Thỉnh thoảng người ta có thể bị cảm xúc hay dục vọng chi phối, nhưng sau cùng, điều quan trọng nhất vẫn là chiến tranh.
Ở kiếp trước, từ nơi mà Đế quốc vốn không thể thắng nổi, tin thắng trận cứ liên tiếp dồn về. Nhưng rồi khi lũ dị tộc chịu đầu hàng ở một chừng mực nào đó, phía Đế quốc lại lúng túng nhận chút bồi thường qua loa, đưa người thừa kế cùng con em quý tộc của các vương quốc khác và lũ dị tộc vào Học viện, thế là xong chuyện.
Lần này chắc chắn sẽ không dừng lại ở mức đó.
Không có chuyện nhận lời đầu hàng rồi cho qua chuyện, tôi sẽ biến nơi này thành mảnh đất của riêng mình.
Dù một nửa sẽ thuộc về Giáo hội.
Việc Đức Ngài định ra hạn ba năm, hẳn cũng cùng một ý đồ cả thôi.
Nơi chiến tuyến này, tôi đã mất đi quá nhiều. Cả cuộc đời tôi, và cả người duy nhất từng ở cạnh là Arin cũng bị cuộc chiến cướp mất, vậy mà rốt cuộc nó lại kết thúc một cách lãng xẹt như thế.
Ngày ấy, đầu óc tôi ngập tràn ý nghĩ phải gặp lại Arin nên chẳng còn tâm trí đâu để bận tâm những điều khác. Nhưng giờ nhìn lại, những kẻ từng ngã xuống ngoài kia đúng nghĩa là chết uổng mạng.
Như chính tôi ngày trước.
Tôi vuốt ve mái tóc đang gối trên đùi mình thêm vài lần, khẽ đẩy ra rồi đứng dậy.
“Roselin.”
“Ừm?”
“Trong vòng một tháng, hãy lấy danh nghĩa nhà Avenberg gom hết lương thực hay bất cứ thứ gì dùng được, chất đầy vài chục cỗ xe rồi chuyển đến vùng tiền tuyến.”
Roselin vẫn nằm trên giường, ngước nhìn tôi.
“Làm được vậy, tôi sẽ nghiêm túc cân nhắc lại lời cô.”
Nghe tôi nói, Roselin từ từ chống người ngồi dậy.
“…Tiền tuyến á? Anh mất trí rồi sao? Kh-không lẽ… anh định đi thật đấy à?”
Tôi không đáp, cứ thế bước ra khỏi phòng.
Cô ta sẽ chấp nhận thôi.
Lúc sải bước ra ngoài, dường như phía sau có tiếng ai đó gọi với theo, nhưng tôi không hề dừng bước.
Tôi quay lại Giáo hội tìm Arin.
Chỉ định tạt qua nhìn mặt cô một lát rồi đi. Bởi nếu chỉ gặp mỗi Roselin rồi rời thủ đô thì trong lòng cứ thấy lợn cợn khó chịu thế nào.
Tìm quanh một hồi chẳng thấy đâu, tôi giữ một tín đồ đi ngang qua lại hỏi.
“Tiểu thư Arin đã ra ngoài làm ủy thác rồi ạ.”
“Ủy thác?”
“Vâng. Vì tiểu thư bảo đó là ủy thác nguy hiểm nên bên chúng tôi đã cắt cử người bám theo hỗ trợ.”
Người tín đồ dè chừng nhìn sắc mặt tôi rồi nói thêm.
Tôi biết thừa gửi cô vào Giáo hội thì đời nào cô chịu ngồi yên cầu nguyện, quả nhiên không sai. Dù sao thì chính miệng tôi cũng từng bảo cô cứ sống theo ý mình.
“Khi nào cô ấy về?”
“Tiểu thư đã khởi hành từ sáng nay, chắc tầm hai ngày nữa sẽ về.”
“…Hừm.”
Hai ngày.
Đợi thì vẫn đợi được.
Chỉ là nghĩ đến khoảng thời gian đối diện với Roselin ngày hôm qua, tôi bỗng thấy dẫu có gặp Arin thì cảm giác cũng chẳng khác là bao. Nếu có gì thay đổi được, thì ngay từ đầu tôi đã chẳng chọn quay lại tiền tuyến.
Chỉ là… biết nói sao nhỉ.
Ở nơi này, có ngắm nhìn thủ đô phồn vinh và yên bình đến đâu, nhìn dòng người rạng rỡ hạnh phúc qua lại, hay thử mường tượng ra viễn cảnh nên duyên cùng ai đó để sống một đời êm ấm như ngày trước… tôi vẫn không cảm thấy trọn vẹn.
Ở chốn này, tôi thấy mình chẳng khác nào một tên hề mặc bộ quần áo không vừa người và nhảy múa giữa Hoàng thành.
Tôi muốn trở lại tiền tuyến.
Bởi dẫu sao đi nữa, dường như chỉ ở nơi đó, tim tôi mới đập rộn lên và cho tôi cảm giác chắc chắn rằng mình đang sống. Có chẳng may chết dưới tay kẻ nào cũng chẳng có gì phải bực bội hay nuối tiếc.
Đến ngày thứ ba, một tín đồ đến báo rằng các thành viên của Đoàn Phán Tội đã tập hợp đầy đủ.
Tôi đi đến điểm hẹn, lọt vào mắt là hai mươi hai kẻ có ánh mắt rõ ràng là có vấn đề. Trông ai nấy đều chỉnh tề, diện mạo bình thường lành lặn, nhưng đôi mắt thì kỳ quặc không lẫn vào đâu được.
Lần đầu gặp Hellek tôi cũng có cảm giác tương tự, giờ nhân lên thành hai mươi hai người thì trông chẳng khác nào cắm cả một bó kiếm dựng đứng chứ chẳng phải gom người.
Tôi chẳng buồn chào hỏi khách sáo.
Gã thanh niên từng tạm giữ chức Đoàn trưởng trước khi tôi nhậm chức bước lên, cúi đầu nhận lệnh giữ chức Phó đoàn trưởng, thế là xong màn bàn giao. Mọi chuyện diễn ra gọn gàng đến mức ngược lại khiến tôi thấy ngỡ ngàng.
Chắc hẳn tin đồn tôi thức tỉnh thánh lực đã tạo ra tác động lớn. Khi một minh chứng sống động bằng xương bằng thịt cho đức tin đang đi lại ngay trước mắt, thì dù tôi có nói gì họ cũng sẽ nghe thôi.
Miễn là họ đủ mộ đạo.
Tôi chẳng thèm chuẩn bị xe ngựa. Tất cả đều cưỡi ngựa, ròng rã mấy ngày trời phi nhanh nhất có thể để trở lại tiền tuyến.
Vừa về đến nơi, Hellek đã ra đón tôi.
“Đường đi của ngài vẫn bình an chứ?”
“Ừ. Bên này sao rồi? Trong lúc ta vắng mặt có bị địch tập kích hay xảy ra chuyện gì không?”
“Trong lúc ngài vắng mặt, Giáo hội đột nhiên gửi tới rất nhiều quân nhu… nên nơi này đã thay đổi khá nhiều.”
Vừa đặt chân về lại tiền tuyến, tôi bỗng thấy dễ thở hơn hẳn.
Khi ở thủ đô, dù xung quanh chẳng có ai nhưng lúc nào tôi cũng thấy như có kẻ đang bóp nghẹt cổ họng, đè nặng lên ngực… Còn ở đây, nhìn đám thương binh mang bộ mặt sắp chết và Hellek đang ra đón, tôi lại thấy đôi chút cảm giác như được trở về nhà.
Đúng như lời Hellek nói, lúc đi ngang qua khu doanh trại cũ, mọi thứ đã được thu dọn khá ngăn nắp. Phần lớn vẫn là lều bạt, nhưng chỗ ở của Đội trưởng nay đã thành một căn nhà gỗ ghép tạm, hàng rào cọc nhọn cũng được gia cố khá ngay ngắn.
Khu tập trung thương binh trông cũng ra dáng chỗ cho người sống hơn trước. Rải rơm dưới đất thay vải lót đã đặt sẵn thùng nước cạnh những kẻ đang phát sốt. Nghe thì chẳng có gì to tát, nhưng ngày trước, chính vì thiếu những thứ tưởng chừng vụn vặt đó mà người ta chết như rạ.
Tôi thấy một gã mất một chân đang chống nạng tập tễnh đi về phía nhà kho. Nếu là ở kiếp trước, hẳn tên đó chắc đã nằm dưới hố chôn từ lâu. Ít nhất cũng là để bớt đi một miệng ăn.
Tôi không nán lại ngắm nghía doanh trại cũ làm gì, lại lên ngựa dẫn theo Hellek cùng toàn bộ đám người thuộc Đoàn Phán Tội đi mất một tiếng về phía ngôi làng.
Quanh làng được dựng ba lớp hàng rào cọc, thậm chí còn xếp đá hộc thành một thứ tựa như tường thành. Ngôi làng giờ đây chẳng thua kém bất kỳ thị trấn nhỏ nào.
Tiếng búa từ xưởng rèn vang lên không ngớt, ngoài thao trường, tiếng hô khẩu lệnh vang lên rập rình theo từng nhịp. Xem chừng đây không phải thứ được dựng vội lên để làm màu khi thấy tôi về. Vả lại ở chốn này, làm gì có ai đủ rảnh rỗi mà bày mấy trò ấy.
Mới hai tháng trước, đám lính còn phải nhai thứ bột ngô mốc meo rồi đếm từng ngày chờ chết, giờ trông ai nấy đều có da có thịt hơn hẳn.
Hay đúng hơn là lên cơ bắp.
Ở đầu làng, vài tên dị tộc được giữ lại mạng sống đang cùng đám binh sĩ khuân đồ vào kho, bên cạnh đó, đám lính kỳ cựu đi ngang qua còn thản nhiên buông vài câu trò chuyện. Như thể đó là chuyện đương nhiên.
Mới hai tháng trước còn chém giết đòi lấy đầu nhau, giờ lại chung lưng khuân đồ thế này.
Trông cũng chẳng tệ. Tôi không ngờ ngôi làng lại vận hành trơn tru đến mức này.
Mấy người lính đi ngang qua thấy tôi liền dừng bước làm lễ chào. Một hai người đứng nghiêm lại, những kẻ bên cạnh cũng đứng theo, đến cả mấy gã đang khuân vác cũng ngập ngừng giơ tay lên.
Suốt mười năm chẳng thèm cúi đầu trước bất kỳ ai, giờ lại làm thế này, trông thật khó mà quen mắt.
Giữa lúc đó, một cây gậy chống chen ngang qua đám đông.
“Nghe bảo ngài vừa về từ thủ đô, không biết có ơn huệ nào ban cho người lính khốn khổ đáng thương này chăng?”
Thấy một hiệp sĩ định gạt con bé sang một bên, tôi giơ tay ngăn lại, rồi ngoắc tay bảo nó lại gần.
Đợi con bé ngoan ngoãn bước tới, tôi búng trán nó một cái không quá đau, rồi móc từ trong ngực áo ra một điếu xì gà ném qua.
Con bé đón lấy bằng hai tay, săm soi một lúc lâu rồi nhăn mặt.
“Ngài… bảo tôi hút cái này á?”
“Không thì trả lại.”
Tôi vừa dứt lời, con bé đã vội nhét ngay vào tay áo rồi giả vờ như không có chuyện gì.
Sau đó, tôi dẫn toàn bộ hiệp sĩ tiến vào phòng chỉ huy.
Căn phòng thậm chí còn được trải thảm, trông cũng ra dáng ra phết.
“Ngài thấy thế nào?”
Thấy Hellek lén để ý sắc mặt mình, tôi khen qua loa vài câu. Rằng thế này trông cũng giống chỗ cho người ở rồi.
Chẳng bao lâu sau binh lính mang đồ uống lên. Đám hiệp sĩ thản nhiên đón lấy cốc nước như một lẽ đương nhiên… nhưng tôi thì thấy gượng gạo không chịu nổi.
Rõ ràng trước đây nơi này tồi tàn như một bãi rác.
Chỉ trong vài tuần ngắn ngủi, rốt cuộc Hellek đã làm cái trò gì ở đây vậy?
Dù sao thì, tôi mở tấm bản đồ sơ sài chưa có mấy chi tiết rõ ràng lên bàn, rồi lấy đầu ngón tay điểm vào nhánh sông phía trên.
“Đi đường mệt rồi, hôm nay các ngươi nghỉ ngơi đi. Chiều tối mai chúng ta sẽ theo đường thủy tiến lên phía bắc. Khoảng chỗ này sẽ có một tòa thành của địch.”
Ở kiếp trước, mãi về sau này tôi mới đặt chân tới đó. Tòa thành không lớn, nhưng công cụ công thành thì không có, trong tháp lại có một tên tai dài dùng kiếm cực kỳ ghê gớm… đã biết bao nhiêu người đã chết dưới tay gã.
Sau khi nhận được thư từ đồng tộc ở thủ đô, lũ dị tộc hẳn đang đinh ninh những chuyện vừa qua chỉ là do lũ người ô hợp ăn may thắng trận khi không có Đế quốc giúp sức, cộng thêm việc các tướng lĩnh phái đi trước đó toàn là phường vô dụng nên mới dẫn đến thảm cảnh.
Bọn chúng xưa nay vốn ngạo mạn. Dù rằng chính đám ăn mày bị Đế quốc vứt bỏ nơi tận cùng tiền tuyến này từng tràn đến tận trước cổng thủ đô của chúng.
Phòng bị thì chắc chắn có, nhưng quân số không thể tự dưng tăng vọt, cũng chẳng thể mọc ra thứ gì quá ghê gớm được.
“…Thành sao?”
“Phải. Ta sẽ tập kích đêm vào đây.”
Chân mày gã Phó đoàn trưởng khẽ giật một cái. Trên mặt gã thoáng lộ vẻ phấn khích.
“Còn lũ dị tộc thì xử lý thế nào vậy?”
“Giết sạch cũng được.”
Nghe vậy, đám hiệp sĩ mới đưa từ thủ đô về đồng loạt làm dấu thánh, mặt mày ai nấy đều xúc động.
Đúng là lũ điên.
Tôi mặc kệ bọn họ, quay sang giao thêm việc cho Hellek.
“Trước ngày mai, hãy chọn ra năm mươi binh sĩ giỏi nhất. Chiến lợi phẩm chia đều.”
“Năm mươi người liệu có đủ không ạ?”
Hellek hỏi lại.
“Đủ. Mà trước đó… kiếm cho ta một tấm vải thô trùm kín người.”
Hellek thoáng im lặng rồi gật đầu. Bởi gã ta cũng biết cứ đêm xuống là người tôi lại phát sáng.
Sau đó tôi cho tất cả lui ra ngoài, ngả lưng vào ghế rồi rút một điếu xì gà ngậm lệch trên môi.
Rít một hơi rồi phả khói ra… chẳng hiểu sao tôi lại thấy như mình đã trở về đúng nơi thuộc về mình.
Hay nói chính xác hơn là cảm giác mình đang thực sự sống.
Dù là Rihen hay là ai đi nữa, có thoát khỏi chốn này hay không… trong đầu tôi chợt thoáng qua ý nghĩ, rằng cứ sống ở đây cho tới tận lúc chết cũng chẳng sao.
Bởi lúc này, tôi thấy lòng khá đủ đầy.
Dù thấy ý nghĩ đó có phần chập mạch nên tôi đã gạt phắt đi ngay sau đó.


