“Được rồi, đến lượt tôi. Để tôi nhắc lại cho rõ ràng nhé, nếu tôi chơi hết cả bài mà không mắc lỗi nào thì tôi thắng. Cậu đồng ý rồi chứ?”
“Cậu thuộc hết cả bài rồi sao?”
Cô ấy hỏi vặn lại, có lẽ đang thắc mắc không biết tôi đã kịp học thuộc lòng bản nhạc chưa. Tôi lưỡng lự gật đầu.
“Dù sao thì cũng là do tôi tự sáng tác mà. Với cả nó cũng ngắn thôi.”
“Vậy thì để tôi giữ bản nhạc đi. Tôi sẽ kiểm tra xem cậu có đánh sai nốt nào hay không.”
Rinko giật lấy tờ giấy từ tay tôi rồi rút ra một cây bút từ túi áo blazer. Cảm giác lo lắng đột ngột ập đến, tôi đưa lưỡi liếm quanh khoang miệng đang khô khốc rồi nuốt khan một cái để bình tâm lại.
Sẽ ổn thôi, mình làm được mà. Mình đã tập luyện suốt mấy ngày qua rồi, mà đây còn là bản nhạc do chính mình viết ra nữa.
Thế là tôi bắt đầu chơi, nhưng một làn sóng tuyệt vọng chậm rãi bao trùm lấy tâm trí tôi ngay khi bước vào phần trình bày. Tôi không thể ngừng so sánh tiếng đàn của mình với Rinko. Nếu tiếng đàn của cô ấy tựa như một vì sao rực sáng trên bầu trời đêm, thì của tôi chỉ là một bóng đèn điện nhỏ nhoi.
Tại sao dù chơi cùng một bản nhạc, cùng một nhạc cụ mà âm thanh phát ra lại khác biệt đến vậy? Âm sắc của chúng tôi hoàn toàn khác nhau, có lẽ những gì Hanazono-sensei đã nói là đúng…
Nhưng ngay khi bước vào phần phát triển với sự xấu hổ về năng lực bản thân và chỉ cố gắng để không mắc lỗi nào, một niềm vui kì lạ, đầy mâu thuẫn trào dâng trong tâm trí tôi.
Rinko đúng là hàng thật mà, cô ấy có thể tạo ra thứ âm nhạc đặc biệt đến vậy ngay cả trên một chiếc synthesizer cũ kỹ đã ra mắt từ hơn hai mươi năm trước. Việc được nghe cô ấy chơi khiến mọi công sức tôi bỏ ra để bày biện trò này đều trở nên xứng đáng, nhưng… đó càng là lý do để tôi, dù có phải ép mình cũng phải khiến cô ấy thừa nhận thất bại.
Tôi muốn được thấy cô ấy nghiêm túc chơi nhạc bằng cả trái tim dù chỉ một lần mà thôi.
Vượt qua đoạn giữa đầy ức chế giống như đang lội qua một đầm lầy đặc nghẹt rêu phong, nhưng khi xong xuôi, giai điệu dường như trở nên thanh thoát trở lại. Những nốt nhạc tôi đánh chạy dọc các quãng tám cho đến khi tiến gần đến đoạn mà Rinko đã đột ngột dừng lại. Nó giống như đang tiến đến rìa của một vách đá thẳng đứng, nơi mà dù kỹ năng có siêu đẳng đến đâu thì một nghệ sĩ piano cũng phải chùn bước.
Rinko à, câu trả lời của cậu chỉ đúng một phần thôi: phím của synthesizer nhẹ và dễ bấm hơn piano cơ nhiều, điều đó giúp thực hiện kỹ thuật glissando – tức là lướt ngón tay trên phím để chạm tới các nốt xa dễ dàng hơn. Tuy nhiên, với tư cách là một nghệ sĩ piano thuần túy, kinh nghiệm của cậu cũng chỉ dừng lại ở đó.
Trên piano, mỗi phím đàn được liên kết cố định với một nốt cụ thể ở một quãng tám cụ thể thông qua búa gõ; nốt trên 'La' luôn là 'Si', và trên 'Si' luôn là 'Đô'. Khi cố gắng trượt từ 'La' sang 'Rê' theo kiểu glissando, cậu không còn cách nào khác là phải chạm trúng nốt 'Si' và 'Đô' ở giữa. Chắc chắn cậu là người hiểu rõ điều đó nhất.
Đó là lẽ thường tình của piano. Nhưng chúng ta không biểu diễn trên piano mà là synthesizer.
Âm thanh từ các phím của synthesizer được quyết định bởi các dữ liệu điện tử chứ không bị cố định bởi một âm thanh giống nhau. Nói cách khác, lý do duy nhất khiến phím 'Đô' phát ra tiếng 'Đô' khi nhấn xuống chỉ là vì người ta gán cho nó như vậy cho tiện mà thôi.
Và điều đó có nghĩa là việc nốt nào phát ra âm thanh gì hoàn toàn là do mình sắp đặt. Suy cho cùng thì tất cả những gì tôi cần làm chỉ là thay đổi thiết lập bàn phím.
Ngay trước đoạn tremolo, tôi lướt tay trái lên bàn điều khiển rồi thay đổi tông phím đàn. Sample vẫn như vậy, nhưng thứ thay đổi là cách bố trí phím đàn sao cho nốt kết thúc của đoạn tremolo trở nên dễ chạm tới hơn. Tôi không còn cần phải vươn tay qua khoảng cách bốn phím bằng tay phải nữa, nghĩa là không còn phải lo đánh phải các nốt thừa khi đánh tremolo. Thực ra tất cả những gì tôi làm chỉ là dời hợp âm 'Rê' đến nằm ngay cạnh hợp âm 'La'.
Và thế là, trong khi tay trái vẫn tiếp tục đi những quãng tám mạnh mẽ, tay phải của tôi vang lên thanh thoát như tiếng chuông. Đó là đoạn nhạc mà tôi đã dành hàng giờ để luyện tập, và trí nhớ cơ bắp khiến tôi đủ bình tĩnh để liếc nhìn biểu cảm Rinko.
Vẻ mặt vô cảm thông thường của cô ấy ánh lên vệt hồng nhạt, có lẽ mọi ý nghĩ về cuộc đấu này đã tan biến khỏi tâm trí cô. Tiếng đàn của tôi hẳn đã xua tan đi những suy nghĩ ấy, làm rung động sâu bên trong tâm can cô.
Có lẽ chính vì muốn tạo ra và nắm lấy những khoảnh khắc như vậy là lý do tôi chơi nhạc. Cảm giác ấy giống như chạm tới đỉnh cao của hạnh phúc vậy – một thứ hạnh phúc mà ngay cả thiên đường cũng không thể ban cho.
Vầng trán tôi lấm tấm mồ hôi và hơi thở dần hụt hơi khi tiến đến những nốt nhạc cao dần của phần coda. Tôi trút bỏ tất cả cảm xúc dồn nén bấy lâu để tấu lên những nốt nhạc cuối cùng, vang vọng khắp bốn quãng tám bằng cả hai tay.
Ruột gan tôi như đóng băng lại, có một lỗi nhỏ ở đoạn cuối, liệu cô ấy có nhận ra hay không? Tôi muốn kết thúc thật nhanh để che giấu sai sót, nhưng đồng thời, tôi không thể kìm lại khao khát nhâm nhi khoảnh khắc cuối cùng mong manh ấy; những ngón tay run rẩy của tôi chẳng chịu rời khỏi phím đàn.
Rốt cuộc chỉ đến khi những dư âm cuối hoàn toàn tan đi, tôi mới có thể nhấc những ngón tay mình khỏi phím đàn.
Tôi dùng mu bàn tay quẹt đi những giọt mồ hôi trên trán trước khi ngẩng lên đối diện với gương mặt Rinko.
Đôi môi cô ấy bắt đầu mấp máy, nhưng tôi đã nhanh chóng ngắt lời bằng cách lên tiếng trước.
“À, thì… ừm, chuyện vừa nãy ấy, đó chỉ là thiết lập sẵn để thay đổi cách sắp xếp nốt nhạc thôi, nhưng tôi vẫn phải tự tay thay đổi nó và vẫn phải tự đánh đoạn tremolo mà, đúng không? Vậy nên chắc chắn cái đó không được tính là tự động chơi nhạc đâu nhé, cậu biết chứ?”
Tôi cuống cuồng đưa ra những lời bào chữa, một phần vì biết lý lẽ của mình thật vô lý, nhưng phần lớn là để đánh lạc hướng, không cho cô ấy kịp chỉ ra lỗi sai ở đoạn cuối.
“Với lại tôi cũng đâu có nói là mình sẽ chỉ sử dụng mỗi bàn phím đâu, nên thật ra cậu phải tự hiểu lấy khi tôi nói rằng chúng ta sẽ quyết đấu bằng synthesizer chứ.”
Rinko liếc nhìn bộ dạng khó coi của tôi rồi hướng xuống bản nhạc trên tay. Một lúc sau, cô ấy viết gì đó bằng bút rồi gấp nhỏ tờ giấy lại, nhét nó vào trong túi đựng đàn synthesizer.
“Được rồi. Trận này tôi thua.”
“Ý tôi là, tôi biết là cậu không muốn thừa nhận thất bại đâu, nhưng không phải là tôi gian lận - hả?”
“Tôi đã bảo là trận này tôi thua.”
Tôi nuốt ngược những lời định nói vào trong, ngây người nhìn cô ấy. Khuôn mặt cô tái nhợt, tựa như vầng trăng ẩn sau những làn mây mỏng. Tôi chẳng thể đoán được cô đang nghĩ gì.
“Ờ… ừm…”
“Cậu muốn tôi chơi một bài hát do cậu chọn đúng không? Vậy đó là bài gì? Mau kết thúc chuyện này đi cho rồi.”
“À, phải rồi, dĩ nhiên.”
Nhưng thế này có ổn thật không vậy? Để cô ấy cứ thế bỏ qua sao? Chẳng lẽ cô ấy không nhận ra lỗi sai ở đoạn cuối à?
Mà thôi, tôi không nên nghĩ ngợi quá nhiều làm gì; thay vào đó, tôi nên mau chóng nhận lấy phần thưởng trước khi cô ấy đổi ý. Với ý nghĩ đó, tôi lấy chiếc tai nghe đang treo trên chân đế bàn phím, đưa nó cho Rinko sau khi đã cắm dây vào đàn.
Rinko nheo mắt lại, nghiêng đầu đầy khó hiểu.
“Không phải cậu mới là người nên đeo chúng sao? Nếu không thì làm sao cậu nghe được?”
“Tôi đâu có nói người muốn nghe là tôi. Tôi chỉ muốn cậu chơi một bản nhạc do tôi chọn thôi.”
Nhìn cái biểu cảm ngơ ngác của cô ấy, tôi biết ngay là cô ấy vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, đúng như tôi dự tính. Thế nên tôi tiếp tục giải thích:
“Tôi đã suy nghĩ nhiều về những gì cậu nói ngày hôm đó, về việc âm sắc của cậu bị lẫn tạp âm, rồi tiếng đàn thì vô hồn và tẻ nhạt. Thứ tôi có ở đây chính là giải pháp cho tất cả mọi vấn đề đó. Vậy nên cậu cứ chơi một bản nhạc đi. Càng mãnh liệt càng tốt.”
Rinko cau mày một cách ngờ vực nhưng rồi vẫn đón lấy chiếc tai nghe từ tay tôi rồi đeo lên. Cảnh tượng chiếc tai nghe ấy ép lên mái tóc đen óng mượt của cô nàng hẳn đã đánh thức một điều gì đó đặc biệt trong tôi, bất chợt tôi nhận ra bản thân mình đã chết lặng trước khung cảnh ấy.
Cho đến khi nhận ra Rinko đã đặt tay lên phím đàn, tôi đã quên mất không chuyển nguồn âm thanh và trong cơn hốt hoảng, tôi vội vàng nhấn lấy một nút bấm trên bảng điều khiển.
Cô ấy bắt đầu bằng một cú rải hợp âm Đô trưởng lướt trên các phím từ thấp đến cao như thể đang gảy đàn hạc. Có vẻ điều gì đó đã thu hút sự chú ý của cô, bởi Rinko đột ngột dừng lại và chớp mắt với vẻ khó tin.
Cô ấy chơi lại những nốt đó một lần nữa, lần này với một lực chạm nhẹ nhàng hơn hẳn, và rồi lần thứ ba với tốc độ cùng lực chạm mạnh hơn.
“Chuyện này… là sao?”
Rinko quay sang nhìn tôi, đôi mắt lẫn giọng nói đều lộ rõ vẻ bối rối.
“Đây là piano không tạp âm,” tôi trả lời. “Hàng độc quyền do chính tay tôi làm ra đấy. Thay vì thu âm và lấy sample như thông thường, tôi đã dùng phần mềm để tính toán và mô phỏng lại âm thanh của một cây đại dương cầm. Điều đó giúp tạo ra một thứ âm thanh hoàn hảo, bất kể phím đàn được nhấn xuống theo cách nào đi chăng nữa. Và vì thế, ờ… nói cách khác thì…”
Khi thấy gương mặt Rinko đanh lại, tôi khựng lại giữa chừng, vội vàng uốn nắn câu chữ trước khi tiếp lời.
“À, thì… ngay cả một cú chạm phím nhẹ thôi cũng có thể tạo nên âm thanh cực đại luôn.”
Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, vẻ mặt vô cảm của cô ấy đã hiện lên một vết nứt.
Cô ấy quay lại phía bàn phím, nhấn mạnh những ngón tay xuống mạnh đến mức chiếc giá đỡ kêu lên răng rắc. Rồi cô ấy lại làm thế lần nữa. Và lần nữa. Dù âm thanh của cô đã bị cách âm bởi chiếc tai nghe, tôi vẫn có thể nghe thấy những dư âm mờ nhạt của một hợp âm La thứ trải dài suốt bốn quãng tám.
Gương mặt Rinko khi ấy lướt qua đủ mọi cung bậc cảm xúc: từ bàng hoàng, nhẹ nhõm, cho đến… một niềm hy vọng tuyệt vọng.
Tôi đợi cho đến khi cô ấy rời tay khỏi bàn phím mới cất lời.
“Đây chính là âm thanh mà cậu hằng ao ước, đúng chứ?”
Lời nói ấy thốt ra từ miệng tôi hẳn là nghe mỉa mai lắm, mà có lẽ là tôi đang mỉa mai thật. Thế nhưng tôi vẫn tiếp tục.
“Đó là lý do tại sao tôi muốn cậu dùng tai nghe, bởi vì dù cho cậu có tạo ra loại âm thanh thuần khiết đến nhường nào thì bất kỳ tạp âm nào cũng sẽ lọt vào thôi. Giờ thì tôi muốn cậu chơi một thứ gì đó, bất cứ thứ gì cũng được. Kể cả cậu có gõ phím loạn xạ cũng không sao.”
Rinko hít một hơi thật sâu rồi lại cúi nhìn xuống phím đàn, trong khi tôi vẫn tiếp tục quan sát cô ấy từ phía đối diện của nhạc cụ.
Bất chợt tôi nhận ra rằng đây chính là ưu điểm của keyboard điện so với một cây dương cầm – đó là việc có thể ngắm nhìn người nghệ sĩ từ ngay phía chính diện – và trước mắt tôi lúc này chính là minh chứng rạng ngời nhất cho ưu thế ấy: hàng mi dài đổ bóng làm nổi bật lên làn da mi mắt dưới, làn tóc óng ả tựa như mật ong đen chảy xuống áo blazer, và những ngón tay thon dài đang chuẩn bị khắc sâu lên những phím đàn xương trắng.
Trước mắt tôi hiện lên một khung cảnh thoáng qua đẹp đẽ đến độ thời gian như thể ngừng trôi.
Và chẳng bao lâu sau, dòng thời gian ngưng đọng ấy đã bắt đầu trôi trở lại; bàn tay trái của Rinko khẽ cử động, những nốt nhạc ở quãng tám của phím Sol vang lên nhịp nhàng và dịu êm, tựa như cái vuốt ve của người mẹ đang dỗ dành đứa con thơ.
Đây là… cô ấy đang chơi bản nhạc gì vậy?
Khi tai nghe đã được cắm vào và nguồn âm thanh chỉ truyền qua đó, chỉ mình Rinko mới có thể nghe thấy những gì cô ấy đang chơi. Tất cả những gì tôi có thể làm là lặng lẽ dõi theo điệu nhảy thầm lặng của những ngón tay cô trên phím đàn, rồi thử cử động đôi tay mình theo những chuyển động ấy để hình dung ra giai điệu.
Nhưng tôi chẳng thể làm được. Thay vào đó, tôi nín thở và tập trung lắng nghe, cố gắng bắt lấy dù là âm thanh khẽ khàng nhất lọt ra từ kẽ hở giữa lớp đệm tai nghe và đôi tai của Rinko.
Và cuối cùng, tôi đã nghe thấy nó.
Trong một khoảnh khắc, tôi không thể tin vào những gì tai mình vừa bắt gặp: đó không phải một bản nhạc cổ điển, mà là một bản jazz quen thuộc –
God Bless the Child
của Billie Holiday. Thiên tài lập dị Keith Jarrett từng viết một bản phối khí thuần khiết, sâu lắng cho bài hát này, và đã chơi phần đệm piano cùng với Gary Peacock và Jack DeJohnette. Tôi chưa từng mảy may đoán được rằng Rinko, người đã dành phần lớn sự nghiệp piano của mình cho các cuộc thi âm nhạc cổ điển lại chọn một bản nhạc như thế này.
Ah, giá mà tôi có thể cùng lắng nghe. Tôi thực sự muốn giật phăng sợi dây tai nghe ra để cuốn trôi bản thân theo bản nhạc, nhưng… tôi phải kìm lòng lại.
Tôi cấu vào lòng bàn tay mình, tự nhủ rằng trận đấu này không phải để tôi tận hưởng, mà là để Rinko tự lắng nghe chính bản thân mình. Thật tốt khi cô ấy chọn một bản jazz, bởi với jazz người ta sẽ dễ dàng tự do ngẫu hứng, cuốn trôi bản thân theo dòng chảy âm nhạc. Vậy nên tôi sẽ để cô ấy làm đúng như thế: hãy chơi thật tự do, và hãy đánh mất chính mình trong những âm thanh thuần khiết của những dây đàn không chút tạp âm nào.
Và khi cuối cùng làm được điều đó, cô ấy cũng sẽ nhận ra thôi.
Cũng giống như nước tinh khiết 100% thì thật khó uống, thứ âm nhạc không chút tạp âm, không chút biến dạng thì cũng thật khó để lắng nghe.
Và khi khoảnh khắc ấy đến, tôi sẽ với tay lên bảng điều khiển và giải phóng toàn bộ sức mạnh của chiếc EOS B500 để làm biến dạng, vặn xoắn, bẻ cong, thắp lửa và thiêu rụi những âm thanh mà cô ấy đang chìm đắm trong đó. Tôi sẽ tô đè lên bức tranh trắng tinh khôi ấy bằng những lớp sơn dày - những gam màu rực rỡ sẽ khiến cô say lòng trong một bản cocktail của những thanh âm.
Nhưng khoảnh khắc ấy chẳng bao giờ đến.
Khuôn mặt vô cảm của Rinko không lộ lấy một chút thất vọng nào khi cô ấy tiếp tục lắng nghe thứ âm thanh được tinh chỉnh đến mức gần như không có một chút tạp âm nào. Sau một hồi chơi nhạc, cô ấy lắc nhẹ đầu cho chiếc tai nghe rơi xuống. Trong khi tay trái vẫn tiếp tục đánh bản ostinato ở cung Sol trưởng, cô ấy dùng bàn tay phải vừa được giải phóng của mình với tới rồi rút sợi dây kết nối tai nghe với cây đàn ra.
Những âm thanh vốn bị giam cầm trong chiếc tai nghe đột ngột bùng nổ, tuôn trào ra bên ngoài ngay tức khắc.
Tôi dường như cảm thấy những phân tử không khí xung quanh cũng bừng tỉnh theo và rung động theo từng nhịp điệu của bản nhạc. Mùi bê tông ẩm và cỏ cây như nồng nàn hơn, bầu trời phía trên trở nên xanh thẳm đến mức làm mắt tôi nhòe lệ.
Bàn tay phải của Rinko quay trở lại phím đàn, và cô tiếp tục chơi bản
God Bless the Child
với tất cả sự say mê. Tôi thoáng thấy một nụ cười nhẹ trên môi cô và nhận ra cô ấy đã bắt đầu khẽ hát theo lời nhạc.
Rồi Rinko hít một hơi thật sâu, và đoạn ngẫu hứng của cô dần dịu lại, mang một âm hưởng nhẹ nhàng hơn. Bản ostinato cô chơi ở khóa trầm giờ đây nghe như một nhịp tim đều đặn, vang vọng lên từ dưới chân. Tiếng nhạc hòa quyện cùng những âm thanh muôn màu xung quanh chúng tôi – từ tiếng gió thổi, tiếng chim hót đến tiếng lá cây xào xạc – tạo nên một thứ âm thanh đầy rực rỡ và sống động.
“…Tôi đã không hề biết rằng mình có thể kết hợp tất cả những sắc màu âm thanh này lại với nhau.”
Rinko khẽ lẩm bẩm trong khi đôi tay vẫn không ngừng chơi nhạc, cô ấy ngước nhìn bầu trời và nhắm nghiền mắt lại.
“…Tôi hoàn toàn không hề biết, và sẽ chẳng bao giờ biết được nếu không nhờ cái thứ âm thanh tẻ nhạt, chán ngắt của cậu.”
Cô ấy vẫn nói bằng cái giọng điệu gai góc như thường lệ, nhưng lần này nó không làm tôi khó chịu; tôi không bận tâm là bởi mọi thứ đã được sắp đặt như vậy chỉ để cô ấy có thể tự mình thấu hiểu bản thân.
“Chưa từng có thứ nào gọi là ’tạp âm’, đúng không?”
Cứ như thể những lời của Rinko đã trở thành một phần của bản nhạc, và giọng nói của cô ấy đồng điệu với nhịp đập trái tim tôi.
Thế rồi, những ngón tay cô bắt đầu nhảy múa, lướt trên những phím đàn mềm mại, trơn tru với một niềm đam mê mãnh liệt tưởng chừng như sắp bùng cháy. Nhưng dù có nhấn phím mạnh mẽ đến mức nào, những dải phim nhựa nhân tạo của cây đàn vẫn lặng lẽ chấp nhận tất cả để đáp lại bằng những âm thanh kỹ thuật số.
Tuy vậy, synthesizer vẫn có giới hạn của nó, nó không thể đơn giản là che lấp đôi tai và trái tim – linh hồn của ta – rồi phủ lên những tạp âm bằng một màn sương trắng xóa. Không, chừng nào ta còn sống và hít thở, những âm thanh ấy sẽ luôn tồn tại quanh ta, âm thanh của sự sống xung quanh - từ tiếng bước chân và tiếng cười đùa của những học sinh cho đến tiếng động cơ của chiếc xe tải chạy dọc con phố; từ tiếng kêu ngái ngủ của bầy chim tụ tập quanh ngôi đền gần đó, cho đến tiếng xình xịch của những đoàn tàu chạy trên đường ray giữa tiếng còi hiệu giao thông.
Ngay cả trên sân thượng bê tông nhỏ hẹp này cũng đang tràn ngập âm thanh của riêng nó: từng nhành cỏ dại không tên, kiên cường mọc lên từ lớp bê tông nứt nẻ đều tỏa sáng cùng bản nhạc của sự sống - khát khao được tồn tại. Và chính khi ta mở lòng đón nhận tất cả - không có âm thanh nào được gọi là tạp âm cả - lúc đó, thiên đường dường như hiện hữu ngay trước mắt chúng ta.
Tôi cảm thấy nhẹ nhõm đến lạ kỳ, như vừa được gột rửa vậy. Âm nhạc của Rinko đã tạo nên một bong bóng nhỏ hoàn hảo, tách biệt cô ấy khỏi phần còn lại của thế gian. Nhưng dù đã làm tất cả để đến được đây, khi đã đặt chân tới, một cảm giác cô độc bỗng vây lấy tôi. Tôi đứng lặng yên, chỉ khẽ đung đưa theo gió như đám cỏ quanh mình.
Thực sự thì…
Ở trong bong bóng này cũng có nghĩa là tôi đã trở thành một phần của thiên đường ấy.
Liệu có ổn không nếu tôi cứ đứng đây mãi mà chẳng làm gì? Chim chóc, côn trùng, ngay cả đường ray tàu hỏa cũng đang góp tiếng nói của mình, còn tôi thì sao? Chẳng lẽ tôi hài lòng với việc chỉ tiếp nhận âm nhạc như một chiếc bình rỗng?
Và còn bản thân bản nhạc nữa? Đây là
God Bless the Child
mà; lẽ nào tôi cam lòng để nhịp groove này cho một chiếc synthesizer rẻ tiền đơn độc gánh vác sao?
Tôi không cam tâm. Thế nên tôi sẽ tự mình bước vào thế giới ấy.
Tôi nhắm mắt để cảm nhận nhịp độ rõ hơn - khoảng 72 BPM. Tôi chờ đợi một khoảng nghỉ giữa các phân đoạn, rồi nhảy vào với một drum loop được chọn ngẫu nhiên theo bản năng. Nhịp điệu bắt đầu chạy, hòa quyện dịu dàng vào tiếng đàn của Rinko, và giai điệu bắt đầu nảy mầm như một mầm xanh vươn lên trong lớp đất.
Tôi liếc nhìn Rinko, mắt chúng tôi chạm nhau, và tôi vội vã quay đi vì ngượng ngùng.
Nhưng cô ấy không hề ngạc nhiên. Cũng chẳng hề giận dữ. Thậm chí… tôi còn thoáng thấy một nụ cười mỉm trên khuôn mặt ấy.
Nếu đó thực sự là những gì cô ấy đang cảm nhận…
Tôi chen ngang vào khi cô vẫn đang chơi, không chút ngần ngại mà thay đổi hoàn toàn sắc thái của âm thanh. Tôi đẩy hiệu ứng phaser lên mức tối đa, và rồi những âm thanh rực rỡ của cây dương cầm điện tử bùng nổ dưới từng chuyển động nơi đầu ngón tay cô.
Đôi mắt Rinko mở to kinh ngạc trước sự thay đổi đột ngột này, nhưng tôi vẫn chưa dừng lại ở đó. Lợi dụng khoảnh khắc cô còn đang xao nhãng, tôi thiết lập thêm tiếng acoustic bass cho dải âm thấp của keyboard – bởi bản nhạc này sẽ chẳng thể nào trọn vẹn nếu thiếu đi nó, khi mà chỉ riêng tiếng trống thôi là chưa đủ để tạo nên nhịp điệu.
Thế nhưng ai sẽ là người chơi phần đó?
Rinko suy cho cùng cũng chỉ có hai cánh tay, vậy nên câu trả lời rất đơn giản: Là tôi.
Tôi vươn tay về phía những phím đàn. Vì vẫn đang đứng đối diện với Rinko ở phía bên kia bàn phím, tôi buộc phải chơi nhạc cụ theo chiều ngược lại. Nhưng điều đó chẳng thành vấn đề gì. Việc chỉ cần nhấn một nốt đơn duy nhất trên một nhịp độ chậm rãi thế này hoàn toàn nằm trong tầm tay tôi.
Bằng cách đan cài tiếng bass vào giữa những nhịp điệu đơn điệu của chiếc máy, giai đoạn của Rinko như được thổi thêm hồn, trở nên dày dặn và đa tầng hơn. Những nốt đầu tiên tôi chơi khá đơn giản, tôi chỉ việc bám theo từng bước chân cô, nhưng khi đã dần hòa mình vào giai điệu, đôi tay tôi bắt đầu trở nên táo bạo hơn.
Tôi không còn chỉ đánh những nốt cơ bản nữa mà bắt đầu lướt giữa chúng bằng những hợp âm phức tạp hơn. Rinko nhanh chóng bắt kịp ý đồ của tôi, những nốt trụ của cô ấy cũng dần trở nên mạnh mẽ hơn khi cô bắt đầu thêm vào đó những hợp âm đầy mạnh mẽ hơn.
Cuộc chơi giờ đây đã biến thành một màn so tài. Chúng tôi thách thức đối phương đẩy giới hạn đi xa hơn nữa, cho đến khi chỉ cần một phím bấm sai lệch cũng đủ để phá hỏng toàn bộ buổi diễn - tựa như một màn đi dây mạo hiểm mà chỉ cần một bước sẩy chân, cả hai sẽ cùng ngã nhào xuống vực thẳm.
Chúng tôi buộc phải cử động, phải hít thở trong một sự đồng điệu tuyệt đối, đọc thấu lộ trình của đối phương để thay nhau gánh vác trọng trách dẫn dắt bản nhạc này.
Chẳng ai có thể giữ được bình tĩnh lâu khi chơi nhạc như thế này.
Trái tim tôi, những ngón tay tôi – không, từng tế bào trong cơ thể tôi cảm thấy sống động hơn bao giờ hết theo mỗi nốt nhạc vang lên.
Tôi không thể chịu đựng thêm được nữa; tôi với tay tới bảng điều khiển và chuyển sang một âm sắc khác: một nguồn âm trộn lẫn giữa tiếng đàn Rhodes piano vốn đã bị làm nhiễu đến mức vỡ tan với một cây đại dương cầm được nhấn mạnh ở các dải âm cao. Tôi chuyển sang những nốt cao, và âm thanh của bàn phím dần thay đổi, trở nên chặt chẽ và nhạy bén hơn, gần như tiếng của nhạc cụ dây.
Rinko tiếp tục mà không hề do dự, giai điệu của cô ấy lúc thì hòa quyện, lúc lại trở thành phần obbligato cho tôi. Tôi vẫn đứng ở phía bên kia bàn phím và dù việc chơi các nốt nhạc ngẫu hứng khi các phím đàn bị ngược là rất khó khăn, đó không phải cái cớ tôi dừng lại. Giờ đây khi Rinko đã đưa cả hai đi xa đến mức này, tôi sẽ chạy cùng cô ấy cho đến tận cùng thì thôi.
Tuy nhiên, phạm vi năm quãng tám của chiếc EOS B500 đang dần chạm tới giới hạn, và rõ ràng là giới hạn hai mươi tư nốt phát ra đồng thời là quá ít. Những ngón tay của chúng tôi bắt đầu quấn lấy và đan xen vào nhau khi cả hai tranh giành những nốt nhạc chồng lấp.
Sau hơn một trăm đoạn điệp khúc như vậy, một phép màu đã đến: đôi bàn tay của Rinko cào mạnh lên bàn phím với sự cuồng nhiệt khiến mái tóc cô rung động. Ở phía cuối dải phím đó, tay cô bắt đầu chơi một giai điệu lạ lẫm nhưng bằng cách nào đó lại rất quen thuộc với tai tôi.
Tôi ngẩng đầu lên theo phản xạ; tôi thấy khuôn mặt Rinko nhăn lại với một nụ cười mãn nguyện, và tôi nhận ra đó là gì: chính là bản khúc dạo đầu cung La thứ mà tôi đã viết cho cuộc đấu của chúng tôi.
Rinko đã lồng ghép nó vào chuỗi hợp âm của bản
God Bless the Child
. Và không chỉ thực hiện nó một cách mượt mà; tại điểm cao trào của bản phối ngẫu hứng, Rinko dịch chuyển đôi tay một chút và chơi kỹ thuật tremolo "quỷ quái" từng làm khó cô trước đây một cách dễ dàng.
Tôi cảm thấy nghẹt thở, và tất cả những gì tôi có thể làm là lấp đầy khoảng trống ở dải âm giữa bằng những hợp âm dày đặc.
Hóa ra có một cách thực sự để chơi đoạn nhạc tưởng chừng như không thể chơi nổi đó.
Phương pháp này đủ đơn giản: tất cả những gì chúng tôi cần làm là chơi bản nhạc đó cùng nhau. Nhìn vào vị trí của chúng tôi lúc này, thực tế chẳng bao giờ cần phải dày công tạo ra một nguồn âm chuyên dụng làm gì, và việc chấp nhận điều đó khiến tôi cảm thấy mình như đã bại trận, bị giẫm đạp từ trên cao và bị thiêu rụi thành hư vô.
Thế nhưng, tôi vẫn thấy sảng khoái, như thể gánh nặng đã bị đốt cháy hết sau khi hiểu ra điều đó. Những ngón tay tôi dần trở nên nhẹ bẫng.
Tôi cảm giác như mình có thể tiếp tục chơi nhạc cùng Rinko thêm nhiều giờ nữa.
Thú thật, chúng tôi không biết đã chơi trong bao lâu và nếu không vì trận mưa rào đột ngột, có lẽ đã tiếp tục đến tận khuya.
Những giọt nước nhỏ bắt đầu rơi xuống từ bầu trời, để lại những vết ướt trên chiếc EOS B500. Tôi bất chợt cảm thấy chúng chạm vào mu bàn tay và cổ mình rồi theo bản năng, tôi ngừng chơi để nhìn lên bầu trời.
“Nó sẽ bị ướt mất!”
Rinko đột nhiên hét lên. Tôi ngay lập tức tắt máy tổng hợp âm và nhét nó vào túi, vác lên vai trước khi chạy nhanh về phía cửa. Rinko đã chộp lấy cái chân đế và theo sát ngay sau tôi, cả hai chúng tôi chạy ngược vào trong trường học.
Chúng tôi ngồi bệt xuống đầu cầu thang, đặt đống đồ đạc trên tay xuống để lấy lại hơi khi tiếng mưa từ bên ngoài bắt đầu lớn dần.
May mắn thay, có những chiếc khăn tắm trong túi đựng đàn mà tôi dùng để làm lớp đệm thêm, tôi lấy một chiếc đưa cho Rinko. Có vẻ không phải phép nếu cứ nhìn chằm chằm vào một cô gái đang lau mái tóc ướt, vì vậy tôi quay đi và bận rộn với việc cất giữ synthesizer cho đúng cách.
Tôi nghe thấy một tiếng cười khúc khích vang lên từ phía sau.
Tôi quay lại và thấy Rinko đang cười rũ rượi với chiếc khăn trùm trên đầu. Đó là lần đầu tiên tôi thấy cô ấy cười, chưa nói đến việc cười như thế này, và tôi cảm感じ thấy sự căng thẳng biến mất khỏi cơ thể mình. Trước khi kịp nhận ra, tôi cũng đã cười theo.
Và chúng tôi cứ thế cười cùng nhau một lúc, cho đến khi Rinko dừng lại, đứng dậy và ném chiếc khăn trả lại cho tôi. Cô bắt đầu vuốt lại chiếc váy nhăn nhúm của mình trước khi nhìn tôi, không còn cười nữa.
“…Như thế đã đủ tốt với cậu chưa?”
Trong một khoảnh khắc, tôi không hiểu cô ấy có ý gì. Cái gì đủ tốt? Màn trình diễn vừa rồi sao? Đó chỉ là việc chúng tôi chơi nhạc cùng nhau, nên…
Chính lúc đó, tôi nhớ lại trận đấu của chúng tôi.
Dù sao thì, thỏa thuận là nếu tôi thắng, cô ấy sẽ chơi một bài hát mà tôi yêu cầu, và cho đến tận bây giờ, tôi đã hoàn toàn quên sạch việc đó.
“…Ừ, tôi đoán là đủ rồi.”
Tôi không còn quan tâm đến cuộc đấu nữa; thay vào đó, tất cả những gì tôi cảm thấy bây giờ là sự nuối tiếc khi cơn mưa gột rửa mọi dấu vết của thiên đường hạnh phúc ngắn ngủi đó.
“Còn với tôi thì thế là chưa đủ tốt đâu.”
Lời nhận xét đột ngột của Rinko làm tôi ngạc nhiên, và tôi quay sang đối mặt với cô ấy. Dù thấy khuôn mặt vô cảm thường ngày với ánh nhìn lạnh lùng, dò xét, tôi vẫn có thể nhận ra tia sáng nhỏ nhoi của sự sống trong đôi mắt cô.
“Cậu vẫn mặt dày như mọi khi, Murase-kun, và âm thanh thì còn tệ hơn bình thường. Tôi hy vọng lần sau cậu sẽ làm tốt hơn thế.”
Khi Rinko lững thững bước xuống cầu thang, tôi im lặng dõi theo cô trong khi giữ sự thất vọng cho riêng mình.
Cuối cùng, tiếng bước chân của cô nhỏ dần rồi mất hút phía dưới, chỉ còn tiếng mưa xối xả bầu bạn với tôi.


