Về truyệnTiếng Vọng Thiên Đường
Chương 114

Chương 114 · 121 chương

Ngoại Truyện: Ba Bài Hát Yêu Thích Của Mỗi Người

Saejima Rinko

Barcarolle / Chopin

Concerto for Piano, Violin and Strings / Mendelssohn

The Entertainer / Billy Joel

Makoto: “Cứ tưởng Rinko thế nào, hóa ra cậu cũng chọn một bản của Chopin làm bài tủ.”

Rinko: “Bỏ qua Chopin là điều không thể chấp nhận được. Và nếu bắt buộc phải chọn duy nhất một bài, đó phải là kiệt tác ông sáng tác vào những năm tháng cuối đời – bản Barcarolle. Thường thì Barcarolle mang giai điệu thư thái với nhịp kép giúp dòng nhạc trôi chảy hơn, nhưng bản Barcarolle của Chopin không chỉ dừng lại ở sự êm đềm. Nó đẹp đến mức da diết, ngột ngạt. Lấy bản nhạc này làm điệu xèo mái chèo sang sông Tam Đồ e là cũng chẳng sai.”

Makoto: “Rợn người thế. Mà Chopin sáng tác bài này đúng ba năm trước khi qua đời, thành ra nghe lại càng u ám.”

Shizuki: “Còn bản thứ hai… hình như tớ chưa nghe bao giờ. Tớ có biết bản Concerto cho Violin của Mendelssohn, bài đó nổi tiếng lắm thì phải. Nhưng đây không phải bài đó đúng không?”

Rinko: “Không phải. Bài này ít ai biết đến hơn và cũng hiếm khi được công diễn. Với tớ, đó là một bản hòa tấu vô cùng sắc sảo, nơi nghệ sĩ piano và violinist đối đầu gay gắt, phô diễn trọn vẹn kỹ thuật mà không làm đứt gãy màn trình diễn. Tớ ước một ngày nào đó có thể tự mình biểu diễn bài này, có điều tớ chưa tìm được ai chơi violin đủ trình độ để đứng cùng sân khấu.”

Akane: “Ồ, thế còn tớ thì sao! Tớ làm được mà! Tớ sẽ kéo violin cùng cậu!”

Rinko: “Trình độ Akane mới dừng ở mức nhập môn, e là Mendelssohn hơi quá sức với cậu đấy.”

Akane: “Hừm… Cái đó thì tớ không cãi được!”

Makoto: “Bài thứ ba… hơi bất ngờ đấy. Cơ mà Billy Joel vốn được danh xưng là Piano Man, nên nghĩ lại thì cũng không lạ lắm.”

Rinko: “Bản này có phần điệp khúc đơn ngắn gọn, cấu trúc phối khí ngày càng phức tạp qua từng lần lặp lại. Việc Billy vừa hát vừa chơi nhạc quả thực rất ấn tượng. Tớ cũng mong Murase-kun làm được điều tương tự trên piano và đảm nhận phần vocal, còn tớ sẽ hỗ trợ phía sau.”

Makoto: “Không phải cậu mới là người nên ngồi vào bệ piano sao?”

Yurisaka Shizuki

Red River Revel / Brian Blade

Wonderland / Uehara Hiromi

Fool in the Rain / Led Zeppelin

Akane: “Lựa chọn của Shizu-chan toàn liên quan đến tay trống nhỉ!”

Shizuki: “Đúng vậy. Bài đầu tiên tớ chọn là track mở màn trong album đầu tay của Brian Blade. Người ta bảo Brian Blade chính là người đã hồi sinh phong cách trống Jazz, và bản Red River Revel thực sự đã đánh gục trái tim tớ. Cách dựng âm thanh – phủ từng lớp màu mỏng đè lên nhau liên tục – đúng là một kỳ tích trong ngôn ngữ biểu đạt của bộ trống.”

Rinko: “Tớ cũng rất thích Uehara Hiromi. Bản Wonderland chơi theo bộ ba đúng không?”

Shizuki: “Đúng thế. Với Anthony Jackson đảm nhận bass và Simon Phillips chơi trống, họ tạo nên một tổ hợp đỉnh cao! Bài hát bắt đầu bằng cú nổ của Simon hòa cùng nhịp piano – giai điệu này rất dễ bị chệch nhịp, ngay cả tớ dù tập luyện bao nhiêu lần vẫn thấy khó mà chơi hoàn hảo được.”

Akane: “Tớ cứ tưởng cậu sẽ chọn toàn Jazz cơ, ai ngờ bài thứ ba lại là Led Zeppelin.”

Shizuki: “Là một tay trống Rock, tớ không thể không bị cuốn hút bởi Bonzo. Câu riff lệch nhịp đè lên nhịp shuffle tạo ra một tiết tấu gập ghềnh kỳ lạ, nhưng chính điều đó lại khiến người ta mê muội đuổi theo! Bản phối đúng là kiệt tác của một thiên tài! Chẳng tay trống nào lại không muốn thử bắt chước nó một lần!”

Akane: “Lựa chọn của Shizu-chan đậm chất Shizu-chan đến mức tớ chẳng nghĩ ra Punchline nào để trêu chọc luôn.”

Shizuki: “Hả? Cần phải có Punchline sao?”

Kudou Akane

Kagerou / Fujifabric

You! / Lany

Guys / THE 1975

Kaya: “Vậy là Akane-senpai chọn toàn nhạc hiện đại nhỉ.”

Akane: “Chị không nghĩ Fujifabric lại thuộc dạng hiện đại đâu, bài Kagerou được viết từ hồi Shimura Masahiko còn sống cơ mà. Chị thích những bài hát mang lại cảm giác sâu lắng, khiến thế giới như rộng mở hơn! Chính vì thế Kagerou mới là bài tủ của chị.”

Makoto: “Ồ, toàn bộ tác phẩm của Lany cũng mang màu sắc đó đúng không? Mấy bài đó mà đeo headphone nghe lúc nửa đêm thì tuyệt hết biết.”

Akane: “Biết ngay là Makoto-chan hiểu tớ mà! Nghe bài nào của họ cũng mang một chất riêng rất đồng điệu, theo kiểu tích cực ấy? À thì tập thứ tư họ có phá cách một chút, nhưng nghe vẫn cuốn lắm. Nếu mới nghe lần đầu, tớ khuyên nên bắt đầu bằng bài You! nhé.”

Makoto: “Cậu chọn bài Guys là vì lời bài hát đúng không?”

Akane: “Trời ơi Makoto-chan, cậu hiểu tớ đến mức làm tớ thấy sợ rồi đấy! Giai điệu đã hay rồi, nhưng phần lời mới là thứ thực sự chạm vào lòng tớ. Có đoạn nam ca sĩ hát với các thành viên trong nhóm rằng: ‘Mấy cậu là điều tuyệt vời nhất từng đến với đời tớ’. Vì bản tính tớ hay suy nghĩ tiêu cực, nên tớ cứ thắc mắc liệu có ẩn ý gì sau đó không – kiểu như ban nhạc sắp tan rã đến nơi và đó là lời chào tạm biệt ấy.”

Shizuki: “Akane-san không phải lo lắng về điều đó khi ở bên chúng tớ đâu! Ban nhạc của chúng ta sẽ không bao giờ tan rã, và tớ hứa sẽ luôn sát cánh bên cậu!”

Akane: “Cảm ơn Shizu-chan nhé!”

Kaya: “Ơ, em… em nữa! Em cũng sẽ luôn ở bên chị!”

Akane: “Chị yêu Kaya-chan nhất!”

Rinko: “Cho tớ xin né mấy trò bám dính này ra nhé.”

Akane: “Rin-chan đúng là khó tính quá đi!”

Shigasaki Kaya

Sweet Emotion / Aerosmith

Hysteria / Muse

One Thing / One Direction

Makoto: “Cùng là người chơi bass, anh hoàn toàn hiểu sự lựa chọn đầu tiên của em…! Câu bass rải đều ở những nốt cao nghe đã tai thật sự.”

Kaya: “Đúng vậy ạ. Em biết ngay là Murase-senpai cũng thích mà. Em cực kỳ ngưỡng mộ Aerosmith – đường bass của họ đặc biệt bắt tai nhờ gốc rễ Funk và Soul sâu sắc.”

Makoto: “Cùng là người chơi bass, anh lại càng hiểu sự lựa chọn thứ hai của em…! Thực ra là hiểu quá rõ luôn đấy chứ. Đó là đoạn intro solo bass vĩ đại nhất lịch sử…!”

Kaya: “Em thực sự muốn đánh được như thế, nhưng em lại không rành dùng effector cho lắm thành ra cứ loay hoay mãi với khoản chỉnh âm. Sau này mong được Murase-senpai chỉ bảo thêm ạ.”

Makoto: “Cùng là người chơi bass, anh… Ơ, bài thứ ba thì anh chịu rồi. Bài đó là thể loại gì thế?”

Akane: “Makoto-chan chưa nghe đến One Direction bao giờ sao?”

Makoto: “Thì tớ có biết nhóm đó – nhưng họ về bản chất là nhóm nhạc thần tượng đúng không?”

Kaya: “1D có nhiều bài hay lắm chứ ạ! Họ đâu chỉ có mỗi cái mã đẹp trai!”

Makoto: “Anh hiểu, chỉ là anh thấy tiếng bass trong bài đó không nổi bật lắm thôi.”

Rinko: “Chắc là vì Liam Payne rồi. Thời điểm bài đó ra mắt, anh ta mang đúng nét điển trai thư sinh đặc trưng kiểu Anh, nhưng về sau mấy bài tiếp theo lại nuôi râu trông bụi rặm hẳn ra.”

Kaya: “Sao Rinko-senpai lại tinh tường thế ạ?”

Rinko: “Chỉ là chị nắm khá rõ gu của Murase-kun thôi.”

Kaya: “Ư… Ngượng chết mất. Em đổi lựa chọn thứ ba có được không ạ?”

Shizuki: “Chà, Kaya-san tung hứng đỡ đòn khéo thật đấy. Chị còn phải học hỏi em nhiều.”

Kaya: “Xin chị tha cho em đi ạ!”

Hanazono Misao

YOU ARE THE ONE / Amuro Namie

my graduation / SPEED

Happy Ending / Cocco

Makoto: “…Ừm, cô giáo bao nhiêu tuổi rồi ấy nhỉ?”

Hanazono: “Ngay câu đầu tiên em đã chọn cách xấc xược rồi đấy à, MusaO.”

Makoto: “Làm gì có chuyện xấc xược khi rõ ràng cô thuộc thế hệ trước bọn em! Đã thế lại còn chọn cả Amuro lẫn SPEED? Bằng đấy là lùi lại hẳn một thế hệ nữa rồi đấy!”

Hanazono: “Cô khuyên em nên lựa lời mà nói, trừ khi em muốn cô khêu ra mấy bí mật xấu hổ của em. Với lại, những gì giá trị nhất thì luôn truyền lại cho thế hệ sau.”

Makoto: “Thì… nếu cô đã nói thế…”

Akane: “Em chưa nghe bài này của Amuro-chan bao giờ.”

Hanazono: “Đây là bài Komuro Tetsuya viết hồi gom toàn bộ Komuro Family lại – kiểu như bản We Are The World phiên bản Komuro vậy. Bài đó hay đến mức sau này Amuro phải phát hành lại bản solo. Cô nhớ bản gốc bán được hơn triệu bản cơ, nhưng giờ lại ít người biết. Cá nhân cô thấy đây là một trong những bài đỉnh nhất mà Komuro và Amuro từng kết hợp.”

Kaya: “Em biết nhóm SPEED. Thời của mẹ em nhóm này nổi tiếng lắm.”

Hanazono: “Thời của mẹ em cơ đấy…”

Rinko: “Kaya này, để tớ nhắc cho em biết, đòn đó sát thương cực mạnh với phụ nữ có tuổi đấy, lần sau hạn chế dùng thôi.”

Hanazono: “Lời em nói cũng sát thương chẳng kém đâu! Mà cô thích bài này đâu phải vì nó là hit một thời hay gì! Lễ tốt nghiệp xong đi karaoke cô cũng đâu có hát bài này! Cô chỉ đơn thuần là thích thôi, hiểu chưa? Giai điệu bài này thực sự bá đạo ở chỗ chuyển từ giọng trưởng sang giọng thứ ngay trong đoạn điệp khúc. Bài ALL MY TRUE LOVE cũng làm vậy nhưng là ở cuối điệp khúc, và chẳng có bài nào áp dụng cách này mà nổi tiếng được như thế cả.”

Makoto: “Còn bài của Cocco – là nằm trong album đầu tiên sau khi cô ấy tái xuất đúng không ạ?”

Hanazono: “Chuẩn luôn, track cuối cùng trong album đấy. Bài này cũng đỉnh không kém! Cấu trúc có bốn phần chính: đoạn A, đoạn B, điệp khúc… Và khi em tưởng chuẩn bị biết hướng đi tiếp theo thì một đoạn giai điệu mới lại mở ra, biến nó thành một bản phối phá vỡ mọi quy chuẩn quanh đoạn điệp khúc. Không biết có phải do cô ấy nghỉ ngơi một thời gian rồi quay lại phối khí bằng tất cả trải nghiệm tích lũy được không nữa. Một bài hát quá đỗi sang xịn, đúng không?”

Kaya: “Bài này mẹ em cũng thích lắm này. Mẹ bảo hồi mang thai em mẹ toàn mở bài này nghe. Thỉnh thoảng em cảm giác như mình vẫn nhớ mang rợn giai điệu đó từ hồi còn trong bụng mẹ vậy.”

Hanazono: “Thời điểm mẹ em mang thai em… là mười sáu năm trước…”

Akane: “Kaya-chan dừng lại ngay! Misao-san trông như sắp ngất xỉu tới nơi rồi kìa!”

Kurokawa Hisame

TONIGHT / LUNA SEA

Part That’s Holding On / Red

In the End / Black Veil Brides

Makoto: “Đúng như dự đoán, lựa chọn của Kurokawa-san toàn Visual-kei, Metal với Goth nhỉ?”

Kurokawa: “Không phải tôi chỉ nghe mỗi mấy thể loại đó. Tôi chỉ chọn những bài mà mọi người nghĩ là tôi sẽ chọn thôi.”

Akane: “Em hiểu vì sao chị chọn LUNA SEA, nhưng không nghĩ chị lại chọn bài TONIGHT.”

Kurokawa: “Đó là bản phối đỉnh nhất của họ, mà lại chẳng có đoạn solo guitar phức tạp nào. INORAN chỉ rải đúng những nốt trong cùng một quãng tám suốt cả bài, lần đầu nghe tôi đã tưởng mình chết mê vì nó quá ngầu. Đã thế SUGIZO còn dằn mấy hợp âm power chord cháy máy… Kỹ thuật của hai người hòa vào nhau vượt trên mọi giới hạn! Nếu hỏi tôi, thì đó chính là những câu riff guitar vĩ đại nhất.”

Makoto: “Khi nói đến Red, ý chị là ban nhạc Christian Rock của Mỹ đúng không?”

Kurokawa: “Ừ, chính họ. Christian Rock hợp gu tôi lắm – gu thời trang lẫn phong cách của họ đều mang chất Gothic, còn những bản Power Ballad chú trọng vào dàn dây chính là cốt tủy của Visual-kei. Tuy nhiên dù thể loại này có nhiều bài đỉnh cao, nó lại không mấy phổ biến ở Nhật. Giá mà có thêm nhiều người tìm nghe nó…”

Shizuki: “Cảm giác như Kurokawa-san là người duy nhất trả lời đúng kịch bản thì phải…”

Kurokawa: “Hả? Tôi phải trả lời khác đi sao?”

Makoto: “Không, không có gì sai cả! Lý do chị đưa ra rất thuyết phục! Vốn dĩ đâu cần phải cố rặng ra Punchline làm gì!”

Kurokawa: “Thế à? Dù sao thì bài cuối của tôi là một bản Goth Metal khá thuần túy, kiểu bài giúp người ta biết cách thưởng thức Metal. Một số người ghét Black Veil Brides – vì phong cách thời trang, vì cái tên, hay thậm chí chê nhạc của họ dị hợm. Nhưng nếu ai đó ghét họ vì mấy lý do đó, tôi nghĩ ngay từ đầu họ đã không đủ tuổi để nghe Metal rồi.”

Makoto: “Được rồi, có khi chúng ta lại cần một câu chốt tấu hài thật đấy! Nhất là sau khi chị phán một câu xanh rờn ở cuối như thế!”

Komori Tomoe

Symphony No. 8 in F major / Beethoven

Symphony No. 3 in D major / Tchaikovsky

Symphony No. 7 in D minor / Dvořák

Makoto: “Komori-sensei chọn cả ba bản giao hưởng luôn! Cảm ơn cô! Cảm ơn cô rất nhiều ạ!”

Komori: “Ơ… Cái đó có gì đáng để cảm ơn sao em? Cô chỉ chọn ba bài cô muốn tiến cử cho mọi người cùng nghe thôi mà.”

Makoto: “Dạ không, thế là tuyệt lắm rồi. Em chỉ muốn cô biết là em rất trân trọng điều đó thôi.”

Komori: “Ừ thì… cô đoán vậy? Dù sao thì, Bản giao hưởng số 8 của Beethoven thực ra lại là bài ít phổ biến nhất trong bốn bài ít nổi của ông, mặc dù đó là một kiệt tác. Nó còn mở đầu bằng một giai điệu cực kỳ bắt tai nữa, cô chẳng hiểu sao nhiều người lại không thích nó. Giáo sư của cô ngày trước cũng mê bài này lắm, ông cứ cằn nhằn mãi: ‘Cái đứa Nodame đó đáng lẽ phải dùng Bản giao hưởng số 8 chứ không phải Bản số 7 vốn đã quá nổi rồi!’”

Hanazono: “Lý do Bản giao hưởng số 8 không nổi tiếng là vì nó thiếu đi sự u uất mà những người mê Beethoven kỳ vọng ở ông – mấy người đó toàn lũ hướng nội bẩm sinh.”

Komori: “Chờ đã senpai, đừng nói với em là chị phán thẳng câu đó vào mặt giáo sư đấy nhé?”

Hanazono: “Trực tiếp thì không. Cô viết vào bản báo cáo.”

Makoto: “Thế còn tệ hơn! Tự dưng cô lại đặt bút viết ra giấy làm gì?”

Komori: “Chuyện đó bỏ qua đi! Bản giao hưởng số 3 của Tchaikovsky cũng chẳng mấy ai chuộng… Cô cũng chẳng hiểu vì sao, trong khi nó là một tác phẩm tròn trịa hoàn hảo dành cho vũ điệu, chỉ huy bài đó thì sướng phải biết!”

Hanazono: “Lý do cũng tương tự thôi: nó thiếu đi cái u ám mà fan Tchaikovsky thèm khát, cô cho rằng việc ông ấy viết nó ở giọng Rê trưởng là một sai lầm. Nếu cô là nhà xuất bản của ông ấy, cô sẽ bắt đổi sang giọng Rê thứ bằng được. Đoạn intro vốn đã là một khúc nhạc đám tang ở giọng Rê thứ rồi, nên nếu toàn bộ bài hát đều là Rê thứ, độc giả sẽ sướng phát điên lên mất. ‘Ồ, lại một bài nhạc buồn nữa của Tchaikovsky này!’ họ sẽ reo hò như thế đấy.”

Komori: “Ý chị là việc một bài hát có u ám hay không là thước đo duy nhất quyết định độ nổi tiếng của nó sao? Thế còn lựa chọn cuối cùng của em thì sao: Bản giao hưởng số 7 của Dvořák! Bài đó buồn rượi và được viết ở giọng Rê thứ khoái khẩu của chị đấy! Thế sao nó vẫn không nổi tiếng? Hả?!”

Hanazono: “Vì khác với hai người kia, người nghe Dvořák lại kỳ vọng điều ngược lại ở ông ấy: những giai điệu tươi sáng và tràn đầy sức sống.”

Komori: “Loạn hết cả lên rồi!”

Murase Makoto

Hollow Years / Dream Theater

All At Once / Whitney Houston

Daisy / Sada Masashi

Rinko: “Vậy là cuối cùng cũng tới lượt lựa chọn của Murase-kun.”

Akane: “Dream Theater, Whitney Houston, Sada Masashi – đúng là một sự lộn xộn hoàn hảo, chẳng đâu vào đâu cả.”

Shizuki: “Tớ không tìm thấy bất kỳ quy luật nào trong lựa chọn của cậu ấy…”

Kaya: “Ồ, em thấy rồi này: cả ba bài đều là Ballad.”

Akane: “Ừ nhỉ, em nói mới để ý… Đều là kiểu Ballad êm dịu nữa.”

Makoto: “Tớ không biết giải thích sao nữa, nhưng đây là những bài hát chạm đến khoảng sâu thẳm nhất trong tâm hồn tớ. Bài của Dream Theater nằm trong album thứ tư của họ thì phải? Bản thân album đó rất kỳ lạ, những giai điệu Pop đẹp đến nao lòng lại bị kẹp giữa các đoạn Progressive Metal dữ dội, nhưng riêng bài này thì nổi bật hẳn. Có một điều gì đó rất kỳ lạ ở bài hát này, nhưng nghe lại vô cùng tự nhiên… Ứa, tớ chẳng biết mô tả thế nào nữa.”

Shizuki: “Riêng tớ lại thấy dáng vẻ của Makoto-san mỗi khi say sưa nói về âm nhạc mình thích trông kỳ lạ một cách vô cùng đáng yêu.”

Akane: “Cậu đang khen hay đang đá đểu cậu ấy đấy Shizu-chan?”

Makoto: “Ồ xin lỗi, tớ sẽ cố nói năng bình thường lại… Về bài All At Once, thực ra tớ không nhớ mình nghe nó lần đầu ở đâu nữa. Tớ chỉ nhớ giai điệu đó cứ quẩn quanh trong đầu, dù lúc đó tớ còn chẳng biết tên bài hát. Tớ đã phải tìm nó bằng cách ngân nga lại giai điệu, và tớ thực sự ngạc nhiên khi biết nó nằm trong album đầu tay của Whitney Houston.”

Kaya: “Anh đang bịa ra câu chuyện này đấy à Senpai?”

Makoto: “Là thật mà!”

Rinko: “Thế thì kể nốt câu chuyện cậu bịa ra cho bài của Sada Masashi nghe xem nào.”

Makoto: “Tớ có bịa cái gì đâu! Dù sao thì, ông nội tớ thích Sada Masashi; bố tớ thì chỉ nghe Hard Rock, nên mỗi lần về quê chơi tớ lại thấy rất khoan khoái khi được nghe những bài hát nhuốm màu thời gian. Và riêng bài Daisy đã thực sự chạm vào lòng tớ.”

Rinko: “Rồi sao? Punchline của câu chuyện này là gì?”

Makoto: “Làm gì có Punchline nào!”

Rinko: “Sao lại không có? Cậu là người chịu trách nhiệm chốt hạ cho toàn bộ dự án này cơ mà.”

Makoto: “Tớ chỉ muốn giới thiệu mấy bài hát một cách bình thường thôi mà! Nhưng hôm nay đến đây thôi nhé! Cảm ơn mọi người rất nhiều!”!”

Bạn đã đến cuối chương 114.

Không gian đọc của bạn