Bữa sáng tại dinh thự Kerrigan giống một buổi tra tấn tinh thần hơn là khoảnh khắc gắn kết gia đình.
"Thưa cha…"
"Hôm nay con dậy sớm vậy? Có chuyện gì xảy ra sao?"
Chẳng việc gì phải nói với ông rằng tôi sắp chết.
Thành thật mà nói, tôi cũng chẳng muốn hé răng. Tôi sợ phải nhận lại một câu trả lời thờ ơ từ ông. Tôi không muốn nếm trải cảm giác đó. Tôi thà tự huyễn hoặc bản thân rằng ông sẽ lo lắng cho mình, còn hơn là tự tay đập nát cái ảo tưởng ấy nếu thực tế không như vậy.
Hơn nữa, tôi vẫn chưa nói với ông về Linh Ấn của mình. Việc giải thích lý do vì sao tôi nghĩ mình sắp chết sẽ buộc tôi phải làm rõ về thiên phú này.
Mà làm vậy cũng vô ích. Ông ấy cũng chẳng thể giúp được gì. Chẳng một ai có thể, khi mà cái chết đã là định mệnh bất khả dịch chuyển.
Và thế là, tôi quyết định giữ kín rắc rối này cho riêng mình.
"Dạ không…"
Cha tôi chỉ gật đầu, rồi đại sảnh dùng bữa lại rơi vào thinh lặng.
Có thể tôi đã sống sót qua những bậc cầu thang kia, nhưng có lẽ hành trình cũng chỉ đến đây thôi. Tôi nên chọn lọc từ ngữ thật cẩn trọng.
Đâu biết được âm tiết nào sẽ trở thành lời trăn trối cuối cùng của đời tôi.
Nam tước Viktor Kerrigan. Cha của tôi.
Nam tước vốn không phải là một tước hiệu quý tộc quá cao sang. Gia tộc chúng tôi chỉ được coi là tầng lớp quý tộc hạ vị, được ban chút quyền hạn quản lý đất đai, nhưng tất cả cũng chỉ có thế.
Chúng tôi là hộ vệ biên giới của Đế quốc.
Thế nhưng, cha tôi lại là người mà ngay cả những đại quý tộc ở vị thế cao hơn cũng không dám xem nhẹ.
Gia tộc tôi có một nền tảng khá vững vàng, khi mà tước vị Nam tước được ban phong từ khoảng bốn thế hệ trước.
Cụ cố của tôi từng ngăn chặn một đợt bùng phát quái vật quy mô nhỏ từ Khu rừng cổ Asphodel ở phía đông nam Đế quốc.
Hoàng đế khi ấy vì tiếc nuối một tài năng kiệt xuất phải chôn vùi nơi dân dã, đã quyết định ban cho cụ một phần đất nhỏ tiếp giáp với chính khu rừng đó.
Chẳng rõ là hên hay xui, nhưng Khu rừng Asphodel cũng theo đó mà thuộc quyền quản lý của chúng tôi.
Ông nội tôi là một người đủ năng lực để cải tạo vùng đất này và đảm bảo cho nó hưng thịnh.
Dẫu vậy, kẻ có công lao lớn nhất trong việc gây dựng danh tiếng cho gia tộc Kerrigan lại chẳng phải ai khác ngoài người đàn ông trước mặt đây.
Người đang ngồi ở vị trí chủ tọa, nhìn thẳng vào tôi.
Mái tóc đen, cùng đôi mắt thẫm đến mức con ngươi như hòa làm một với nhãn cầu.
Tôi chắc chắn đã thừa hưởng diện mạo này từ ông.
Thật là một sự sỉ nhục.
Chẳng lẽ tôi không được hưởng chút gen trội mạnh mẽ nào từ cha mình sao?
Nếu sức mạnh đã không phải là một lối đi, thì thà cha sinh tôi ra làm một thiếu nữ diễm lệ có khi lại hay.
Ít nhất thì khi đó, thân hình mảnh mai này của tôi hẳn sẽ có giá lắm. Tôi có thể sắm vai một "Nữ Nam tước lạnh lùng" không chừng.
Gạt mấy lời tự giễu sang một bên, ông là người luôn được tất thảy những ai biết đến kính trọng.
Ông không phải là kẻ mạnh nhất đại lục, nhưng chắc chắn là người không một ai dám khinh nhờn.
Một người như thế lại chấp nhận an phận làm một Nam tước tầm thường, đó là điều mà không một ai có thể hiểu nổi.
Tôi nhìn đống thức ăn bày biện trên bàn trước khi ngồi xuống phía đối diện ông.
Thông thường, tôi sẽ thức dậy muộn và ăn sau khi mọi người đã rời đi, hoặc thức ăn sẽ được mang lên tận phòng tôi.
Đôi mắt ông, thứ vốn sắc bén đến độ có thể chẻ đôi thanh thép, lúc này trông thật… mỏi mệt.
Chúng chứa đựng một chiều sâu kỳ dị, một sự hỗn hợp giữa do dự và kiên định mà tôi không thể nào giải mã nổi.
Đối với tôi, ánh mắt ấy trông giống như sự thương hại.
Tuyệt vời làm sao. Ông đang nhìn "Người thừa kế phế tàn" này và tự hỏi bản thân đã sai ở bước nào.
Đã nhiều năm rồi ông không thực sự nhìn tôi một cách nghiêm túc. Sao cũng được. Tôi chẳng bận tâm.
Tôi liếc nhìn chiếc ghế trống bên phải ông.
"Lila đã đi rồi," cha tôi lên tiếng, giọng nói của ông phá vỡ bầu không khí im lặng như một tiếng búa tạ giáng xuống.
"Con bé đã đến bãi tập từ sớm."
"Con hiểu rồi," tôi đáp lời, mắt vẫn dán chặt vào chiếc thìa của mình. "Vẫn chăm chỉ như mọi khi."
"Luôn là vậy."
Tôi cũng từng lao vào luyện tập rất nhiều. Nhưng ở một thời điểm, cha đã ngừng dành thời gian cho việc huấn luyện của tôi.
Cũng không có gia sư nào được mời đến nữa. Có lẽ ông nghĩ việc đầu tư vào tôi là một sự lãng phí tài nguyên.
Tôi đã rất muốn tiến bộ, đặc biệt là sau thảm kịch năm ấy trong rừng. Nhưng đến một giới hạn nào đó, tôi đã buông xuôi.
Mọi thứ đều vô ích. Chẳng có chút dấu hiệu nào cho thấy tôi sẽ tiến bộ trong ma pháp, binh khí, hay bất cứ thứ gì khác.
Rồi, cha lại lên tiếng.
"Kaelan."
Tôi khẽ giật mình nhưng vẫn ép bản thân phải ngước mắt lên. "Dạ, thưa cha?"
"Tiền đồn phía Nam," ông nói. Đó không phải một câu hỏi; ông đang ra lệnh. "Đã đến kỳ kiểm tra hàng tháng. Sĩ quan hậu cần hiện không có mặt."
Thì sao chứ? Tôi nghiêng đầu.
"Ta muốn con đi," ông nói tiếp. Ông khẽ rướn người về phía trước, ánh mắt khóa chặt lấy tôi với một áp lực nặng nề khiến tôi chỉ muốn thu mình lại vào ghế.
"Ta cần con xác minh lại danh mục hàng hóa và kiểm tra hàng rào ma pháp phòng thủ. Đó là một nhiệm vụ đơn giản, nhưng phải hoàn thành trong ngày hôm nay."
Ông gần như chưa bao giờ giao việc cho tôi. Cứ như thể ông coi tôi là kẻ bất tài đến mức không làm nổi cả việc vặt đơn giản nhất, vậy nên chuyện này thật kỳ quặc.
Tôi muốn hỏi tại sao lại là mình. Thật phi lý khi ngoài kia có biết bao lựa chọn tốt hơn nhiều. Nhưng tôi đã giữ im lặng.
Thật khó để thấu suốt vị cha già này đang nghĩ gì. Ông luôn mang một phong thái rất dị biệt.
Tôi nhìn xuống sợi chỉ đỏ trên cổ tay mình. Nó đang đập khẽ theo nhịp, một lời nhắc nhở đều đặn về hạn kỳ tử vong của tôi.
Nếu cứ ở lại đây, nỗi lo âu sẽ gặm nhấm tôi đến chết mất.
Còn nếu đi… à thì, sợi chỉ này dù sao cũng đã trói buộc vào mạng sống của tôi rồi.
"Con hiểu rồi," tôi nói, đặt chiếc thìa xuống. "Con sẽ lo liệu việc này."
Ít nhất, tôi hy vọng mình có thể hoàn thành xuất sắc một nhiệm vụ trước khi nhắm mắt xuôi tay.
Như vậy, tôi sẽ bớt cảm thấy tội lỗi vì đã làm một gánh nặng suốt cả cuộc đời.
Cha tôi thở ra một hơi. Nghe gần như một tiếng thở phào nhẹ nhõm, dù điều đó là bất khả thi.
Viktor Kerrigan đáng lẽ phải lo ngại nhiều hơn là nhẹ nhõm khi cử tôi đi hoàn thành một nhiệm vụ.
"Tốt," ông nói, tựa lưng ra sau. "Xe ngựa đã chuẩn bị xong. Đừng lề mề."
Ông cầm dao và nĩa lên, ra hiệu cho cuộc trò chuyện kết thúc.
Tôi nhanh chóng giải quyết phần ăn của mình, rồi đứng dậy, cúi người chào một cách cứng nhắc và bước ra ngoài.
Khi tôi chạm tay vào cánh cửa, tôi lại cảm thấy ánh mắt ông găm vào lưng mình. Tôi khựng lại một nhịp, chờ đợi một lời khiển trách cuối cùng.
Một câu kiểu như "đừng làm ta thất vọng" hay "cố mà đừng tỏ ra vô dụng".
Nhưng ông không nói gì cả.
Tôi đóng cánh cửa lại sau lưng, để lại sự tĩnh lặng của đại sảnh dùng bữa để đối mặt với những suy nghĩ hoảng loạn hỗn độn của chính mình.
…
Chuyến đi xe ngựa là một bài thử thách lòng kiên nhẫn.
Vùng đất Nam tước Kerrigan chẳng mấy giàu có, và điều đó thể hiện rõ ngay trên phương tiện di chuyển của chúng tôi.
Bên trong xe sực mùi cỏ khô cũ mục và ẩm mốc, còn hệ thống giảm xóc thì coi như bằng không.
Mỗi viên sỏi trên đường bật lên như một cú đánh trực diện vào xương sống của tôi.
Tôi ngồi trơ trọi trong cái hộp gỗ, nảy lên theo từng ổ gà, mắt đăm đăm nhìn vào những hàng cây lướt qua ô cửa sổ.
Chúng tôi đang tiến về phía nam, hướng về phía Khu rừng Asphodel. Cây cối ở đây cao lớn và rậm rạp, tán lá mang một màu xanh thẫm, bầm dập như một vết thương.
Chúng tôi đã di chuyển được hai tiếng đồng hồ.
"Mình chưa bao giờ muốn quay trở lại khu rừng này…"
Tôi nghĩ thầm, khẽ nhắm mắt lại trong chốc lát.
Tôi vẫn có thể nhìn thấy những mảnh ký ức chớp nháy của ngày hôm đó.
Ngay chính lúc ấy—
RẮC.
Chiếc xe ngựa chao đảo dữ dội sang bên trái.
Tôi bị hất văng khỏi ghế, bả vai đập mạnh vào khung cửa gỗ.
Và lần này, thứ chớp nháy trước mắt tôi không chỉ có ký ức của ngày hôm đó.
"Ui da… Nghiêm túc đấy chứ!? Mình cứ tưởng vừa rồi mình tiêu đời luôn rồi…"
Chiếc xe trượt bánh rồi dừng hẳn, nghiêng hẳn sang một bên.
"Thiếu chủ!" gã đánh xe gọi vọng vào từ phía trước. "Xin thứ lỗi! Dường như trục bánh xe bên trái đã bị gãy. Chắc là va phải đá rồi."
Tôi đá bay cánh cửa và nhảy xuống con đường đất bụi bặm.
Gã đánh xe, một lão già cộc cằn tên Hans, đã đang cúi người bên bánh xe, vừa lắc đầu ngao ngán.
Hai lính canh vốn đi bám phía sau cũng nhảy xuống để kiểm tra thiệt hại. Garret và Milo.
Cả hai vệ binh đều là những chiến binh 3 Sao. Khá mạnh mẽ.
"Nó bị nứt rồi," Hans càu nhàu, nhổ một bãi nước bọt xuống đất.
"Gỗ đã mục. Sẽ mất khoảng hai mươi phút để tôi gia cố tạm thời đủ để lết đến Tiền đồn."
"Hai mươi phút," tôi lặp lại.
Tôi nhìn về phía khu rừng. Nó thật tĩnh lặng. Yên ắng đến rợn người. Điều này thật bất an.
Tôi không muốn nghĩ đến những điềm gở.
Tôi lại nhìn vào sợi chỉ của mình.
Ước gì nó ít nhất cũng cho tôi biết thời gian chính xác mà mình sẽ chết.
Nếu theo đúng mô-típ của mấy cuốn tiểu thuyết tôi từng đọc, đây chính là bối cảnh hoàn hảo để nhân vật chính bị phục kích.
Thế nhưng, sự khác biệt trong tình cảnh của tôi là: tôi chẳng phải nhân vật chính, và cái chết của tôi thì đã được định sẵn rồi.
Nhưng lúc này, tôi bắt đầu học được cách chấp nhận. Tôi đã bình tĩnh hơn nhiều so với khoảnh khắc đầu tiên nhìn thấy sợi chỉ ngày hôm nay.
Lạ lùng thật. Có lẽ sau tất cả, tôi đã trưởng thành hơn rồi.
Tôi thở dài, đưa mắt nhìn quanh một chút.
"Ta… ta cần đi giãn gân cốt một chút," tôi nói, tay chỉ về phía một lùm cây bụi cách mặt đường không xa. "Và, các anh biết đấy. Tiếng gọi của mẹ thiên nhiên."
"Đừng đi quá xa, Thiếu chủ," Garret nói, người tựa vào thành xe ngựa.
"Chúng tôi không muốn phải đi tìm ngài đâu."
"Biết rồi, biết rồi," tôi lầm bầm.
Bọn họ cũng nghĩ tôi là kẻ bất tài luôn sao? Tôi bước vào bụi rậm, cố ý giữ khoảng cách sao cho vẫn nghe thấy tiếng động từ mặt đường.
Tôi tìm thấy một thân cây khuất tầm mắt để giải quyết nỗi buồn, không chút vội vã.
Tôi rửa sạch tay bằng chút nước từ bình mang theo và hít một hơi thật sâu.
"Hai mươi phút," tôi tự nhủ. "Sau đó chúng ta sẽ tiến hành kiểm tra. Rồi về nhà. Đơn giản vậy thôi. Nếu như mình còn sống sót được đến lúc đó."
Vẫn còn thời gian, nhưng tôi không ngu ngốc đến mức dấn bước ra xa khỏi xe ngựa.
Những đứa trẻ ngoan thì không đi sâu vào rừng. Bài học đó tôi đã thuộc nằm lòng.
Và vì tôi có ý định làm một đứa trẻ ngoan trước những giây phút cuối đời, tôi chỉnh lại vạt áo khoác và rảo bước quay lại phía con đường.
"Được rồi, Hans, tình hình trông như thế nà—"
Tôi khựng lại. Bàn tay tôi đông cứng ngay nơi cổ áo.
Từ ngữ nghẹn đắng nơi cuống họng, bị bóp nghẹt bởi một mùi hương.
Cái mùi mà tôi đã quá đỗi quen thuộc.
Cái mùi luôn nhắc nhở tôi về cơn ác mộng kinh hoàng nhất đời mình.
Đó là mùi của máu.
Nỗi sợ hãi trong tôi được xác thực bằng cảnh tượng đập vào mắt. Một bể máu tanh tưởi trọn vẹn.
Và ở ngay trung tâm của nó chính là…
"Thiếu… chủ… Ch… Chạy…"
RẮC.
Chỉ với một cái vặn cổ tay đơn giản, chiếc cổ của gã lính canh 3 Sao đã gãy gập.
Và kẻ vừa ra tay chậm rãi xoay ngoắt chiếc cổ của nó về phía tôi với một âm thanh ken két.
Nó nhìn chằm chằm vào tôi một hồi, rồi… Nó há miệng ra, một giọng nói khàn khàn như tiếng đá mài vào nhau rít lên.
"Tìm thấy…"
Nó bước một bước co giật, vặn vẹo không tự nhiên về phía tôi.
"…ngươi rồi…"
Một nụ cười ngoác ra trên gương mặt nó, kéo dài quá giới hạn mà một cấu trúc cơ mặt thông thường có thể chịu đựng.
Nó thực sự gớm ghiếc.
"Tìm thấy… ngươi rồi…"
May là vừa rồi tôi đã kịp giải quyết xong nỗi buồn đấy…


