Về truyệnTiếng Vọng Thiên Đường
Chương 62

Chương 62 · 121 chương

2: Điệp Khúc Của Ngày Qua Và Mai Sau

Cuộc tái ngộ của tôi với Takuto-san diễn ra vào một ngày cuối tuần của hai tuần trước Giáng sinh.

“Sao lại hẹn gặp ở phòng thu? Mà cậu lại bảo tôi mang theo cả guitar nữa làm gì?”

Anh ta đã bắt đầu cằn nhằn ngay từ khoảnh khắc hai bên vừa chạm mặt.

“Chẳng phải lần đầu tiên gặp nhau, Takuto-san cũng bảo em mang guitar đi còn gì?”

Anh ta cau có trước lời vặn lại của tôi.

Dù vậy, việc anh thực sự xuất hiện, lại còn mang theo cả đàn guitar, đã chứng minh cho tôi thấy rõ ràng rằng sâu trong thâm tâm, anh ta là một người thuần khiết và chân thành. Và, oa, cây đàn anh ta mang theo không phải loại tầm thường đâu, đó là một cây Taylor 912ce đấy; liệu tôi có được phép chạm vào nó không nhỉ? Liệu anh ta có cho tôi thử gảy vài nốt, dù chỉ một chút thôi không? Ồ, suýt thì quên, đó đâu phải lý do tôi hẹn anh ta cất công đến tận đây; tôi không nên lãng phí thời gian của anh ta như thế này. Anh ta chắc hẳn bận rộn lắm, nghe nói anh ta cứ phải bay đi bay lại giữa đây và nước Anh suốt; có khi sắp tới lại phải đi rồi cũng nên.

“Thì, vâng, ừm, các track khác đều đã làm xong cả rồi. Thứ duy nhất chúng ta còn thiếu là phần giọng hát và tiếng guitar thôi, Takuto-san.”

“Cái gì cơ? Cậu giải thích xem chính xác là cậu đang đột ngột định bày ra cái trò gì ở đây thế?”

“Không hề đột ngột chút nào đâu ạ. Chính anh đã nói vào lần trước rồi còn gì: chúng ta sẽ thu âm lại bài hát đó.”

“Làm cái gì cũng phải có trình tự của nó chứ! Cậu đã gặp Makita-san chưa đấy?”

“Em đã gặp rồi, và còn xin phép để sử dụng không chỉ bài hát mà còn cả bản phối thô của nó nữa. Giờ em chỉ cần phần điệp khúc, còn lại em có thể tự xoay xở–”

“Thế, Makita-san đã nói gì?”

Và xin ai đó nhắc lại cho tôi nhớ xem, kẻ nào mới là người đã bảo rằng mình chẳng có gì để nói với anh ấy nhỉ? Tôi rất muốn trêu chọc anh ta về chuyện đó, nhưng rồi lại thôi; tôi không thể lãng phí thêm chút thời gian nào vì hôm nay đã thuê một phòng thu vô cùng đắt đỏ. Tôi muốn hoàn thành tất cả mọi việc càng sớm càng tốt.

“Chuyện đó chúng ta nói sau đi. Cứ bắt đầu thu âm cái đã. Ý em là, anh cũng đã làm điều tương tự trong lần đầu chúng ta gặp nhau, bắt em chơi một buổi session còn gì? Cứ coi như đây là đáp lễ đi.”

Takuto-san trông như thể vẫn còn điều gì đó muốn nói, nhưng tôi đã bắt đầu thao tác trên bàn điều khiển và máy tính xách tay. Chẳng mấy chốc, âm thanh của một dải âm nhịp điệu dày dặn kết hợp với tiếng đàn dây cùng giọng hát trong trẻo của Makita Shun đã bắt đầu lấp đầy phòng điều khiển.

Takuto-san dường như đã nuốt lại những lời định nói, rồi tôi tạm dừng bản nhạc.

“Vậy chúng ta bắt đầu với phần guitar trước nhé.”

Dẫu trong lòng đang sợ chết khiếp, nhưng tôi vẫn cố nói bằng giọng quả quyết.

Takuto-san ngồi im lặng, khuôn mặt vẫn lộ vẻ hầm hầm khó chịu, nhưng chẳng mấy chốc, anh ta đã ôm theo cây guitar của mình bước vào buồng thu âm. Tôi khẽ thở phào nhẹ nhõm

Người ta thường bảo rằng các nhạc sĩ sở hữu một mức độ tập trung không tưởng trong lúc thu âm. Điều này có vẻ đặc biệt đúng vào lúc này, khi chất lượng phần biểu diễn của Takuto-san nằm ở một đẳng cấp hoàn toàn khác biệt so với bản cũ. Thậm chí, anh ta còn có chút thảnh thơi để chỉ dẫn cho tôi những chỗ cần điều chỉnh trong phần điệp khúc.

“Vấn đề không phải là đi tìm xem giọng của cậu hay giọng của Makita-san nên là giọng chính. Giọng của hai người phải hòa quyện vào nhau; những nốt cao của cậu phải bay bổng, còn những nốt trầm phải gầm vang. Chuyện này hoàn toàn khả thi vì cậu chính là người hát nó mà.”

“Em sẽ cố, nhưng… ờm, còn phần rap thì sao ạ? Em có nên rap đè lên đoạn hook không? Vì nếu nghe quen thuộc thì giai điệu sẽ dễ hòa quyện hơn chăng?”

Nhưng khi tôi thử làm, phần rap của tôi đã vấp phải sự chỉ trích gay gắt.

“Chẳng ai muốn nghe cái thứ đó cả. Cậu phải xử lý nó như thể đang chơi một nhạc cụ gõ; đừng nghĩ ngợi quá nhiều về lời, đặc biệt là mấy từ nối hay mạo từ – những chỗ đó cậu cứ tặc lưỡi cho qua là được. Quan trọng là cậu cần phải nhấn đúng trọng âm.”

Tôi không có đủ kinh phí để thuê một kỹ sư âm thanh, vì vậy hai chúng tôi đành tự mình xoay xở toàn bộ quá trình thu âm – người này vào phòng thu thì người kia sẽ vận hành bàn điều khiển. Tôi thấy nhẹ nhõm khi Takuto-san cũng biết cách sử dụng các thiết bị thu âm, nhưng đồng thời, anh ta lại cực kỳ khắt khe với từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Những yêu cầu của anh ta ngày càng leo thang hơn, đến mức khó mà phân biệt nổi ai mới là người dẫn dắt buổi thu âm này.

Thế nhưng, tôi bắt đầu có cảm giác các ý tưởng của mình đang định hình một cách hoàn hảo và ăn khớp chính xác với từng âm thanh… Cảm giác ấy thật thỏa mãn biết bao.

Cuối cùng, sau ba tiếng đồng hồ ca hát không ngừng nghỉ, Takuto-san mới chịu gật đầu duyệt.

Dù đang là mùa đông nhưng lò sưởi trong phòng thu đã bị tắt từ lâu, tôi chỉ còn mặc độc một chiếc áo thun trên người. Tôi quay trở lại phòng điều khiển và nốc cạn chai nước thứ ba.

“Cậu định ghép các takes

[note100444]

ở đây luôn à?”

“Dạ, v-vâng, chắc là em sẽ làm luôn… Chỉ là… cho em xin một vài phút…”

Tôi dừng lại để lấy lại hơi trước khi di chuyển đến trước máy tính. Tôi chọn ra những bản ghi âm tốt nhất trong số các takes vừa thu rồi ghép chúng lại thành một track hoàn chỉnh. Dẫu vậy, bất kể khi lắng nghe phân đoạn nào, những takes đầu tiên của Takuto-san luôn là những bản tuyệt vời nhất, sở hữu sự cân bằng hoàn hảo giữa nét gai góc và sự dịu dàng; anh ta hẳn là kiểu người tập trung trọn vẹn vào khoảnh khắc cảm hứng bùng nổ. Tôi thì lại khác; đối với tôi, luôn có những phần bản thân làm tốt hoặc tệ hơn, vì vậy tôi buộc phải chắp vá những đoạn ổn định lại để khỏa lấp đi những chỗ còn non nớt. Còn về phần Makita Shun, tôi có sẵn các tracks cho phần điệp khúc của anh ấy, nên tôi đã ghép chúng lại ở những đoạn có thể.

Sau khi thực hiện các điều chỉnh theo ý kiến đóng góp của Takuto-san, tôi hoàn thiện những công đoạn cuối cùng cho các phân đoạn đã được duyệt trước khi nghỉ ngơi mười phút. Việc nghe đi nghe lại một bài hát trong suốt thời gian dài như vậy đã bào mòn các giác quan của tôi, đến mức bấy giờ tôi chẳng còn phân biệt nổi thế nào là hay hay không nữa. Tôi bước ra khỏi tòa nhà và đón lấy làn gió buổi tối, lặng nhìn những chiếc xe lướt qua trên đường và lắng nghe tiếng động cơ cùng tiếng tàu hỏa vọng lại từ xa.

Chỉ sau khi đầu óc và cơ thể đã nguội bớt, tôi mới quay trở lại bên trong phòng thu.

“Cậu định tự mixdown luôn đấy à?”

“Vâng ạ. Nhưng chỉ là một bản tạm thời mà thôi.”

Tôi xếp các âm thanh riêng biệt lại với nhau, cân bằng âm lượng của chúng và điều chỉnh sự sắp xếp không gian, rồi biên dịch tất cả thành một nguồn âm thanh nổi duy nhất. Tiếng trống đến từ một khuôn mẫu có sẵn, tiếng bass và nhạc cụ phím là do tôi đảm nhiệm, còn tiếng guitar là của Takuto-san. Và rồi, ngự trị trên đỉnh của tất cả chính là phần giọng hát.

Không còn nghi ngờ gì nữa, bài hát này chính là sản phẩm từ ba con người: Takuto-san, tôi, và Makita Shun.

Bản phối cuối cùng cũng hoàn thành. Tôi thiết lập đầu ra cho loa của phòng điều khiển và bật bài hát đã hoàn thiện lên.

Một tiếng gảy guitar sắc lẹm đột ngột cứa vào não tôi, đánh thức cả tâm trí vốn đang rệu rã sau những giờ thu âm lặp đi lặp lại đến tẻ nhạt.

Takuto-san thả mình xuống chiếc ghế bên cạnh tôi, chăm chú lắng nghe điệu nhạc trong khi đôi mắt vẫn đờ đẫn hướng về phía buồng điều khiển trống rỗng bấy giờ.

Khi đoạn rap bắt đầu trỗi dậy tựa như những bong bóng khí nổi lên từ đáy đại dương sâu thẳm, Takuto-san chậm rãi nhắm mắt lại.

Tại sao mọi chuyện lại thành ra thế này?

Tôi tự hỏi lòng mình.

Giọng hát ấy sắc sảo và đầy tính công kích, nhưng khi những ca từ bắt đầu lặp đi lặp lại, nó lại nghe như tiếng khóc nghẹn ngào của một đứa trẻ. Ngay khi một cơn đau âm ỉ đột ngột ập đến lồng ngực tôii, giọng falsetto của Makita Shun cất lên, dịu dàng rơi xuống như một làn mưa dịu dàng rẽ lối cho những tầng mây đen kịt. Và rồi giọng hát của tôi xuất hiện, trở thành một cây cầu cầu vồng nối liền hai giọng hát xa cách như thể trời với đất.

Một nỗ lực để kiếm tìm sự gắn kết…

…và cuối cùng, chúng đã hòa quyện vào nhau.

Đây là bài hát tôi đã phả vào mic hàng chục lần, thuộc lòng đến mức ngán ngẩm, vậy mà giờ đây chính tôi lại đang hạnh phúc ngân nga theo từng nốt nhạc.

Phần điệp khúc bắt đầu dồn dập tiến bước như những bậc thang; trong khi giọng hát của tôi tăng tốc và leo lên,giọng của Takuto-san lại như một tiếng khóc nức nở đầy kìm nén, lặng lẽ dõi bước bên tôi, và rồi hai thanh âm của chúng tôi cùng kéo giọng hát của Makita Shun bay lên. Tất cả nương tựa vào nhau, nâng đỡ và hòa quyện thành một thực thể duy nhất chẳng thể tách rời. Mọi khoảng cách đã hoàn toàn xóa nhòa; ranh giới giữa sắc xanh lạnh giá của thực tại và ánh hoàng kim huy hoàng của quá khứ cũng theo đó mà tan biến.

Thứ giai điệu lặp đi lặp lại kéo dài vô tận cứ thế nhỏ dần rồi lịm tắt, đánh dấu hồi kết cho bài hát bốn phút bốn mươi giây. Tôi đã từng muốn nó kéo dài mãi mãi, muốn được nghe nó mãi mãi, nên đây là cách thích hợp duy nhất để khép lại ca khúc này.

Nhưng ngay cả khi những âm thanh đã lịm tắt, chỉ còn lại tiếng nhiễu từ rè rè tĩnh lặng, Takuto-san vẫn nhắm nghiền đôi mắt. Tôi cúi mặt nhìn xuống chiếc máy tính xách tay, lặng im chờ đợi một lời từ anh.

“Mất nhiều thời gian quá…”

Khi Takuto-san cất lời, giọng anh chỉ còn là một tiếng thì thầm.

“Đã bao nhiêu năm trôi qua, để rồi đến tận bây giờ, bài hát mới thực sự hoàn thành.”

Tôi khẽ gật đầu.

Đáng lẽ tôi phải cảm thấy nhẹ lòng và im lặng đón nhận sự công nhận từ anh. Nhưng dù có tự nhủ bao nhiêu lần, tôi vẫn không cách nào kìm nén được. Lồng ngực tôi thắt lại, cảm xúc cứ thế chực trào ra.

“Vậy giờ xong việc rồi, kể tôi nghe về Makita-san đi. Anh ta dạo này thế nào? Có nói gì với cậu không? Dù sao cậu cũng xin phép rồi mà. Giờ anh ta đang sống ở đâu? Có còn làm nhạc nữa không?”

Tôi cẩn thận gập màn hình máy tính xách tay lại; màn hình của nó vừa rồi mang lại cảm giác quá đỗi chói mắt.

“Makita Shun-san… anh ấy…”

Cổ họng tôi nghẹn đắng. Lời nói nửa chừng đứt quãng, tôi chỉ còn biết run rẩy chỉ tay về phía chiếc máy tính.

Hay nói chính xác hơn, là chiếc USB vẫn đang cắm trên thân máy.

“…Anh ấy ở đây. Vẫn luôn ở bên chúng ta.”

Tôi có thể cảm nhận thấy một ánh nhìn bỏng rát đang xoáy sâu vào gò má mình. Phải mất một khoảng lặng rất dài sau đó, những lời của Takuto-san mới chậm rãi lọt vào tâm trí tôi.

“Cậu đang nói cái quái gì thế?”

Phải chăng khoảng cách giữa hai chúng tôi lúc này đang quá xa xôi, đến mức âm thanh phải mất ngần ấy thời gian mới truyền tới được? Hay có lẽ anh ta đã dành thời gian để suy ngẫm về những gì tôi vừa nói?

Còn với tôi, chẳng còn gì để phải đắn đo nữa. Việc duy nhất tôi có thể làm lúc này là nói cho Takuto-san biết sự thật.

“Tuần trước, em đã đến nhà của Makita-san. Em đã gặp bố của anh ấy, nghe ông kể lại mọi chuyện và nhận lại những chiếc USB chứa toàn bộ dữ liệu âm thanh này. Trước lúc em về, ông bảo em cứ dùng tất cả theo bất kỳ cách nào em muốn.”

Tôi ngẩng đầu lên. Đôi mắt trong trẻo của Takuto-san đã ở ngay trước mặt, lặng yên chạm lấy ánh nhìn của tôi.

“Makita Shun-san… đã mất vào mùa hè năm ngoái rồi.”

Cảm giác như thể những lời nói của tôi phải mất nhiều thời gian hơn nữa để bơi qua bầu không khí đặc quánh để lọt vào tai Takuto-san.

Đôi môi màu tím nhạt của anh khẽ run lên.

“Không đời nào… Chuyện đó không thể là thật được…”

Những lời thốt ra từ miệng anh nghẹn ngào, tựa như những giọt nước rơi xuống mặt hồ đang gợn sóng.

“Còn tin tức thì sao? Nếu chuyện đó thực sự xảy ra, đáng lẽ truyền thông phải đưa tin rồi chứ.”

Tôi chậm rãi lắc đầu.

“Chính anh cũng từng nói rồi mà: anh Makita Shun chưa bao giờ thực sự lộ diện trước công chúng cả. Anh ấy đã đổ bệnh trong một thời gian dài, và đó là lý do tại sao anh ấy gần như đã giải nghệ… Và đám tang của anh ấy, chỉ có gia đình và một vài người quen đến tham dự thôi…”

Tôi miết ngón tay dọc theo các cạnh của chiếc USB.

“Còn về việc nguồn âm thanh đó lọt lên mạng Internet, thực ra là vì bố anh ấy muốn dùng nó cho buổi tang lễ, nhưng… vì ông không thông thạo mấy chuyện công nghệ, nên thay vì gửi cho công ty tổ chức tang lễ, ông ấy lại tải tệp tin đó lên một trang mạng chia sẻ video. Chắc ông đã nghĩ đó là một trang lưu trữ dữ liệu.”

Và chính điều đó đã dẫn lối cho tôi tình cờ tìm thấy bản thu ấy.

Để rồi nó mang tôi đến gặp Takuto-san trước nhất, và cuối cùng là dẫn lối đến với Makita Shun.

“Cho nên, Makita Shun… tất cả những gì còn sót lại của người ấy chỉ còn lại âm nhạc bên trong này.”

Gương mặt Takuto-san hoàn toàn không chút cảm xúc, sắc mặt anh tái nhợt như một tờ giấy đã phai màu.

“…Tại sao cậu không nói chuyện này sớm hơn?”

Có một vệt cảm xúc lộ rõ trong giọng nói của anh ta.

Sự tức giận mơ hồ ấy hướng về phía tôi, hoặc có lẽ là cho chính anh.

Không được nhìn đi chỗ khác.

Tôi tuyệt vọng tự nhủ với chính mình. Tôi bấu chặt móng tay vào đầu gối, kiên quyết nhìn thẳng vào ánh mắt của Takuto-san.

“Bởi vì nếu em nói ra, thì Takuto-san chả còn tâm trí nào mà thu âm nữa.”

Takuto-san đột ngột đứng phắt dậy, làm xô đổ cả chiếc ghế phía sau khi rướn người tới và túm chặt lấy cổ áo tôi.

Dù giọng nói có phần run rẩy, tôi vẫn tiếp tục nói không ngừng.

“Có một cô gái mà em quen. Cô ấy gọi em là một kẻ vô tâm, một thằng ngốc chỉ biết đến âm nhạc. Gần đây, em bắt đầu nghĩ có lẽ cô ấy đã đúng. Và đó là lý do chúng ta có mặt ở đây; sau khi lắng nghe tất cả những điều này, sau khi nghe giọng hát của anh Shun-san không biết bao nhiêu lần, em đã hạ quyết tâm phải hoàn thành bằng được bài hát. Và để làm được điều đó, em cần tiếng đàn guitar của anh, Takuto-san; cả giọng hát của anh nữa. Thế nên em không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải làm thế này.”

Không được xin lỗi – không phải ở đây, không phải lúc này. Làm vậy chỉ giúp bản thân tôi cảm thấy dễ chịu hơn mà thôi, nhưng điều đó sẽ khiến Takuto-san không còn nơi nào để giải tỏa cảm xúc của chính mình.

Vì vậy, tôi phải là người hứng chịu chúng.

Một thứ gì đó nóng hổi và ẩm ướt tựa như dòng nước sôi, từ cằm tôi lăn dài xuống và nhỏ giọt lên bàn tay của Takuto-san. Tôi dồn hết mọi ý chí để không nhìn đi chỗ khác.

Và cuối cùng, những ngón tay đang siết chặt cổ áo tôi cũng buông lỏng ra.

Không nói thêm một lời nào nữa, Takuto-san lùi lại vào buồng thu, cất cây guitar của mình đi, khoác chiếc bao đàn lên vai và rời khỏi phòng thu.

Giờ đây, chỉ còn lại mình tôi cô độc giữa phòng thu lặng ngắt như tờ.

Những dư âm còn vương lại từ giọng hát của Makita Shun tựa như những hạt bụi kim loại rơi rụng trong không trung, khẽ châm chích vào da thịt tôi theo mỗi cử động nhỏ.

Chẳng mấy chốc, cái lạnh đã đuổi kịp, bủa vây lấy tôi cùng một lúc, tôi nhặt chiếc áo khoác đang cuộn tròn trong góc phòng lên để mặc lại vào người.

Tôi mở máy tính xách tay của mình ra một lần nữa. Âm nhạc một khi đã trở thành dữ liệu kỹ thuật số sẽ không bao giờ biến mất, ngay cả khi người hát nó bị thương, bị tàn tật, hay thậm chí là không còn trên cõi đời này nữa.

Nhưng nếu chẳng còn ai lắng nghe nó nữa thì sao?

Bài hát mà tôi vừa hoàn thành – nó cũng thuộc về cả Takuto-san, nghĩa là tôi không thể tự ý phát hành nếu chưa được sự đồng ý của anh ta.

Lời nhắn gửi của bố anh Makita Shun đau đớn ùa về trong tâm trí tôi:

âm nhạc sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa nếu không được ai lắng nghe.

Tôi đã đi đến khắp mọi nơi và gây ra phiền phức cho bao người, và tôi thậm chí đã kết thúc bằng việc làm tổn thương Takuto-san… chỉ vì một khoảnh khắc tự thỏa mãn của bản thân.

Tôi thu dọn đồ đạc của mình và rời khỏi phòng thu, sau đó thanh toán chi phí rồi bước ra khỏi tòa nhà. Thứ duy nhất chào đón tôi khi bước ra ngoài là cơn gió đêm của tháng mười hai, tàn nhẫn cào xé vào tai tôi.

Bạn đã đến cuối chương 62.

Không gian đọc của bạn