỉ vì nơi mình trốn đến không vừa mắt.

Không vừa mắt thì tôi sửa, tôi tự tìm cách giải quyết là được mà.

Đâu phải tôi không có năng lực.

Tôi có kiếm, có thời gian, và chỉ riêng việc có thể quay ngược lại đã cho tôi nhiều thứ hơn bất kỳ ai trên thế giới này.

Đến nước này tôi mới hối hận về tất cả những gì mình đã làm.

Bởi đi đến đâu, tôi cũng chưa từng tiến về một hướng đi đúng đắn.

Lúc nào cũng chỉ nhắm vào đường tắt, lối rẽ, chệch khỏi chính đạo rồi chỉ biết mè nheo than vãn.

Thay vì đối mặt với thứ cần đối mặt, tôi lại chọn cách cắt đứt để rồi sau khi cắt đứt mới biết đó không phải câu trả lời, vậy mà tôi vẫn tiếp tục cắt đứt lần nữa.

Lần nào cũng lặp lại cùng một nỗi ân hận như thể mới toanh, bảo sao người ta gọi là cặn bã cũng chẳng sai.

Dù vậy, con đường mà người khác vĩnh viễn chẳng thể quay đầu, tôi vẫn có thể bằng cách này hay cách khác lùi bước để trở về.

Tôi rút thêm một điếu thuốc ngậm vào môi rồi châm lửa.

Thẫn thờ nhìn theo bóng lưng Adel đứng dậy rời khỏi phòng.

Bàn tay chạm vào nắm đấm cửa khựng lại, rồi cô cứ thế bước ra ngoài mà không hề ngoảnh lại.

Cánh cửa khép lại. Căn phòng làm việc giờ chỉ còn lại một mình tôi.

Tôi thở ra một làn khói dài.

Đưa mắt nhìn về khung thông báo nơi góc tầm nhìn.

Thứ đã lơ lửng ở đó suốt mấy tháng ròng.

Tôi vươn ngón tay vào khoảng không.

Khẽ khựng lại trước ô [Không], rồi ngón tay từ từ di chuyển sang bên cạnh.

[Có]

Bạn đã đến cuối chương 44.

Không gian đọc của bạn