Địa điểm tổ chức lễ hội âm nhạc là một hội trường đa năng do quận quản lý, nằm cách trường đúng một ga tàu.
Dù các học sinh năm ba không tham gia vì gần thời điểm diễn ra kỳ thi, sự kiện vẫn cần một nơi đủ sức chứa cho hai phần ba toàn trường. Thành ra chúng tôi lại kết thúc ở một hội trường còn rộng hơn cả nơi dàn nhạc Animal Trail tổ chức buổi hòa nhạc Valentine. Tại đây, học sinh ngồi kín tầng một, trong khi phụ huynh cùng khách mời và khán giả lấp đầy tầng hai. Nghe đâu ngày trước trường từng tổ chức hội diễn trong nhà thể chất,nhưng sau khi không thể đáp ứng nổi lượng phụ huynh muốn tới tham dự và theo dõi các tiết mục, nhà trường mới bắt đầu thuê các địa điểm bên ngoài.
Có tổng cộng mười sáu lớp biểu diễn, mỗi lớp thể hiện một bài hát bắt buộc và một bài tự chọn trong thời lượng mười phút. Toàn bộ chương trình kéo dài khoảng ba tiếng, và đến khi kết thúc, Komori-sensei trông phờ phạc vì mệt mỏi.
“Phù, mệt quá đi mất… Nhưng cô đã cố gắng hết sức để lắng nghe từng phần trình diễn một rồi…”
Sau lễ trao giải, Komori-sensei trốn vào phòng thay đồ, vừa thở dốc vừa than thở.
“Với tư cách là giáo viên của các em, cô rất hạnh phúc khi thấy học sinh diễn tốt đến vậy… Nhưng việc chọn ra lớp thắng cuộc lại gian nan và tốn thời gian khủng khếp, chỉ vì thầy hiệu trưởng với hiệu phó cứ bất đồng ý kiến mãi thôi…”
“V-Vâng, cô đã vất vả rồi…”
Đối với tôi, trận chiến thực sự bây giờ mới bắt đầu, nên việc Komori-sensei sang đây than vắn thở dài có chút phiền phức…
"Mà em có biết điều tệ nhất là gì không?! Cô đã kỳ vọng lớp em sẽ là ứng cử viên nặng ký cho giải nhất đấy! Thế mà tụi em lại làm cô thất vọng tràn trề! Mấy đứa không thể làm tốt hơn được sao?!”
“Cái… Ý em là, cô thừa biết em đã phải dồn toàn bộ tâm trí cho bản
cantata
và bản
Biến tấu
rồi còn gì? Em làm gì có chút thời gian rảnh nào! Với cả, chính em cũng bất ngờ trước phần thể hiện quá tốt của các lớp khác nữa mà.”
Dù không biết toàn bộ bảng xếp hạng chi tiết, Lớp 1-7 của chúng tôi cũng chẳng thể chen chân vào top 5. Trong khi đó, Lớp 1-3 của Shizuki về ba, còn Lớp 1-4 của Rinko và Akane giành vị trí á quân… Thực ra thì tôi cũng không nên lấy việc luyện tập cantata ra làm cớ…
“Chà, tôi nghĩ, và đây hoàn toàn không phải lời nịnh hót mấy đứa trẻ đâu nhé, học sinh ở đây bạn nào cũng hát hay cả.”
Lắng nghe cuộc trò chuyện của chúng tôi từ phía sau phòng, Okonogi-san thong thả góp vui. Nói thêm thì chúng tôi đang dùng phòng thay đồ này cho các nam nhạc công của Dàn nhạc Giao hưởng Animal Trail. Tuy nhiên vì nhiều người trong số họ hút thuốc lá, khoảng một nửa đã kéo nhau ra khu vực hút thuốc, giúp căn phòng bớt chật chội hơn.
“Xem ra Komori-sensei đúng là một giáo viên tuyệt vời nhỉ?”
“Ôi không đâu, không phải nhờ cháu đâu mà là… Thực ra là nhờ Hanazono-senpai cả đấy ạ.”
Làm gì có chuyện đó, cô ấy toàn đùn đẩy hết việc dạy học cho tôi với Rinko đấy chứ,
tôi thầm nghĩ nhưng không nói ra.
“Mà buổi tổng duyệt của chúng ta cũng diễn ra trơn tru đến bất ngờ đấy chứ nhỉ?”
“Chắc hẳn chẳng dễ dàng gì cho một dàn hợp xướng vốn quen hát với tiếng đàn piano nay phải điều chỉnh để thích nghi với cả một dàn nhạc giao hưởng.”
"Đúng vậy, nhưng tôi nghe nói Maestro của chúng ta đã tự tay soạn phần đệm dàn nhạc cho họ để luyện tập đấy."
“Quả không hổ danh là Maestro của chúng ta.”
Tôi cúi gầm mặt khi tình cờ nghe được những lời bàn tán của các thành viên dàn nhạc. “Maestro của chúng ta", họ gọi tôi như thế… Rốt cuộc, cái biệt danh chứa đựng biết bao hàm ý đó vẫn dính chặt lấy tôi. Tôi thực sự ước họ sẽ nhẹ tay với mình hơn một chút…
Có tiếng gõ cửa vang lên.
“Mọi người ơi, sắp đến giờ rồi ạ!”
Cánh cửa mở ra, và Shizuki bước vào. Vì về lý thuyết đây là một sự kiện của trường, cô ấy đang mặc bộ đồng phục, nhưng điều đó lại khiến cô trở nên nổi bật giữa căn phòng đầy những người trung niên mặc tuxedo.
Ánh mắt cô ấy đảo quanh phòng rồi sáng rực lên khi bắt gặp tôi.
“Ôi, Makoto-san! Cậu mặc tuxedo kìa! Trông tuyệt vời lắm! Tớ cứ tưởng cậu định mặc nguyên bộ đồng phục chứ.”
“Ừ thì, cậu biết đấy, tớ nghĩ ít nhất thì mình cũng nên trông cho ra dáng một chút…”
Tôi nhìn xuống bộ trang phục của mình. Một chiếc nơ bướm màu trắng tinh nằm trên chiếc áo sơ mi xếp dún, còn phần cổ áo làm bằng chất liệu vải bóng bẩy, lấp lánh. Tôi từng băn khoăn không biết diện bộ này vào có khiến mình trông hơi làm màu quá hay không.
“Phải thế chứ. Diện mạo của cháu trên sân khấu quan trọng lắm đấy.”
“Một phần công việc của người chỉ huy là phải trông thật ngầu và chỉn chu, cậu biết mà.”
Mấy ông lão bắt đầu cười lớn. Nghe thì có vẻ họ đang trêu đùa, nhưng tôi biết họ nghiêm túc tới tám mươi phần trăm.
“Dù sao thì, chúng ta đi thôi nhỉ?”
“Cứ từ từ thôi, thưa Maestro.”
“Phải đấy, cháu xuất hiện ngầu đét ngay lúc khán giả bắt đầu sốt ruột thì mới đúng chất chứ.”
Không lâu sau, họ đều đã rời đi, để lại tôi một mình trong phòng thay đồ. Ai đó đã bỏ quên tờ chương trình, tôi cầm lên xem lại lần nữa, ngón tay vuốt dọc theo chất liệu bìa cứng dày dặn của nó.
Bên dưới danh sách các bài hát mà mười sáu lớp tự chọn là hai tác phẩm mà dàn nhạc sẽ biểu diễn.
Sáng tác bởi Johann Sebastian Bach.
Church Cantata, Herz und Mund und Tat und Leben, BWV 147.
Chương I: Heart and Mouth and Deed and Life.
Chương X: Jesu, Joy of Man’s Desiring.
Sáng tác bởi Igor Medvedev.
Hai Mươi Sáu Bản Biến Tấu Phục Hưng, Op. 6.
Rốt cuộc chúng tôi cũng đã đến được đây.
Giờ việc còn lại chỉ là châm ngòi cho ngọn lửa bùng cháy.
Khi tôi đến cánh cây sân khấu, các thành viên dàn nhạc không chỉ đã yên vị trên sân khấu mà còn hoàn tất việc chỉnh dây nhạc cụ. Về phần mình, các học sinh trong dàn hợp xướng cũng đang đứng chờ ở phía sau để chuẩn bị tiến ra; tất cả họ đều mặc đồng phục.
“Chà, trông bảnh đấy Murase.”
“Tớ chụp một tấm hình cho cậu nhé?”
“Giá mà tụi mình cũng được ăn diện đồng bộ thế này thì thích biết mấy.”
Không nằm ngoài dự đoán, bộ tuxedo của tôi lập tức thu hút sự chú ý của mọi người. Thì ra là lúc này tôi trông mới nổi bật như thế vì họ đều đang mặc đồng phục, chứ một khi bước ra đó, tôi sẽ hòa lẫn hoàn toàn vào dàn nhạc bởi ai trong số họ cũng ăn mặc chỉn chu như tôi mà, đúng không? Phải rồi, chắc chắn là vậy.
“Cậu biết không Makoto-chan, số lượng trang phục cậu phải mặc cho các buổi live cứ tăng lên liên tục đấy.”
Akane đi vòng quanh tôi mấy lượt, soi tôi từ đầu đến chân. Chuyện này làm tôi thấy hơi ngượng ngùng.
“Kaya mà nhìn thấy cậu trong bộ dạng này hẳn sẽ sướng phát điên cho xem,” Rinko nói thêm.
“Hôm nay em ấy không đến sao?”
“Cậu nên kiểm tra LINE đi,” Rinko vừa nói vừa giơ điện thoại ra trước mặt tôi. Thú thật thì tôi đã quá tập trung vào việc chỉ huy đến mức hôm nay còn chưa thèm ngó qua điện thoại lần nào.
“Em xin lỗi mọi người vì đã không đến. Em thực sự rất, rất muốn đi, nhưng em đang hồi hộp về kết quả thi đến mức chẳng thể tập trung vào việc gì khác, nên em sợ mình chẳng thể tận hưởng buổi hòa nhạc một cách trọn vẹn được.”
Dù chỉ qua dòng tin nhắn, tôi vẫn cảm nhận được sự bất an của Kaya. Cần nói thêm là kỳ thi tuyển sinh vừa mới diễn ra cách đây một tuần, và kết quả sẽ có vào ngày kia; ttôi khó lòng mà trách em ấy vì quá thấp thỏm chờ đợi tin tức đến mức không tâm trí đâu mà thưởng thức buổi hòa nhạc này.
“Để bù lại – dù nghe thì chẳng giống bù đắp cho lắm…”
Rinko ra hiệu về phía những hàng ghế ở tầng hai.
“…Bố mẹ tớ đều có mặt ở kia kìa.”
Tôi cứ nghĩ sẽ rất khó để nhìn thấy bố mẹ cô ấy từ vị trí cánh cây này, nhưng tôi lập tức nhận ra Saejima Toshiomi-shi. Ông ấy ngồi ở hàng ghế thứ tư từ dưới lên trên tầng hai, lệch sang bên trái trung tâm một chút. Bên cạnh ông là mẹ của Rinko, người mà tôi đã từng gặp một lần trước đây. Đường nét khuôn mặt của cả hai vốn đã rất khác biệt, nhưng ngay lúc này họ vẫn nổi bần bật – từ hai người họ như toát ra một luồng khí chất áp đảo đến kỳ lạ. Tôi chỉ có thể hình dung sống cả đời với những người bố người mẹ như thế hẳn phải vắt cạn sức lực đến nhường nào… Không, tôi không nên suy nghĩ như vậy; tôi nên thấy biết ơn vì họ đã đến, nhất là khi chính tôi là người đã thách thức họ ngay từ đầu.
Đúng lúc đó, một học sinh đeo băng tay – thành viên ban tổ chức lễ hội âm nhạc thì thầm với chúng tôi: “Mời các bạn trong dàn hợp xướng tiến ra sân khấu!”
Trong khoảng không tối om nơi cánh gà, tôi lại trơ trọi một mình.
Xem ra các nhạc trưởng thực sự sinh ra là để cô độc. Dù là bước lên bục chỉ huy để bắt đầu hay bước xuống khi kết thúc, dù là cúi chào đáp lại những cơn mưa lời khen hay lủi thủi rời sân khấu trong những tiếng la ó, nhạc trưởng vẫn luôn đơn độc.
Và cô độc, chỉ phải đối mặt với những linh hồn đã khuất lặng im ở phía bên kia bản nhạc chính là cách mà họ dành phần lớn thời gian của mình.
Và khi ngẫm lại tất cả, tôi nhận ra mình cũng đã làm điều tương tự suốt một thời gian dài; Tự nhốt mình trong phòng tôi, đeo tai nghe, ngồi trước màn hình máy tính, lặng lẽ xếp từng nốt nhạc hình vuông dọc theo dải piano roll. Có lẽ tôi thực sự hợp làm một nhạc trưởng chăng?
Tôi tự giễu một tiếng rồi lắc đầu.
Mới hoàn thành một bài hát thôi mà tôi đã thở không ra hơi rồi. Tôi chắc chắn không hợp làm nhạc trưởng chút nào.
Thế nhưng, nếu là cảm giác khao khát muốn được đứng trên đó một lần nữa…
“– và nhạc trưởng của họ, Murase Makoto đến từ Lớp 1-7.”
Người dẫn chương trình xướng tên tôi.
Tôi chỉnh lại nơ bướm một lần nữa trước khi bước ra khỏi cánh cây và chìm vào ánh đèn sân khấu.
Tràng pháo tay như một cơn mưa rào buổi chiều đổ xuống từ phía khán đài.
“Murase-kuuun!” “Mako-chaaaaan!” “MusaOOO!”
Tôi vô thức khựng lại ngay ở bước chân thứ ba. Này, ừm, các bạn học sinh dưới khán phòng ơi, mọi người có thể đừng hô hoán mấy câu như thế được không..? Kìa, mấy bạn không thấy các phụ huynh với khách mời đang ngơ ngác hết cả lên rồi sao?
Tôi có thể thấy những nụ cười tủm tỉm hiện lên trên gương mặt của các thành viên dàn nhạc và dàn hợp xướng đang nhìn mình, nên tôi nhanh chóng tiến về phía bục chỉ huy. Tôi cúi chào một cách gượng gạo về phía khán giả, nhưng vì lý do nào đó điều đó chỉ làm tràng pháo tay lớn hơn khoảng hai mươi phần trăm; lại còn lẫn vào những tiếng reo hò kỳ quặc kiểu “Kyaaaaa!” và “Uoooohh!” nữa chứ…
Tôi bắt tay với Concertmistress Tabata-san, người rõ ràng đang cố nhịn cười, trước khi bước lên bục chỉ huy.
Tôi quay lưng về phía khán giả và cố định mắt vào giá nhạc trước mặt trong lúc chờ đợi tiếng ồn ào dịu xuống. Tôi tự trấn an bản thân rằng những gì vừa xảy ra là một điều tốt, vì nó thực sự giúp tôi bớt căng thẳng đôi chút…
Chẳng mấy chạp, tiếng vỗ tay và bàn tán hoàn toàn lắng xuống.
Trong một khoảnh khắc, tôi đã định quay lại nói với khán giả rằng: “Mọi người biết không, tôi đã phải chờ mất hai phút mười tám giây để tất cả trật tự đấy,” nhưng rốt cuộc, tôi chỉ lặng lẽ nhấc chiếc đũa chỉ huy khỏi giá nhạc.
Đầu tiên sẽ là Bach.
Tôi lướt mắt qua các thành viên của dàn nhạc và dàn hợp xướng trước mặt, nhanh chóng chạm mắt với từng người để đảm bảo họ đã sẵn sàng. Từ hàng ghế nữ cao đầu tiên, Akane mỉm cười và vẫy tay khi tôi nhìn qua – này, dừng lại đi chứ – trong khi bên cạnh cô ấy, Shizuki bắt đầu vẫy cả hai tay như muốn thi đấu. Trong khi đó, người lẽ ra phải kiềm chế họ lại là Rinko thì lại xui xẻo đứng cách đó một đoạn, thuộc nhóm nữ trầm.
Bằng một cú hất dứt khoát, tôi giơ cao chiếc đũa chỉ huy, hướng đầu đũa lên trên.
Những cây vĩ của bè violin và viola đồng loạt giương cao về phía trần nhà, trong khi bè kèn đồng chĩa thẳng loa kèn trumpet về phía khán phòng.
Đó là một khởi đầu hoàn hảo – tiếng kèn trumpet mừng hội kéo theo dàn dây và oboe, dệt nên những dải giai điệu trải dài qua bầu trời rộng mở. Những thanh âm hồ hởi được truyền sang dàn hợp xướng nữ, và họ cất lời xướng đáp rồi dội lại, để rồi lại đáp lời thêm một lần nữa, vẽ nên bản tẩu pháp biến ảo đầy màu sắc và sống động.
Sự hoà quyện của những giai điệu này thật dễ chịu làm sao. Độ vang ấy hiện rõ trong ánh mắt lấp lánh của dàn hợp xướng, mê đắm tới mức khiến người ta ngạt thở. Mà làm sao không tuyệt cho được? Ở đó có những vần thơ tiếng Đức cứng cỏi,sự gắn kết chặt chẽ của những nốt móc đơn và móc kép trêu đùa màng tai rồi đọng lại nơi đầu môi – Đó là độ vang vỗ về cất lên từ chất liệu ấm áp của cuộc sống,, giống như việc xắn một chiếc nĩa vào ổ bánh táo mới nướng nóng hổi.
Mỗi một lần tiếp xúc với một tác phẩm baroque, cùng một ý nghĩ lại hiện lên trong đầu tôi: một lời nhắc nhở về ý niệm thuở ban sơ của việc sáng tạo âm nhạc.
Đó chính là, bày tỏ nhịp điệu của niềm hân hoan trong cuộc sống.
Ngay cả từ thời còn phải săn bắn để sinh tồn, con người vẫn hát, vẫn nhảy múa, vẫn tạo ra âm nhạc từ hộp sọ của những con thú săn được. Rồi chẳng mấy chốc, các thang âm ra đời, kéo theo sự phát hiện và phát triển của hòa thanh, rồi đối điểm, phối khí, điện tử, khuếch đại, thu âm, chất kích thích, tôn giáo… Hết thứ này đến thứ khác được thêm vào cuộc vui, và âm nhạc cứ thế lớn dần, lớn dần, vĩ đại hơn bao giờ hết.
Thế nhưng, những gì nằm ở gốc rễ sau tất cả vẫn chẳng hề đổi thay, dù cho hàng chục nghìn năm có trôi qua.
Giai điệu lễ hội quay trở lại, khéo léo uốn lượn quanh dàn hợp xướng để hòa làm một thể thống nhất vươn rộng ra khắp không gian. Chẳng mấy chốc, bản nhạc đi vào đoạn kết; tiếng kèn trumpet vang lên sang sảng, xé tan không khí để đáp nhẹ xuống ngay trên các đầu ngón tay tôi.
Và rồi, hợp âm vốn được kéo dài từ đầu đến cuối ấy bị ngắt đi trong sự luyến tiếc khôn nguôi.
Sau một nhịp nghỉ để hít một hơi thật sâu, tôi lại giơ cao chiếc đũa chỉ huy lần nữa. Giai điệu trong trẻo tuôn trào từ dàn dây – bản thánh ca của chương cuối. Cây violin thứ nhất và kèn oboe thứ nhất chơi một chuỗi nốt liên ba giòn giã không hồi kết, băng qua dòng suối nhỏ lười biếng của cây violin thứ hai. Và từ suối nhỏ nó trở thành dòng sông, và từ dòng sông nó chảy qua thung lũng để hòa vào dàn hợp xướng bốn bè đầy thuần khiết và uy nghi đang đón chờ phía bên kia.
Người ta vẫn thường bảo Johann Sebastian Bach sáng tác âm nhạc như một phần trong nhịp sống thường nhật của ông.
Trong số các tác phẩm trong cuộc đời ông, chỉ riêng những bài được ghi chép chỉn chu đã lên tới hàng ngàn. Với những tác phẩm chưa hoàn thành và những bản ngẫu hứng, hay cả những tác phẩm còn chưa được tìm ra, con số ấy hẳn phải nhân lên gấp nhiều lần. Đối với Johann Sebastian Bach, sống, cầu nguyện và sáng tác đều quan trọng như nhau; hơi thở của ông là luồng gió từ ống thổi của đàn organ trong khi lời nói của ông là những vần thơ của một bài thánh ca.
Tỉnh giấc, cầu nguyện, dùng bữa, sáng tác, dùng bữa, cầu nguyện, sáng tác, cất lời ca, cầu nguyện, rồi chìm vào giấc ngủ.
Ngay cả khi mái tóc đã điểm bạc theo năm tháng, ông vẫn miệt mài duy trì nhịp sống ấy.
Một cuộc sống tuyệt vời biết bao, tôi thầm nghĩ. Thế nhưng một cuộc sống như vậy nay đã chẳng còn tồn tại; những lý do phức tạp, những lời bào chữa rẻ tiền, cùng vô vàn ham muốn đầy cám dỗ đã trở thành những xiềng xích trói chặt lấy âm nhạc của thời hiện đại.
Nhưng đó là lý do tại sao bản thánh ca này, cất tiếng hát về niềm vui không đổi của nhân loại lại trở nên chói loà như thế với tôi.
Khi dàn hợp xướng đi đến hồi kết, tôi để mình chìm đắm trong những dư âm còn sót lại của dàn dây ở đoạn coda, xúc động đến mức nước mắt chực trào. Lòng tôi cuộn trào một cảm giác ngợp ngợp đến mức chẳng còn đủ sức quay người lại đối diện với tràng pháo tay khán phòng; thật quá sức để ngay cả việc hạ chiếc đũa chỉ huy xuống, và vì vậy tôi chỉ đứng yên tại chỗ, hoàn toàn tê cứng.
Sự lo âu bắt đầu lan rộng trên gương mặt các thành viên dàn nhạc, cuối cùng tràn sang cả dàn hợp xướng. Phải tới khi nhìn thấy Shizuki dường như sắp sửa lao về phía mình, tôi mới bừng tỉnh khỏi cơn mê.
Tôi xua tay như muốn cản cô ấy lại, một cử chỉ trấn an để ra hiệu rằng mình hoàn toàn ổn trước khi xoay người, bước xuống khỏi bục và trao một cú cúi chào.
Tiếp theo, tôi ra hiệu về phía dàn hợp xướng như thể giới thiệu họ, và tràng pháo tay dường như tăng lên gấp đôi. Mồ hôi của sự mệt mỏi dễ chịu chảy dài khắp cơ thể tôi suốt thời gian đó, như một minh chứng cho niềm vui được sống.
Mọi công sức luyện tập suốt hơn nửa năm qua rốt cuộc đã thu về thành quả ngọt ngào. Dù điều này có xuất phát từ sự ích kỷ của cá nhân tôi đi chăng nữa, tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc khôn xiết khi nhìn họ được cất giọng cùng một dàn nhạc thực thụ. Đó thực sự là dàn hợp xướng tốt nhất mà tôi có thể hy vọng; đó là tất cả những gì tôi cảm nhận được khi nhìn họ rời khỏi khán đài qua phía bên trái sân khấu.
Sẽ yên bình biết bao nếu buổi hòa nhạc khép lại ngay tại đây.
Và có lẽ ngay lúc này, khán giả dưới kia cũng đang chung một suy nghĩ –
Đáng ra chương trình nên dừng lại ở cao trào đó mới phải chứ,
họ hẳn đang tự hỏi như thế,
Thế còn bài hát bí ẩn với cái tiêu đề dài ngoẵng ghi ở cuối chương trình kia là sao chứ?
Đó chính là cái tôi của tôi.
Thật tốt khi chúng tôi đã bắt đầu với Bach, bởi vì sự thuần khiết và vẻ đẹp của nó sẽ chỉ làm tăng thêm tội lỗi mà chúng tôi sắp sửa phạm phải.
Một cơn rùng mình lạnh ngắt chạy dọc cơ thể tôi, nhưng tôi vẫn bước lên bục chỉ huy một lần nữa.
Tràng pháo tay dừng lại một cách ngơ ngác, đột ngột.
Điều gì sắp bắt đầu đây, họ hẳn đang thắc mắc.
Một tang lễ.
Tôi từ từ đưa chiếc đũa chỉ huy lên ngang tầm mắt.
Và với một cú vung tay, như thể lướt trên mặt nước mà không để lại gợn sóng, tôi khắc lên những nốt nhạc mở đầu.
Đoạn mở đầu là một cuộc vật lộn xuyên qua màn đêm tăm tối, được tấu lên với nhịp điệu
allegro lamentoso
– tốc độ của đoàn người khiêng cỗ quan tài. Viola, cello cùng double bass tấu lên giai điệu kéo dài, đơn sơ tạo nên sự u uất, với hai, rồi ba, rồi bốn giọng ở bè cao vẽ thêm nhiều lớp. Và rồi kèn bassoon cùng oboe tự cuốn mình vào giai điệu tang thương này, ngay cả khi dàn kèn gỗ vang vọng vào không gian xa xăm rồi đọng lại.
Tôi nín thở, kiên nhẫn nén lòng chờ đợi bản biến tấu thứ sáu.
Khoảnh khắc bắt gặp ánh kim loại bắt sáng lấp lánh từ bè kèn đồng ở góc mắt, tôi vung cao đũa chỉ huy.
Tiếng kèn trumpets vang lên gắt gao, gửi những tiếng vang rỗng tuếch, trong trẻo qua không gian tĩnh lặng.
Cơn lạnh thấu xương ép chặt lấy da thịt tôi. Các thành viên của dàn nhạc đang ngồi giương mắt nhìn.Và về phần khán giả, họ chắc chắn cũng đã nghe thấy.
Họ chắc chắn đã nghe thấy tiếng chuông báo tử.
Đó là tiếng chuông tử thần của một thánh đường trong Cuộc cách mạng Nga, vang lên những hồi chuông cuối cùng trước khi đám đông cuồng nhiệt xô đổ toàn bộ tháp chuông xuống đất. Đó là niềm đau thương đè nát cất lên từ một quả chuông chẳng thể thoát khỏi số phận: bị nấu chảy để đúc thành nòng súng, mũ cối, hay nồi niêu song chảo.
Âm thanh này chính là điều tôi mong muốn.
Chưa một lần nào chúng tôi tạo ra âm thanh này, những lời than khóc của người chết trong lúc tập luyện.
Sân khấu thực sự là một sinh vật sống theo cách riêng của nó, và chỉ bằng cách chà đạp lên bản thánh ca ca ngợi cuộc sống, bằng cách phản bội lại sự hân hoan của hàng trăm người có mặt, chúng tôi mới có thể gióng lên tiếng chuông cho đám tang của nó.
Vẫn còn nữa sao,
nhịp rung trên những cây vĩ violin như muốn cất lời hỏi.
Dĩ nhiên là còn chứ,
tôi trả lời bằng một cú vẫy đũa,
Chúng ta có thể đi sâu hơn nữa, vào những tầng sâu còn lạnh giá hơn nữa.
Và thế là trong nhịp điệu náo nhiệt, nhảy múa của bản biến tấu thứ mười hai, dàn kèn gỗ khuấy động thành một vòng lặp cuồng loạn:cướp lấy ánh sáng rồi lại dìm tất cả trở lại bóng tối chỉ sau một nhịp vũ điệu.
Thật đáng sợ. Chúng ta hoàn toàn có thể vỡ tan mất thôi.
những điệu nhạc run rẩy của cây sáo như muốn gào lên. Nhưng thì sao chứ? Cứ việc vỡ tan đi. Mọi người – không, mọi thứ ở đây chỉ là một phần của một nhạc cụ. Và nếu có bất kỳ phần nào bị vỡ, tất cả những gì tôi phải làm là nhặt nó lên và dán lại.
Đó chẳng phải là lý do một nhạc trưởng tồn tại hay sao.
Nếu để yên, vị vua của các các loại nhạc cụ này sẽ chỉ nhè ra một phần trình diễn hoàn hảo đến phát chán. Vì vậy, tôi phải đập tan nó thành từng mảnh, xé rách toàn bộ, để lôi tuột cái hơi nóng phập phồng đang chôn giấu bên trong ra ngoài, để giải phóng thứ chỉ có thể được khai sinh trong những khoảnh khắc trên sân khấu. Rốt cuộc, sự sống chỉ bùng cháy rực rỡ nhất ngay trong khoảnh khắc ngắn ngủi khi sự hư vô của cái chết bị gạt phăng đi.
Và bản thân tôi cũng không hề biết.
Tôi đã không biết rằng
Biến Tấu Phục Hưng
… lại là một tác phẩm như thế.
Nó từng giống như việc đi lạc vào một mê cung gương, cố gắng để rồi thất bại trong việc tìm kiếm câu trả lời qua cuộc đối thoại không hồi kết với nhà soạn nhạc. Nhưng câu trả lời là ở đây.
Nó đến từ bên trong tôi, nơi những âm thanh không thể tưởng tượng nổi trào ra, hết âm thanh này đến âm thanh khác – nó thực sự ở đây, sâu thẳm bên trong tâm hồn. Tôi thả mình tan chảy vào dàn nhạc, nơi chỉ một chuyển động nhỏ nhất ở ngón tay tôi cũng đủ cất lên tiếng lòng ẩn giấu của violin và cello, nơi chỉ một cú chớp mắt của tôi cũng có thể rút ra giai điệu từ oboe cùng sáo.
Từ tro tàn, chúng tôi kéo ra một cái xác đáng thương, bắt nó phải nhảy múa cho tới khi tứ chi đứt rời trong vẻ đẹp của cái chết thứ hai. Và giờ đây, khi đã thấu hiểu tác phẩm mình đang chơi – bước tiếp theo chính là kết liễu nó. Đó là bản biến tấu thứ hai mươi tư, với nhịp điệu rực cháy đến mức không thể theo kịp thêm nữa, và chúng tôi tiếp tục tiến lên, đẩy tới khoảnh khắc mà tất cả sẽ sụp đổ. Tại đây, sự vươn lên của giai điệu trumpet chính là ngọn lửa bùng cháy từ những khúc xương bị đày đọa.
Tôi vung gậy chỉ huy như thể muốn đập tan khoảng không vô định trước mặt.
Và thế là chúng tôi đến với bản biến tấu thứ hai mươi lăm.
Đó là làn khói bắt đầu lấp đầy bầu trời rực sáng trong hoàng hôn, một sự hiện diện đột ngột trỗi dậy từ trong tĩnh lặng.
Chủ đề bản nhạc là vậy, và khi nó kéo dãn rồi tinh giản lại, thoát ra bản tẩu pháp cuối cùng – rốt cuộc chúng tôi đã đến, bản biến tấu thứ hai mươi sáu. Tôi cảm nhận được sức lực của mình từ từ rút cạn và tan biến khỏi các đầu ngón tay; suýt chút nữa tôi đã làm rơi đũa chỉ huy, chỉ kịp gồng mình siết chặt lấy nó ngay trước khi quá muộn.
Một tiếng trầm đục uy nghi cất lên từ bè double bass đã đỡ lấy tôi; cảm giác ấy thực sự an tâm đến lạ thường.
Và ngay trong khoảnh khắc đó, tôi đã nhìn thấy bóng hình ấy.
Đó chắc chắn phải là một ảo giác, tôi khẳng định như vậy.
Thế nhưng, tôi tuyệt đối đã nhìn thấy.
Nó ngồi ngay bên cạnh Okonogi-san, tựa vào một chiếc nhạc cụ cao hơn cả nó. Nó đã vỗ về những sợi dây kim loại dày dặn, và như đang đu đưa một đứa trẻ, nó kéo cây vĩ qua lại theo hình dáng của cô ấy.
Tôi cũng có người ấy nâng đỡ mình nữa.
Tôi giữ ảo giác đó ở lại ngay cả khi tôi chuyển sự tập trung sang violin thứ hai. Thông qua tiếng vang và sự đáp lại, chủ đề đã đổi giọng, và hình dáng của nó cũng thay đổi theo hình học, một tinh thể trong suốt vỡ vụn thành hàng ngàn, hàng chục ngàn mảnh nhỏ li ti, những mảnh nhỏ ấy lại tiếp tục vỡ vụn thành hàng ngàn, hàng triệu mảnh dệt nên những dải phân dạng lấp lánh đến choáng ngợp…
Và rồi, bản tẩu pháp sáu bè đó được đổ trở lại vào dàn nhạc, để dẫn vào đoạn cao trào kết thúc.
Tôi vung chiếc đũa chỉ huy một lần cuối cùng, dốc hết chút sức lực còn lại. Hai tay tôi mở rộng, và tôi ôm lấy hợp âm cuối cùng bằng toàn bộ cơ thể mình.
Tôi cảm nhận được âm thanh thẩm thấu vào từng tế bào trên cơ thể mình.
Tác phẩm đã khép lại từ thời điểm đó ra sao, tôi chẳng thể nào nhớ rõ; tôi chỉ bừng tỉnh lại khi tràng pháo tay rào rào dội thẳng xuống đỉnh đầu.
Chính lúc này tôi mới nhận ra khuỷu tay cùng đầu gối mình đã run rẩy và bủn rủn từ bao giờ, và một thứ gì đó ướt đẫm – chẳng thể phân định nổi là mồ hôi hay nước mắt – lăn dài xuống cằm, làm ướt đệm cả phần cổ áo tuxedo.
Đôi mắt tôi từ từ mở ra – mắt tôi đã nhắm nghiền lại từ lúc nào không hay.
Chào đón tôi là toàn bộ dàn nhạc, đang giương mắt nhìn lại. Gương mặt họ ửng hồng và đôi mắt họ lấp lánh.
Và ở bên cạnh double bass… chỉ có một mình Okonogi-san.
Tôi đã biết rồi; tôi vốn biết đó là một ảo giác. Những gì tôi nhìn thấy là thứ mà sự căng thẳng và phấn khích của tôi muốn tôi nhìn thấy. Thế nhưng tôi biết điều này: nó đã nâng đỡ tôi.
Và tôi đã hoàn thành. Tôi đã vắt kiệt tất cả những gì mình có. Không còn một giọt năng lượng nào còn lại trong tôi lúc này. Tôi có cảm giác mình sẽ ngã lộn cổ khỏi bục chỉ huy nếu cố thử nhìn xuống dưới, nên tôi giữ nguyên đầu mình không nhúc nhích; suốt khoảng thời gian ấy, tràng pháo tay vẫn tiếp tục vang lên không ngớt, xối xả đập vào lưng tôi một cách không thương tiếc.
Tôi cần phải đáp lại họ; tôi vẫn phải tiễn họ bằng một cú cúi chào đàng hoàng.
Thế nhưng, đôi chân tôi lại không chịu nhúc nhích.
“Cậu ổn chứ, Maestro?”
Một nhạc công chơi sáo trung niên nào đó, rõ ràng đang cố nén cười, trêu chọc.
“Chẳng lẽ cậu còn chẳng còn chút sức lực nào để xoay người lại sao? Tôi đỡ cậu một tay nhé?”
Tôi chỉ có thể gượng cười đáp lại.
“…Cháu ổn mà.”
Và rồi tôi suýt nữa thì nhào lộn khỏi bục chỉ huy ngay sau khi nói câu đó. Concertmistress Tabata-san đã đỡ lấy tôi kịp thời, và mặc kệ trông tôi có vẻ nhếch nhác đến nhường nào, điều đó chỉ làm tràng pháo tay đổ xuống thậm chí còn dữ dội hơn.
Trong khi các thành viên của Animal Trail đang lên kế hoạch đi uống mừng sau buổi diễn, một tin nhắn LINE từ Rinko xuất hiện trên điện thoại tôi.
“Bố tớ muốn nói chuyện với cậu.” “Ông ấy đang đợi ở sảnh, cậu ra ngoài được không?"
Sau khi đọc tin nhắn của cô ấy, tôi ngửa đầu ra sau nhìn chằm chằm lên trần nhà trước khi hít một hơi thật sâu.
Chuyện với bố của Rinko – quên béng mất tiêu rồi! Tôi đã quá tập trung vào phần trình diễn của mình.
Và với tư cách là người đã chủ động khiêu chiến, đã mời ông ấy cất công tới đây lắng nghe, tôi chẳng thể nào phủi tay tiễn ông ấy về bằng một câu “Cảm ơn bác đã tới, chào bác nhé!” sau khi mọi chuyện đã xong xuôi được.
“Cháu cần ra ngoài một chút ạ.”
Tôi thì thầm với nhóm các ông lão đang ngồi gần đó.
“Hả? Kìa Maestro, cậu không định bùng kèo đấy chứ?”
“Tối nay cháu là người trả tiền nhậu đấy, nhớ nhé!”
“Đúng rồi! Và tốt nhất là cháu phải trụ lại ít nhất ba tăng đấy, Maestro!”


